Đề tài sáng kiến kinh nghiệm
Lớp 5
PHẦN 1. THỰC TRẠNG ĐỀ TÀI
Năm học 2017-2018, tơi được phân cơng phụ trách lớp Năm với 31 học
sinh. Hầu hết học sinh của lớp tơi chủ nhiệm còn rất hạn chế khi làm bài
Tập làm văn. Sau khi nghiên cứu sách giáo khoa Tiếng Việt 4, tơi nhận thấy
học sinh lớp Bốn đã được học văn miêu tả về đồ vật, cây cối, con vật, nhưng
qua khảo sát chất lượng đầu năm của mơn Tiếng Việt với 31 bài tập làm văn
kết quả như sau:
TS
HS
Bài hồn thành tốt
Bài hồn thành
Bài chưa hồn
thành
SL
TL
SL
TL
SL
TL
3
9,67%
21
67,75%
7
Từ thực trạng của lớp, tơi nghĩ cần phải đưa ra những giải pháp để giúp
các em học tốt hơn về văn miêu tả. Qua tìm hiểu sách báo, những sáng kiến
các đồng nghiệp thực hiện năm qua, tơi áp dụng vào việc giảng dạy cho các
em nhằm từng bước nâng cao chất lượng làm văn. Những nợi dung đó là:
- Hướng dẫn học sinh lưu ý khi làm từng kiểu bài văn miêu tả.
- Rèn luyện cho học sinh kĩ năng tìm hiểu đề văn miêu tả.
- Củng cố kiến thức và rèn kĩ năng viết văn cho học sinh.
- Bợc lợ cảm xúc trong bài văn.
PHẦN 3. BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT
I. Hướng dẫn học sinh lưu ý khi làm từng kiểu bài văn miêu tả:
1. Đối với kiểu bài tả người:
Tả người cần lưu ý tả được hai mặt: tả ngoại hình (hình dáng bên
ngồi), tả tính tình (đời sống nợi tâm). Khi tả, phải biết tập trung vào tả
những đường nét ngoại hình tiêu biểu, những cá tính riêng biệt mà ít thấy
hoặc khơng thấy được ở người khác. Nếu miêu tả ngoại hình (dáng người,
làn da, mái tóc, đi đứng...) mà khơng miêu tả nợi tâm (thái đợ, tư tưởng, suy
nghĩ,...) và hành đợng của người được miêu tả thì con người hiện lên trong
bài văn sẽ trở nên đơn điệu, vơ hồn, cứng nhắc. Vì vậy cần đan xen giữa tả
ngoại hình và tính tình để làm nổi rõ c̣c sống nợi tâm, c̣c sống hoạt
đợng của người được tả.
Ví dụ: Trong bài “Bà Tơi”- Tiếng Việt 5- Tập I có đoạn:
“ Bà tơi ngồi cạnh tơi chải đầu. Tóc bà đen và dày kì lạ, phủ kín cả hai
vai, xỗ xuống ngực, xuống đầu gối. Mợt tay khẽ nâng mớ tóc lên và ướm
trên tay, bà đưa mợt cách khó khăn chiếc lược thưa bằng gỗ vào mớ tóc dày.
Giọng bà trầm bổng, ngân nga như tiếng chng. Nó khắc sâu vào trí nhớ
tơi dễ dàng, và như những đố hoa, cũng dịu dàng, rực rỡ, đầy nhựa sống.
Khi bà mỉm cười, hai con ngươi đen sẫm nở ra long lanh, dịu hiền khó tả,...”
Người thực hiện: Lục Thò Á Múi
Trang 2
- Thị giác: Thấy những đám mây biến đổi trước cơn mưa, thấy mưa rơi.
- Xúc giác: Gió bỗng thấy mát lạnh, nhuốm hơi nước.
Người thực hiện: Lục Thò Á Múi
Trang 3
Đề tài sáng kiến kinh nghiệm
Lớp 5
- Khứu giác: Biết được mùi nồng ngai ngái, xa lạ man mác của những
trận mưa đầu mùa.
- Thính giác: Nghe thấy tiếng gió thổi, tiếng mưa rơi, tiếng sấm, tiếng
hót của chào mào.
II. Rèn luyện cho học sinh kĩ năng tìm hiểu đề văn miêu tả:
Ở lớp năm, học sinh được học Tập làm văn miêu tả theo những đề
bài cho trước với những u cầu nhất định. Tìm hiểu đề là kĩ năng đầu tiên
mà học sinh phải tiến hành trong q trình làm bài. Ở đây giáo viên cần giúp
học sinh biết cách xác định u cầu của đề, tránh được sự lúng túng trong
q trình triển khai bài viết, dẫn đến viết xa đề, lạc đề.
Để giúp học sinh thực sự thuần thục kĩ năng tìm hiểu đề văn miêu tả,
cần chú ý hướng dẫn các em mợt số thao tác sau đây khi tìm hiểu đề.
Ví dụ: Đề bài ở tuần 4 lớp Năm như sau:
Tả cảnh mợt buổi sáng (hoặc trưa, chiều) trong mợt vườn cây (hay trong
cơng viên, trên đường phố, trên cánh đồng, nương rẫy).
Với đề bài trên, ẩn chứa 3 u cầu sau:
- u cầu về thể loại của đề là: Miêu tả (thể hiện ở từ “Tả”).
- u cầu về nợi dung là: Buổi sáng (hoặc trưa, chiều) thể hiện ở cụm
từ “cảnh mợt buổi sáng (hoặc trưa, chiều)”.
Ví dụ: Khi dạy bài:“ Cấu tạo của bài văn tả cảnh” tơi cho học sinh ghi
nhớ lại bài “ Cấu tạo bài văn miêu tả cây cối” đã học ở lớp 4 (tuần 22 TV4tập 2), vì cách tả ở hai bài này có những điểm gần gũi. Sau đó, tơi u cầu
các em nhắc lại kiến thức ở phần ghi nhớ bài “Cấu tạo bài văn tả cây cối”.
Nợi dung ghi nhớ này chính là cơ sở để các em thuận lợi học kiến thức mới.
Tơi hướng dẫn các em thực hiện từng bài tập.
Ở bài tập, sau khi phân đoạn bài văn “Hồng hơn trên sơng Hương” và
xác định nợi dung của từng đoạn, có thể u cầu các em thực hiện thêm hai
nhiệm vụ để chuẩn bị cho bài tập 2:
+ Dựa vào cấu tạo bài văn miêu tả cây cối để xác định ba phần: mở bài,
thân bài, kết bài và tìm nợi dung chính từng phần của bài văn tả cảnh
“Hồng hơn trên sơng Hương”( TV5- tập 1).
+ Xác định cách tả, thứ tự tả ở phần thân bài.
Với bài tập 2 tơi dẫn dắt học sinh nhớ lại cách tả, trình tự tả bài “Quang
cảnh làng mạc ngày mùa” (tả màu vàng của các sự vật, con vật, màu đỏ của
Người thực hiện: Lục Thò Á Múi
Trang 5
Đề tài sáng kiến kinh nghiệm
Lớp 5
mấy quả ớt…, tả con người thời tiết trong những ngày mùa, tả lần lượt từng
sự vật đối tượng).
Từ kết quả của bài tập 1 và bài tập 2, từ ghi nhớ về cấu tạo bài văn tả cây
cối đã học được nhắc lại, học sinh rút ra được cấu tạo bài văn tả cảnh. Sau
đó tơi cho các em so sánh cấu tạo của bài văn tả cảnh với bài văn tả cây cối
để nắm vững bài và thấy được sự gần gũi về cấu tạo, cách tả ở thân bài của
hai bài văn này.
2. Về kĩ năng:
+ Mở bài trực tiếp: giới thiệu ngay người hay sự vật định tả mợt
cách cụ thể rõ ràng. Với cách mở bài này giáo viên nên khuyến khích học
sinh có khả năng học văn ở mức hồn thành vận dụng để viết.
Ví dụ: Em có rất nhiều anh chị em nhưng người mà em u q nhất là
bé Lan, năm nay mới hai tuổi.
+ Mở bài theo kiểu gián tiếp: là nói chuyện khác có liên quan rồi
mới tìm ra cái cớ để dẫn vào chuyện hay đối tượng định tả mợt cách sinh
đợng và hấp dẫn.
Ví dụ: Hằng ngày em được tiếp xúc với rất nhiều người, mỗi người đều
mang mợt hình dáng và tính cách khác nhau. Ai cũng để lại trong em những
ấn tượng khác nhau khi giao tiếp. Nhưng đó là những người em khơng thân
thiết lắm nên khơng thể vỗ về, đợng viên và chăm sóc em hằng ngày được.
Chỉ có mẹ là người vĩ đại nhất, mẹ ln u q em.
Với cách mở bài này giáo viên nên khuyến khích học sinh có năng
khiếu vận dụng để viết bài, giúp các em nâng dần khả năng viết văn, phát
triển tâm hồn văn.
+ Mở bài theo cách bợc lợ cảm xúc: là nêu cảm xúc nổi bật; bợc lợ
tình cảm chân thành, u mến... hoặc ngược lại của bản thân người viết về
đối tượng được miêu tả.
Ví dụ: Đường ơi! Đường có nhận ra em khơng? Em là “ Tí con” đây mà.
Hơm nay, sau mấy tháng hè về thăm ngoại, em lại được đặt đơi bàn chân
nhỏ lên mặt đường mát rượi, thân thương.
b. Hướng dẫn học sinh viết phần thân bài:
Thân bài là phần chính của bài văn nên phần này gồm nhiều đoạn
văn và chứa đựng nhiều ý nghĩa quan trọng nhất. Phần thân bài tập trung
miêu tả những nét nổi bật, riêng biệt nhất của đối tượng. Các ý phải được
Người thực hiện: Lục Thò Á Múi
Trang 7
tượng. Trình tự này thường được vận dụng khi tả người.
Người thực hiện: Lục Thò Á Múi
Trang 8
Đề tài sáng kiến kinh nghiệm
Lớp 5
Trong phần thân bài những ý tưởng viết ra cần phải chân thật, đúng
với những điều mình thấy và cảm nhận được từ đối tượng. Điều quan trọng
là các em phải biết chọn lọc những chi tiết tiêu biểu, đặc sắc để đưa vào đó
thì bài văn mới nổi bật được trọng tâm, thốt khỏi bệnh khn sao, máy
móc. Tránh viết mợt cách mơng lung, dễ lạc đề.
Ví dụ: Khi tả hình dáng cơ giáo thì trọng tâm là những nét đặc sắc về
hình dáng của cơ, khơng nên chăm chú tả kĩ những đồ dùng cơ mang như:
giỏ sách, đơi dép,...
Giáo viên nên giúp các em chọn lọc những chi tiết đặc sắc để đưa
vào bài văn.
Ví dụ:
+ Tả bố đang đọc báo thì chọn chi tiết: tư thế ngồi (nằm) mắt
chăm chú vào tờ báo…
Hoặc: + Tả mợt cơn mưa thì tả cảnh nổi bật: bầu trời trước khi mưa,
trong mưa: âm thanh những hạt mưa. Sau mưa: cảnh vật được giợi rửa…
+ Tả mợt dòng sơng q em vào buổi sáng: mặt sơng đón những
tia nắng ấm áp, các phương tiện trên sơng, cảnh hai bên bờ sơng…
+ Tả đường làng vào buổi chiều: hồng hơn bng xuống, khơng
khí dễ chịu, trên đường làng các bác nơng dân đi làm đồng về…
Sau khi tìm được các ý, giáo viên hướng dẫn các em sắp xếp các ý để
VI. Bộc lộ cảm xúc trong bài văn:
Bài văn hay khơng thể thiếu được cảm xúc của người viết. Cảm xúc
khơng chỉ bợc lợ ở phần kết bài mà còn cần thể hiện trong từng câu từng
đoạn của bài văn. Vì vậy, giáo viên nên gợi ý cho học sinh mợt cách cụ thể
trong từng bài.
Ví dụ: Sống với bà, em cảm thấy như thế nào? (Bà gần gũi, chăm sóc
em chu đáo như một bà tiên hiền hậu; muốn mình làm điều gì đó cho bà đỡ
vất vả).
- Được bà chăm sóc hằng ngày, em nghĩ gì? (Tình cảm gần gũi thương
u của bà như chắp cánh cho tơi vững bước trong cuộc đời).
- Dọn dẹp lớp xong, em có cảm giác gì?( Lớp học sạch sẽ, thật mát mẻ).
- Giờ ra chơi kết thúc, trên khn mặt của mọi người thể hiện điều gì?
( Khn mặt ai cũng vui vẻ, rạng rỡ, nhưng nhiều bạn tỏ vẻ luyến tiếc).
Tương tự như vậy, tơi u cầu học sinh đưa ra những suy nghĩ, cảm
xúc, nhận xét trước mợt sự vật hay hiện tượng bất kì. Bài văn của học sinh
hạn chế được nhược điểm khơ khan, liệt kê sự việc, mà thấm đượm cảm xúc
của người viết.
PHẦN 4. KẾT QUẢ
Sau khi áp dụng những kinh nghiệm trên vào việc giảng dạy phân mơn
Tập làm văn, đến cuối học kì I các em đã nắm được mợt số vốn kiến thức
Người thực hiện: Lục Thò Á Múi
Trang 11
Đề tài sáng kiến kinh nghiệm
Lớp 5
nhất định để học có hiệu quả phân mơn Tập làm văn. Cả lớp đều ham thích
mơn học, khơng sợ sệt khi đến tiết Tập làm văn như đầu năm học nữa. Bài
Từ những kết quả đạt được nêu trên, tơi thấy dạy học phân mơn Tập
làm văn ở lớp Năm khơng những chỉ giúp cho học sinh biết vận dụng các
kiến thức đã học vào thực tiễn c̣c sống, mà còn giúp các em phát triển tư
duy, có khả năng sáng tạo trong viết câu, viết đoạn văn hoặc viết bài Tập
làm văn hay đạt kết quả. Diễn biến chất lượng phân mơn Tập làm văn sau
khi áp dụng đề tài này thật đáng phấn khởi, đây là kết quả của mợt q trình
phấn đấu của cơ và trò. Chất lượng phân mơn Tập làm văn đi lên rõ rệt đã
góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng mơn Tiếng Việt của lớp
và của tổ chun mơn.
PHẦN 5. KẾT LUẬN
1. Tóm lược giải pháp
Q trình thực hiện các kĩ năng phân tích đề, tìm ý, quan sát, viết
các phần mở bài, thân bài, kết bài, học sinh được mở rợng hiểu biết về c̣c
sống theo các chủ điểm đã học. Việc phân tích dàn bài, lập dàn ý, chia đoạn
trong bài văn miêu tả, quan sát đối tượng… góp phần phát triển kĩ năng
phân tích tổng hợp, phân loại của học sinh. Tư duy hình tượng của trẻ được
Người thực hiện: Lục Thò Á Múi
Trang 12
Đề tài sáng kiến kinh nghiệm
Lớp 5
rèn luyện nhờ vận dụng các biện pháp nghệ thuật khi tả cảnh và tả người.
Học văn miêu tả, học sinh cũng có điều kiện tiếp cận với vẻ đẹp của con
người, thiên nhiên qua các bài văn, đoạn văn miêu tả điển hình. Khi phân
tích đề văn miêu tả, học sinh lại có dịp hướng tới cái chân, cái thiện, cái mỹ
được định hướng trong các đề bài. Khi quan sát đối tượng miêu tả học sinh
các biện pháp này với các đối tượng đang giảng dạy tại lớp của mình chủ
nhiệm, kết quả đã tạo sự chuyển biến rõ nét của học sinh trong năm học.
Người thực hiện: Lục Thò Á Múi
Trang 14