CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Như chúng ta đã biết ở Tiểu học, môn Tiếng Việt có một vị trí đặc biệt quan
trọng. Nó là môn học hình thành và phát triển cho học sinh các kĩ năng sử
dụng Tiếng Việt để học tập và giao tiếp, góp phần rèn luyện thao tác tư duy,
tạo điều kiện và cơ sở cho học sinh học tốt các môn học khác.
Đặc biệt, môn Tiếng Việt lại có nhiều phân môn khác nhau. Mỗi phân môn
chứa những nội dung, kiến thức nhất định, chúng bổ trợ cho nhau; song phân
môn Tập làm văn là một trong những phân môn quan trọng nhất và khó nhất
đối với học sinh Tiểu học. Nó trang bị kiến thức và rèn luyện kĩ năng sản sinh
ngôn ngữ nói và viết, góp phần cùng với các môn học khác mở rộng vốn từ,
rèn luyện khả năng tư duy, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc, thẩm mĩ nhằm hình
thành nhân cách con người. Ở lớp Bốn, văn miêu tả là dạng bài dựa vào
những căn cứ quan sát được, cảm nhận về đối tượng (cây cối, con vật, đồ vật)
đã để lại ấn tượng. Từ những hình ảnh trực quan sinh động đó chuyển sang tư
duy trừu tượng và sản sinh ngôn ngữ. Đối với học sinh lớp Bốn nói đúng, viết
đúng, diễn đạt mạch lạc đã khó; vậy mà để làm văn hay có cảm xúc, giàu hình
ảnh lại càng khó hơn nhiều. Để dạy tốt phân môn này, đòi hỏi người giáo viên
phải luôn tìm tòi phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực, tổ chức hướng dẫn
các hoạt động linh hoạt nhằm kích thích các em hứng thú học tập, lĩnh hội
được kiến thức có hiệu quả.
Xuất phát từ thực tế như vậy, là giáo viên đứng lớp, tôi luôn không ngừng
nâng cao trình độ, kiến thức chuyên môn và đổi mới phương pháp dạy học
sao cho giảng dạy đạt hiệu quả. Vậy làm thế nào để dạy tốt phân môn Tập làm
văn nhằm góp phần nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt? Vì vậy tôi đã chọn
sáng kiến: “Biện pháp rèn kĩ năng làm văn miêu tả cho học sinh lớp 4
1
Với những mục đích nêu trên, để giúp học sinh có kĩ năng viết văn miêu tả
đạt hiệu quả là việc làm vô cùng cần thiết.
2.2. THỰC TRẠNG
Qua quá trình điều tra học sinh lớp 4A1 nói riêng và học sinh lớp Bốn ở
trường Tiểu học số 2 Phổ Văn nói chung, tôi nhận thấy trình độ học sinh trong
lớp không đồng đều, số lượng học sinh làm văn hay rất ít. Phân môn Tập làm
văn lớp 4 vô cùng khó, mang tính trừu tượng cao nên phần lớn học sinh
không thích học phân môn này.
Học sinh làm bài hời hợt, chung chung; chưa miêu tả để phân biệt đối tượng
được miêu tả này với đối tượng khác. Những bài văn dạng này giống văn kể
hơn là văn miêu tả.
Vốn từ của các em còn nghèo nàn nên dẫn đến diễn đạt lủng củng, dùng từ
trùng lặp, sai nghĩa, sai lỗi chính tả trong bài Tập làm văn.
Nhiều em chưa phân biệt từ ngữ sử dụng trong văn nói và văn viết.
Đa số các em chưa tích cực đọc sách tham khảo để trau dồi cách diễn đạt và
cách hành văn lưu loát hoặc nếu có đọc, các em thường vay mượn ý của sách,
lệ thuộc vào bài mẫu, có thể chép vào làm bài của mình chứ các em chưa biết
vận dụng, liên tưởng một cách sáng tạo và linh hoạt.
Sở dĩ thực trạng học sinh nêu trên tôi thiết nghĩ là do những nguyên nhân
sau:
+ Học sinh:
- Học sinh chưa thực sự thấy yêu thích môn học.
- Học sinh chưa biết quan sát đối tượng được miêu tả hoặc quan sát một
cách qua loa và khi quan sát học sinh không ghi chép lại từng chi tiết cụ thể
nên khi làm bài văn chưa đạt hiệu quả .
- Vốn từ của các em còn nghèo nàn, lại không biết sắp xếp như thế nào cho
bài văn mạch lạc, đảm bảo bố cục và chưa biết cách chọn từ ngữ, hình ảnh
miêu tả.
- Học sinh chưa biết cách lập một dàn bài cụ thể để tả.
Từ đó, tôi nắm chắc từng đối tượng học sinh để đề ra được kế hoạch dạy
học phù hợp, phát triển được năng lực viết văn miêu tả, đồng thời giúp những
em yếu biết vận dụng làm một bài văn miêu tả hoàn chỉnh.
Chẳng hạn: Học sinh năng khiếu viết được bài văn miêu tả đúng bố cục, có
sử dụng từ ngữ giàu hình ảnh, tôi hướng dẫn thêm để học sinh biết sử dụng
nhiều từ ngữ miêu tả giàu hình ảnh và sử dụng các biện pháp nghệ thuật vào
bài để bài viết hay hơn.
4
Cụ thể: Đoạn tả chú gà trống: “Con gà trống ra dáng một con gà trống oai
vệ. Chú khoác bộ lông tía sặc sỡ nhiều màu sắc. Trên đầu đội chiếc mào đỏ
chót. Đôi mắt sáng, con ngươi đưa đi đưa lại. Cái đuôi cao vổng lên. Những
ngón chân có móng vuốt sắc nhọn...(bài viết của em Nguyễn Lê Du NaLớp 4A1).
Tôi khen bài viết của em đã hay, đã biết dùng từ giàu hình ảnh, em cần sử
dụng thêm phép nghệ thuật vào bài. Tôi hướng dẫn viết lại đoạn viết như sau:
Chú gà trống ra dáng một chú gà oai vệ. Chú khoác trên mình một bộ trang
phục màu tía sặc sỡ. Cái mào đỏ chót uốn cong, có nhiều ria nhọn như bông
hoa mào gà. Đôi mắt sáng trong như hai viên ngọc. Cái đuôi cao vổng lên với
những chiếc lông đủ màu như một cái cầu vồng trông thật đẹp mắt. Đôi chân
có móng vuốt sắt nhọn là thứ vũ khí lợi hại của chú.
Còn học sinh yếu, tôi hướng dẫn bước đầu học sinh viết đúng và đủ bố cục
bài văn miêu tả, dùng từ ngữ phù hợp, viết đúng chính tả.
Cụ thể: Nhà em có nuôi một con mèo lông nó màu trắng. Hai con mắt tròn,
nó có bốn chân và cái đuôi. Nó có răng sắc nhọn. Em thích con mèo này. (bài
viết của em Nguyễn Thiên Tài- Lớp 4A1).
Tôi đã hướng dẫn để giúp học sinh viết lại đảm bảo bố cục. Trước tiên, tôi
cho học sinh nhắc lại cấu tạo bài văn miêu tả con vật gồm mấy phần? (ba
phần) và hệ thống cho học sinh từng phần viết như thế nào?(trình bày thành
các đoạn)
Ví dụ: Tả cây xoài: Quan sát kĩ các bộ phận (thân, gốc, cành, lá, hoa,
quả…) hay từng thời kì phát triển của cây (cây non, cây lớn lên và cây trưởng
thành cho quả…) và ích lợi (cho quả, tăng thu nhập cho gia đình….)Ngoài ra
cần sử dụng thêm các giác quan khác như mũi ngửi thấy mùi của xoài như thế
nào?, tay sờ thấy vỏ cây, da của quả như thế nào? Và lưỡi nếm vị của quả ra
sao?...
* Nếu tả con vật: cần quan sát kĩ đặc điểm ngoại hình (bộ lông, mắt, mũi,
chân, đuôi…), thói quen sinh hoạt và một vài hoạt động chính của nó.
Ví dụ: Tả con gà trống: quan sát con gà to cỡ nào ? lông màu gì ? Mào ra
sao ? chân to hay nhỏ, đuôi thế nào ? Thói quen của gà (gáy vào sáng sớm)
6
Hoạt động chính (tìm mồi, chọi nhau với gà khác). Tôi còn hướng dẫn kĩ cho
học sinh sử dụng những giác quan khác nữa để quan sát con vật như tay thì sờ
vào bộ lông cảm thấy thế nào? Tai để nghe tiếng gáy ra sao?...
Đối với việc quan sát, học sinh được học cụ thể một tiết “Luyện tập quan
sát” Giáo viên tổ chức tiết học này thật kĩ và kèm theo hệ thống câu hỏi định
hướng để học sinh biết cách quan sát phát hiện những đặc điểm riêng, phân
biệt đối tượng miêu tả này với đối tượng khác và quan sát thật hiệu quả. Giáo
viên tổ chức cho học sinh quan sát theo nhiều hình thức: tranh ảnh, vật thật
như quan sát đồ chơi (vật thật) quan sát con vật (tranh ảnh hoặc quan sát con
vật trước ở nhà).
2.3.3. Mở rộng vốn từ ngữ và lựa chọn từ ngữ miêu tả
Để giúp học sinh viết văn miêu tả tốt, đòi hỏi phải trang bị cho các em có
vốn từ phong phú, hiểu nghĩa của từ, nhận biết từ phổ thông, từ địa phương,
từ cùng nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ nhiều màu sắc biểu cảm…Để đáp ứng được
nhu cầu như vậy, tôi đã giúp cho học sinh tích lũy vốn từ và biết lựa chọn từ
miêu tả phù hợp. Khi dạy các bài Tập đọc, giúp cho học sinh hiểu nghĩa một
số từ có trong bài, học sinh nắm được nội dung và nghệ thuật của bài đó và
Thân cây to xù xì, rễ cây ăn sâu xuống lòng đất, cành đâm ra tua tủa, hoa
kết lại từng chùm, quả treo lúc lỉu, hương thơm ngào ngạt....
Tả con vật
Chú khoác lên mình bộ áo đẹp; đầu tròn, mắt sáng và tinh, tai vểnh lên để
nghe ngóng, chân nhanh nhẹn, đi lại rất nhẹ nhàng, móng vuốt sắc nhọn là vũ
khí tự vệ và rất lợi hại, khi kiếm được mồi, chú mang về cho con cùng ăn ...
Từ vốn từ mà học sinh đã tích lũy được, tôi hướng dẫn cho học sinh lựa
chọn từ ngữ, hình ảnh khi miêu tả, sử dụng cho phù hợp. Khi trình bày kết
quả quan sát được hoặc khi học sinh luyện viết đoạn, tôi đã uốn nắn, chỉ chỗ
sai cho học sinh ngay khi phát hiện học sinh dùng chưa đúng
Ví dụ: Thân bút màu xanh lá cây, thon thả như búp cây. (sử dụng từ
không phù hợp)
Sửa lại: Thân bút màu xanh lá cây, thon nhỏ như ngón tay em.
8
Ví dụ: Em viết lên trang giấy, nét bút trơn hiện lên những dòng chữ mềm
mềm. (sử dụng từ không phù hợp)
Sửa lại: Em viết lên trang giấy, nét bút trơn hiện lên những dòng chữ đều
đều, mềm mại.
2.3.4. Tìm ý và lập dàn bài
Trước tiên, tôi đã định hướng cho học đọc kĩ đề, xác định thể loại, kiểu bài,
xác định nội dung tả gì? Và thể hiện tư tưởng tình cảm gì vào bài? Đối với bài
văn miêu tả, quan sát đối tượng được miêu tả là cơ sở để học sinh tìm ý. Sau
khi học sinh đã quan sát và có những ghi chép chi tiết về đối tượng miêu tả,
tôi hướng dẫn học sinh tìm ý cho bài văn của mình dựa vào hình ảnh đã quan
sát và lựa chọn hình ảnh để lập dàn ý cho bài văn. Một bài văn hoàn chỉnh là
bài văn phải có cách sắp xếp chặt chẽ. Mặc dù mở bài, thân bài, kết bài là ba
phần riêng song chúng phải có sự thống nhất về ý.
giống như một cuộc tiễn đưa người khách vừa đến thăm “vườn văn” của
mình. Để tạo cho khách sự quyến luyến không muốn rời xa, cuộc tiễn đưa ấy
phải thật tình cảm và chân thành. Muốn vậy, khi viết phần kết bài, giáo viên
hướng dẫn học sinh viết thật cô đọng, ngắn gọn và súc tích, tránh kết thúc một
cách đơn điệu, tẻ nhạt và cộc lốc. Kết bài chính là kết lại, khép lại nội dung
vừa trình bày ở phần thân bài. Vì vậy cần khép bài một cách khéo léo để nó
đọng lại và mở ra trong lòng người đọc những cảm xúc tràn trề, những hình
ảnh đẹp đẽ mà chúng ta đã miêu tả, đã kể trong bài văn của mình.
Ta có thể dùng 2 cách kết bài: Kết bài không mở rộng (Cho biết kết thúc,
không có lời bình luận thêm) và kết bài mở rộng (nói lên tình cảm, cảm xúc
của mình, liên tưởng và có thêm lời bình luận ).
Ví dụ:Tả cái trống trường
Nhờ có anh trống mà giúp cho chúng em thực hiện ra vào lớp đúng giờ. Khi
hết giờ, chúng em tạm biệt anh trống để ra về. (Kết bài không mở rộng-Bài
làm của em Lê Thanh Nhã)
Tiếng trống là nhịp đập thời gian của trường em. Tiếng trống là hiệu lệnh
hoạt động cho tất cả thầy trò trong trường. Theo nhịp trống, chúng em xếp
hàng. Theo nhịp trống, chúng em vào lớp,...Mai đây, em sẽ lớn lên, có thể đi
10
đến bất cứ nơi nào, song tiếng trống trường sẽ mãi mãi đọng lại trong tâm trí
em cùng với những kí ức đẹp đẽ của tuổi học trò. (Kết bài mở rộng-Bài làm
của em Nguyễn Thị Mỹ Lệ)
Ví dụ: Tả đồ chơi em thích
Giáo viên yêu cầu học sinh đọc kĩ đề và hướng dẫn một số câu hỏi: đề bài
yêu cầu gì? Em chọn đồ chơi nào để tả? đồ chơi ấy có đặc điểm gì? Từ đó học
sinh bám vào yêu cầu đề, huy động vốn từ và dựa vào kết quả quan sát được,
lựa chọn những nét nổi bật của đối tượng để miêu tả rõ ràng và đầy đủ.
Dàn ý: * Mở bài: Gấu bông là con vật em yêu thích.
làm sao, ở ngoài sáng mắt xanh biếc, trong đêm tối mắt nó lấp lánh như ánh
lửa”.
2.3.6. Nhận xét, đánh giá và chữa bài
Mỗi dạng bài đều có một tiết trả bài văn viết, tiết này rất quan trọng nhằm
giúp các em thấy được ưu điểm và nhược điểm trong bài viết của mình, của
bạn để học hỏi, trao đổi lẫn nhau, tìm ra cách sửa sai để cùng tiến bộ và qua
đó tôi biết được học sinh hiểu bài và vận dụng thế nào.
* Đánh giá, nhận xét: Tôi tiến hành chấm bài thật kĩ, xác định học sinh làm
đúng bố cục hay chưa? và bố cục có chặt chẽ không? Tôi phát hiện những ưu
điểm của bài văn hay, câu hay, ý hay, dùng từ sáng tạo…và nắm được những
lỗi mắc phải còn tồn tại: dùng từ chưa chính xác, câu văn chưa hoàn chỉnh,
lặp từ, lặp ý…Tôi đánh giá, nhận xét cụ thể vào từng bài của học sinh
Chẳng hạn có những nhận xét như sau :
- Bố cục chặt chẽ, lời văn súc tích, có nhiều hình ảnh hay trong bài. Em cần
phát huy thêm.(học sinh năng khiếu)
- Đảm bảo bố cục, viết thành câu. Em cần sử dụng phép so sánh, nhân hóa
vào bài để bài văn hay hơn.(học sinh trung bình)
- Bài viết còn lủng củng, còn sai lỗi chính tả, viết chưa thành câu. Em cần chú
ý cô hướng dẫn để về nhà viết lại đúng em nhé.(học sinh yếu)
- Bố cục chưa rõ ràng, dùng từ ngữ chưa phù hợp, diễn đạt còn lủng củng. Em
cần chú ý cô hướng dẫn để về nhà viết lại cho đúng. (học sinh yếu)
12
Trong quá trình đánh giá, tôi chọn bài tiêu biểu của lớp và các bài văn hay
năm trước đọc cho học sinh nghe và phân tích những điểm hay để học sinh
học tập.
* Chữa bài: tôi hướng dẫn cho học sinh chữa lỗi
+ Chữa lỗi về dùng từ và sai chính tả: Đưa câu văn của học sinh dùng từ
Cây bút dài bằng gang tay của em. Ngòi bút nhọn, viết ra những nét chữ
thật đều và đẹp.
+Chữa lỗi lạc đề:
Ví dụ:Tả con mèo
13
Chú mèo này thật giỏi. Hễ nó nghe tiếng động của lũ chuột là nó nhảy vồ đến
và chụp ngay chú chuột. Chú chuột này chịu thua và kêu chít chít như mắng
chửi mèo vậy.
Sửa lại: Chú mèo này bắt chuột thật giỏi. Hễ nó nghe tiếng động của lũ
chuột là nó đi nhẹ nhàng đến rình, rồi nhảy vồ đến chụp ngay chú chuột.Thế
là con chuột xấu số đã nằm gọn trong móng vuốt của nó.
2.4. HIỆU QUẢ ĐỀ TÀI:
Năm học 2012-2013 tôi chưa áp dụng đề tài này, tôi tiến hành khảo sát một
bài văn miêu tả đồ vật của lớp 4A2 như sau:
Lớp 4 A2
Số bài
Điểm 9-10
Điểm 7-8
Điểm 5-6
Điểm dưới 5
19
4(19%)
7(33,3%)
8(38,1%)
2(9,5%)
Nhìn chung, các em trong lớp đã viết được bài văn miêu tả đồ vật, đảm bảo
bố cục, lời văn mạch lạc, đặc biệt đã có nhiều em viết bài giàu hình ảnh, sử
dụng câu văn sáng tạo, và nhiều câu đã sử dụng phép nghệ thuật làm cho bài
14
văn sinh động hơn, hay hơn. Tuy nhiên vẫn còn 2 em dưới điểm 5 là vì em
viết còn sai lỗi chính tả và chữ viết của em chưa rõ ràng.
Không những thế khi học đến những bài văn miêu tả con vật và cây cối thì
kết quả được nâng cao dần. Số lượng các em đạt khá, giỏi tăng rõ rệt. Học
sinh hứng thú học tập hơn. Trong giờ học các em tập trung hơn, say sưa cùng
bạn bè quan sát đối tượng cần miêu tả. Tôi rất vui khi thấy có khá nhiều học
sinh đã có cuốn sổ tay riêng để ghi những điều quan sát được và những câu
văn hay, từ ngữ gợi tả, gợi cảm,…Có thể nói rằng học sinh đã không còn ngại
khi học văn miêu tả. Học sinh dùng từ chính xác, sử dụng từ hay biết viết
thành câu, kĩ năng viết văn có tiến bộ, nhiều em viết hay được chọn làm bài
mẫu để đọc trước lớp. Thể loại văn miêu tả được các em thích hơn.
Học sinh có tinh thần hợp tác, biết tôn trọng lắng nghe ý kiến của bạn bè
mình và mạnh dạn nhận xét về bài làm của bạn.
CHƯƠNG 3
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
18
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU
1.1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trang 1
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.1.CƠ SỞ LÍ LUẬN
Trang 2
21
2.2.THỰC TRẠNG
Trang 3
2.3.CÁC BIỆN PHÁP
Trang 4
2.4.HIỆU QUẢ ĐỀ TÀI
Trang 14