Luận văn tốt nghiệp Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân
Lời nói đầu
Với mục tiêu đa đất nớc tiến lên CNXH, Đảng và Nhà nớc ta đang ra sức tạo
lập một cơ sở hạ tầng vững chắc làm nền tảng cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nớc. Do yêu cầu chuyển đổi và phát triển nền kinh tế, các khu công
nghiệp, hệ thống đờng giao thông, cầu cống... đợc xây dựng ngày càng nhiều, với
chất lợng ngày càng cao thể hiện tầm quan trọng và sự lớn mạnh của ngành xây
dựng cơ bản. Mặt khác, muốn tồn tại và phát triển trong môi trờng cạnh tranh khốc
liệt này, mỗi doanh nghiệp đều phải có các biện pháp nâng cao năng lực của bộ
máy quản lý kết hợp với tổ chức điều hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả, sử
dụng hợp lý các yếu tố đầu vào, đảm bảo chất lợng các sản phẩm đầu ra tạo uy tín
đối với khách hàng. Do đó công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm đóng một vai trò hết sức quan trọng trong các doanh nghiệp sản xuất nói
chung và trong các doanh nghiệp xây lắp nói riêng.
Hạch toán đầy đủ, chính xác chi phí sản xuất là cơ sở để tính đúng giá thành
sản phẩm, từ đó tạo cho nhà quản lý có cái nhìn toàn diện về tình hình tài chính của
Công ty để có thể đa ra những quyết định đúng đắn. Điều này ảnh hởng rất lớn đến
sự thành bại của Công ty.
Xuất phát từ ý nghĩa thực tế trên và qua thời gian thực tập, tìm hiểu tình hình
hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Thi công Cơ giới tôi đã quyết định chọn
đề tài: "Hoàn thiện công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm xây lắp tại Công ty Thi công Cơ giới - Tổng Công ty Xây dựng đờng
thuỷ".
Mục tiêu của bài viết này là vận dụng lý luận hạch toán kế toán đã học ở tr-
ờng vào nhu cầu thực hiện về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm tại Công ty Thi công Cơ giới, từ đó xem xét những yêu cầu còn tồn tại nhằm
góp phần nhỏ vào việc hoàn thiện công tác kế toán tại Công ty.
Kết cấu luận văn ngoài lời mở đầu và kết luận, gồm có ba phần:
Nguyễn Phạm Quỳnh Trang -
KT 40b
1
1.1. Đặc điểm của sản phẩm xây lắp.
v Sản phẩm xây lắp là các công trình, hạng mục công trình, vật kiến trúc
có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, mang tính đơn chiếc, thời gian kéo dài và phân
tán Vì vậy, việc tổ chức quản lý và hạch toán nhất thiết phải có dự toán thiết kế và
thi công. Trong suốt quá trình xây lắp phải lấy dự toán làm thớc đo cả về mặt giá trị
và mặt kỹ thuật.
v Sản phẩm xây lắp hoàn thành không thể nhập kho mà đợc giao ngay
cho bên sử dụng theo giá dự toán hoặc giá thoả thuận với đơn vị chủ đầu t từ trớc
(giá đấu thầu). Tiêu thụ chỉ qua thủ tục bàn giao giữa hai bên A&B trên cơ sở kiểm
nhận khối lợng, chất lợng công việc hoàn thành theo đúng thiết kế dự toán đã quy
định. Do đó tính chất hàng hoá của sản phẩm không thể hiện rõ.
v Sản phẩm xây lắp đợc cố định tại nơi sản xuất, địa điểm sản xuất là nơi
tiêu thụ sản phẩm và cũng là nơi tiêu dùng sản phẩm, các điều kiện sản xuất nh thiết
bị thi công, ngời lao động phải th ờng xuyên di chuyển theo địa điểm đặt sản
phẩm nên gây nhiều khó khăn cho công tác quản lý, hạch toán tài sản, vật t (đặc
biệt là khâu kiểm kê) và chịu ảnh hởng của các điều kiện tự nhiên, dễ xảy ra h hỏng
mất mát.
v Sản phẩm xây lắp đợc sử dụng trong thời gian dài nên đòi hỏi phải đảm
bảo thi công đúng theo chất lợng, tiêu chuẩn kỹ thuật nh trong dự toán thiết kế. Khi
công trình hoàn thành, bên chủ đầu t sẽ giữ lại một tỷ lệ nhất định trên giá trị công
trình cho đến khi hết thời hạn bảo hành mới trả cho bên thi công.
Nguyễn Phạm Quỳnh Trang -
KT 40b
3
Luận văn tốt nghiệp Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân
1.2. Đặc điểm công tác kế toán trong đơn vị xây lắp.
Những đặc điểm kinh tế kỹ thuật trên đây có ảnh hởng rất lớn đến công tác
kế toán trong các doanh nghiệp xây lắp thể hiện chủ yếu ở nội dung, phơng pháp,
trình tự hạch toán và cách phân loại chi phí, cơ cấu giá thành sản phẩm. Vì vậy
công tác kế toán ở các doanh nghiệp này cần phải có những đặc trng riêng, vừa phù
tiến hành các hoạt động sản xuất sản phẩm xây lắp trong một thời kỳ nhất định.
Tuy nhiên, khi tiến hành xây dựng không phải tất cả các khoản chi phí đều
Nguyễn Phạm Quỳnh Trang -
KT 40b
4
Luận văn tốt nghiệp Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân
liên quan đến hoạt động sản xuất sản phẩm xây lắp mà còn các khoản chi phí khác
ngoài chi phí sản xuất nh chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí phải trả cho các
khoản tiền phạt về vi phạm hợp đồng, hao hụt vật t ngoài định mức vì thế, chúng
ta cần phải phân biệt đợc sự khác nhau giữa chi phí và chi tiêu.
Chi phí sản xuất chỉ là những khoản chi để tiến hành hoạt động sản xuất trong
một thời kỳ nhất định. Khái niệm này gắn với kỳ hạch toán, có liên quan đến khối l-
ợng sản phẩm sản xuất ra trong kỳ. Ngợc lại, chi tiêu là sự giảm đi đơn thuần các
loại vật t, tài sản, tiền vốn của doanh nghiệp, bất kể nó đợc dùng vào mục đích gì.
Tổng số chi tiêu trong kỳ của doanh nghiệp bao gồm chi tiêu cho quá trình cung
cấp ( chi mua sắm hàng hoá, vật t ) chi tiêu cho quá trình sản xuất- kinh doanh
(chi cho sản xuất, công tác quản lý ) và chi tiêu cho quá trình tiêu thụ (chi vận
chuyển, ). Chi phí và chi tiêu là hai khái niệm khác nhau nh ng có quan hệ mật
thiết với nhau. Chi tiêu là cơ sở phát sinh của chi phí, không có chi tiêu thì không có
chi phí. Chi phí và chi tiêu không những khác nhau về lợng mà còn khác nhau về
thời gian, có những khoản chi tiêu kỳ này nhng không đợc tính vào chi phí ( chi
mua vật liệu nhập kho nhng cha sử dụng) và có những khoản tính vào chi phí kỳ
này nhng thực tế cha chi tiêu. Sở dĩ có sự khác nhau giữa chi phí và chi tiêu trong
doanh nghiệp là do đặc điểm, tính chất vận động và phơng thức chuyển dịch giá trị
của từng loại tài sản vào quá trình sản xuất và yêu cầu kỹ thuật hạch toán chúng.
2.2. Bản chất của giá thành sản phẩm xây lắp.
Trong sản xuất, chi phí chỉ thể hiện sự hao phí. Để đánh giá chất lợng sản xuất
kinh doanh của các tổ chức kinh tế, chi phí phải đợc xem xét trong mối quan hệ
chặt chẽ với kết quả sản xuất. Quan hệ này đã hình thành nên giá thành sản phẩm
và đây cũng là vấn đề cơ bản của quá trình sản xuất.
kỳ thì giá thành lại là sự tổng hợp các khoản chi phí gắn liền với việc sản xuất và
hoàn thành một khối lợng công việc xây lắp nhất định để nghiệm thu, bàn giao. Giá
thành không bao gồm những khoản chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ, những khoản
chi phí đã chi ra nhng chờ phân bổ ở kỳ sau. Nhng nó lại bao gồm chi phí sản xuất
dở dang kỳ trớc chuyển sang, những chi phí trích trớc nhng thực tế cha phát sinh và
những khoản chi phí kỳ trớc chuyển sang phân bổ cho kỳ này. Chi phí sản xuất hợp
thành giá thành sản phẩm nhng không phải toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh trong
kỳ đều tính vào giá thành sản phẩm. Nh vậy, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
có mối quan hệ mật thiết với nhau mặc dù có những mặt khác nhau. Sự tiết kiệm
hay lãng phí chi phí sản xuất đều có tác động trực tiếp đến việc giảm, tăng giá thành
sản phẩm. Quản lý giá thành sản phẩm bao giờ cũng gắn liền với quản lý chi phí
sản xuất. Vì vậy các doanh nghiệp cần có các biện pháp để tiết kiệm chi phí sản
xuất hạ giá thành sản phẩm.
3. Phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây
lắp.
3.1. Phân loại chi phí sản xuất.
Xét về mặt lý luận cũng nh thực tiễn, chi phí của các doanh nghiệp kinh
doanh xây lắp có nhiều chủng loại khác nhau, nội dung kinh tế khác nhau. Do vậy
cần thiết phải phân loại chi phí nhằm tạo thuận lợi cho công tác quản lý và hạch
toán chi phí.Phân loại chi phí sản xuất một cách đúng đắn có ý nghĩa rất lớn trong
việc nâng cao chất lợng hạch toán chi phí sản xuất, phát huy đợc chức năng kiểm
tra của kế toán. Thông thờng, phân loại chi phí đợc áp dụng theo đặc điểm của sản
xuất kinh doanh, cơ cấu quản lý của doanh nghiệp.
3.1.1. Phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố.
Cách phân loại này nhằm phục vụ cho việc tập hợp, quản lý các chi phí theo
Nguyễn Phạm Quỳnh Trang -
KT 40b
6
Luận văn tốt nghiệp Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân
nội dung kinh tế ban đầu mà không xét đến công việc cụ thể, địa điểm phát sinh chi
ỹ
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
ỹ
Chi phí nhân công trực tiếp
ỹ
Chi phí sử dụng máy thi công
ỹ
Chi phí sản xuất chung
Nh vậy phân loại chi phí theo khoản mục giá thành có tác dụng phục vụ cho
việc quản lý chi phí theo định mức, cung cấp số liệu cho công tác tính giá thành, lập
kế hoạch định mức cho kỳ sau.
3.1.3. Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ giữa chi phí sản xuất
và quy mô sản xuất.
Để thuận lợi cho việc lập kế hoạch và điều tra chi phí, đồng thời làm căn cứ
để ký kết các hợp đồng xây dựng, toàn bộ chi phí sản xuất đợc chia thành: Biến phí
và định phí.
ỹ
Biến phí: Là những chi phí biến đổi về tổng số, về tỷ lệ so với khối lợng
Nguyễn Phạm Quỳnh Trang -
KT 40b
7
Luận văn tốt nghiệp Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân
công việc hoàn thành. Chẳng hạn chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công,
ỹ
Định phí: Là những chi phí không đổi về tổng số so với khối lợng công việc
hoàn thành ví dụ chi phí khấu hao TSCĐ,
3.1.4. Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ với đối tợng chịu phí
= -
Với doanh nghiệp không có giá dự toán thì giá thành kế hoạch đợc xác định
Nguyễn Phạm Quỳnh Trang -
KT 40b
8
Luận văn tốt nghiệp Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân
trên cơ sở giá thành thực tế năm trớc và các định mức kỹ thuật của doanh nghiệp.
Giá thành kế hoạch là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp, là cơ sở đánh giá
tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và hạ giá thành của doanh nghiệp.
3.2.3. Giá thành thực tế.
Giá thành thực tế là toàn bộ các khoản chi phí sản xuất đợc biểu hiện bằng
tiền mà doanh nghiệp xây lắp đã bỏ ra để hoàn thành một khối lợng xây lắp nhất
định. Loại chi phí này bao gồm các chi phí theo định mức, vợt định mức và các chi
phí khác nh các khoản thiệt hại trong sản xuất, các khoản bội chi, hao hụt vật t
Đó là những khoản chi thực tế theo khoản mục, cho phép tính giá thành và đợc xác
định vào cuối kỳ sản xuất kinh doanh.
Ngoài ra, các doanh nghiệp còn có các phơng pháp phân loại giá thành sản
phẩm xây lắp nh sau:
ỹ
Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp theo phạm vi tính giá thành
+ Giá thành hoàn chỉnh
+ Giá thành không hoàn chỉnh
ỹ
Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp theo phạm vi của chỉ tiêu giá
thành sản phẩm xây lắp
+ Giá thành sản xuất
+ Giá thành toàn bộ
4. ý nghĩa, nhiệm vụ của việc tập hợp chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm xây lắp.
Việc hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm có vai trò rất
Tính chất sản xuất và quy trình sản xuất đơn giản hay phức tạp, quy
trình công nghệ liên tục hay song song.
Loại hình sản xuất đơn chiếc hay hàng loạt.
Yêu cầu trình độ quản lý của doanh nghiệp.
Đơn vị tính giá thành trong doanh nghiệp.
Việc lựa chọn đối tợng tập hợp chi phí sản xuất ở từng doanh nghiệp có sự
khác nhau. Điều đó phụ thuộc vào đặc điểm tình hình tổ chức kinh doanh, yêu cầu
và trình độ quản lý, cũng nh chu trình công nghệ sản xuất sản phẩm của doanh
nghiệp. Mặt khác sản phẩm xây lắp có chu trình công nghệ phức tạp, loại hình sản
phẩm đơn chiếc, thời gian thi công dài nên tuỳ thuộc vào công việc cụ thể và trình
độ quản lý của doanh nghiệp mà đối tợng hạch toán chi phí khác nhau. Đối tợng tập
hợp chi phí có thể là:
Công trình
Hạng mục công trình
Đơn đặt hàng
Từng giai đoạn công việc cụ thể.
Việc xác định đối tợng tập hợp chi phí sản xuất là khâu đầu tiên quan trọng
cần thiết của công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất. Xác định đúng đối tợng
hạch toán, tập hợp chính xác các khoản chi phí phát sinh phù hợp với đặc điểm tổ
chức và sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mới giúp cho tổ chức công tác kế
toán tốt, phục vụ cho việc tăng cờng quản lý sản xuất, hạch toán kinh tế trong doanh
nghiệp và tính toán giá thành kịp thời chính xác.
5.2. Đối tợng tính giá thành sản phẩm xây lắp và kỳ tính giá
thành.
Xác định đối tợng tính giá thành là công việc đầu tiên trong công tác tính giá
thành sản phẩm. Trong ngành xây dựng cơ bản, do tổ chức sản xuất mang tính đơn
chiếc, mỗi sản phẩm xây lắp đều có dự toán, thiết kế riêng nên đối tợng tính giá
Nguyễn Phạm Quỳnh Trang -
KT 40b
10
quả của quá trình sản xuất. Một đối tợng tập hợp chi phí có thể bao gồm nhiều đối
tợng tính giá thành.
Tóm lại, đối tợng tính giá thành là căn cứ để xác định đối tợng tập hợp chi
phí và đối tợng tập hợp chi phí là cơ sở để xác định chính xác giá thành.
6. Ph ơng pháp tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm xây lắp.
6.1. Phơng pháp tập hợp chi phí sản xuất.
Phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất xây lắp là một hệ thống các phơng
pháp đợc sử dụng để tập hợp và phân loại chi phí sản xuất phát sinh trong phạm vi
giới hạn của đối tợng hạch toán chi phí. Phơng pháp hạch toán chi phí đợc hình
Nguyễn Phạm Quỳnh Trang -
KT 40b
11
Luận văn tốt nghiệp Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân
thành trong sự phụ thuộc với đối tợng hạch toán chi phí. Với mỗi đối tợng cụ thể, kế
toán sẽ xác định phơng pháp thích hợp. Nh vậy, trong doanh nghiệp xây lắp có
những phơng pháp hạch toán sau:
6.1.1. Phơng pháp tập hợp chi phí sản xuất theo công trình hay hạng
mục công trình hoàn thành.
áp dụng khi đối tợng hạch toán chi phí của doanh nghiệp là toàn bộ công
trình hay hạng mục công trình. Chi phí phát sinh trong kỳ liên quan đến hạng mục
hay nhóm công trình nào thì tập hợp cho hạng mục hay công trình đó theo phơng
pháp trực tiếp hay gián tiếp.
6.1.2. Phơng pháp tập hợp chi phí sản xuất theo đơn đặt hàng
Trong kỳ, chi phí phát sinh sẽ đợc tập hợp và phân loại theo đơn đặt hàng
riêng biệt. Khi đơn đặt hàng hoàn thành thì tổng số chi phí phát sinh kể từ khi hoàn
thành chính là giá thành thực tế của đơn đặt hàng đó.
6.1.3. Phơng pháp tập hợp chi phí sản xuất theo đơn vị hoặc khu vực thi
công.
Các chi phí phát sinh đợc tập hợp theo từng đơn vị hoặc khu vực thi công,
6.2.1. Phơng pháp tính giá thành trực tiếp
Phơng pháp này đợc áp dụng chủ yếu trong các doanh nghiệp xây lắp. Do sản
phẩm xây lắp đơn chiếc nên đối tợng tập hợp chi phí sản xuất phải phù hợp với đối
tợng tính giá thành.
Giá thành sản phẩm đợc tính theo công thức sau:
= + -
Trong trờng hợp chi phí sản xuất tập hợp cho cả công trình nhng riêng giá
thành thực tế phải tính riêng cho từng hạng mục công trình, kế toán có thể căn cứ
vào chi phí sản xuất của cả nhóm và hệ số kinh tế- kỹ thuật đã quy định cho từng
hạng mục công trình để tính giá thành thực tế cho hạng mục công trình đó.
= x
Trong đó:
Tổng chi phí thực tế của cả công trình
Tổng dự toán của tất cả các HMCT
6.2.2. Phơng pháp tổng cộng chi phí
Phơng pháp này áp dụng cho doanh nghiệp xây lắp những công trình lớn hay
quá trình xây lắp có thể đợc thực hiện bởi các đội thi công khác nhau. Đối tợng tập
hợp chi phí sản xuất là từng đội thi công. Đối tợng tính giá thành sản phẩm là sản
phẩm cuối cùng.
Giá thành sản phẩm đợc tính theo công thức sau:
Z= D đk+ C1+ C2+ + Cn- D ck
Trong đó C1, C2, , Cn là chi phí sản xuất ở từng đội thi công, từng hạng
mục công trình.
6.2.3. Phơng pháp tính giá thành theo định mức.
Mục đích của phơng pháp này là kịp thời vạch ra các chi phí sản xuất thoát ly
với mục đích tăng cờng tính kiểm tra và phân tích số liệu kế toán chi phí và giá
thành. Đồng thời cũng tạo điều kiện cho việc tính giá thành đợc đơn giản và cung
cấp số liệu một cách kịp thời. Nội dung của phơng pháp này là:
Căn cứ vào định mức kinh tế kỹ thuật hiện hành và dự toán chi phí sản
Nguyễn Phạm Quỳnh Trang -
phí khi đối tợng hạch toán chi phí là các giai đoạn công việc. Hoặc kết hợp phơng
pháp tính trực tiếp với các phơng pháp hệ số, tỷ lệ khi đối tợng hạch toán là nhóm
nhà cửa, vật kiến trúc, hạng mục công trình xây lắp.
Trên đây là các phơng pháp tính giá thành phổ biến tại các doanh nghiệp xây
lắp. Tuy nhiên việc áp dụng phơng pháp tính giá thành nào cũng phải dựa trên cơ sở
thực tế phát sinh ở doanh nghiệp nh trình độ tổ chức quản lý, sản xuất, trình độ tổ
chức công tác kế toán và việc áp dụng công nghệ mới
7. Hạch toán ban đầu chi phí sản xuất
Đối với công tác hạch toán ban đầu chi phí sản xuất, chứng từ kế toán sử
dụng bao gồm:
v Chứng từ liên quan tới chi phí vật t: Bảng phân bổ vật liệu hoặc bảng kê
xuất vật liệu
Nguyễn Phạm Quỳnh Trang -
KT 40b
14
Luận văn tốt nghiệp Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân
v Chứng từ liên quan tới chi phí lơng: Bảng phân bổ tiền lơng
v Chứng từ liên quan tới chi phí về sử dụng TSCĐ: Bảng phân bổ khấu hao
TSCĐ
Ngoài ra, còn có các chứng từ khác nh: Các loại hoá đơn (Hoá đơn GTGT,
hoá đơn tiền điện, nớc, ), phiếu chi, giấy báo nợ của ngân hàng, chứng từ thanh
toán hoàn ứng, bảng chấm công
Theo nguyên tắc, chứng từ phải lập theo đúng quy định trong chế độ, và ghi
chép đầy đủ, kịp thời, đúng với sự thực nghiệp vụ kinh tế- tài chính phát sinh.
Chứng từ gốc do đơn vị lập ra hoặc từ bên ngoài vào đều phải tập trung vào
bộ phận kế toán đơn vị. Bộ phận kế toán kiểm tra kỹ những chứng từ đó và chỉ sau
khi kiểm tra, xác minh là đúng thì mới dùng những chứng từ đó để ghi sổ kế toán
Tổ chức chứng từ hợp lý, khoa học không những đảm bảo quản lý chặt chẽ
các nghiệp vụ kinh tế phát sinh (vật t, tài sản...) mà còn tạo ra đợc hệ thống bằng
chứng để giải quyết tranh chấp trong quan hệ hợp đồng, hành chính, pháp luật.
Luận văn tốt nghiệp Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân
SDĐK
Phát sinh trong kỳ
Ghi có TK
SDCK
9. Hạch toán tổng hợp chi phí sản xuất
Trong nền kinh tế thị trờng, kế toán chi phí sản xuất không chỉ cung cấp số
liệu phục vụ việc tính giá thành sản phẩm mà còn cung cấp thông tin cho việc
kiểm tra, kiểm soát chi phí trong quá trình sản xuất giúp các nhà quản trị có
quyết định đúng đắn tiết kiệm và nâng cao hiệu quả của chi phí.
Theo chế độ quy định, hạch toán chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp
theo phơng pháp kê khai thờng xuyên (không áp dụng KKĐK). Tất cả các nghiệp
vụ kinh tế khi phát sinh, đặc biệt là các nghiệp vụ hàng tồn kho đều đợc phản ánh
kịp thời và đầy đủ trên các tài khoản có liên quan. Hạch toán chi phí sản xuất theo
phơng pháp KKTX cho phép kiểm soát hàng ngày và tại bất kỳ thời điểm nào các
hoạt động từ xuất kho tới nhập kho và tồn kho vật t hàng hoá, thành phẩm
9.1. Hạch toán tổng hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm toàn bộ vật liệu chính (gạch, cát, xi
măng ) vật liệu phụ (đinh, vít, gỗ ) các cấu kiện (bê tông, sắt, thép )
các bộ phận rời lẻ và các vật liệu khác dùng cho việc xây dựng, lắp đặt các công
trình (trừ vật liệu dùng cho máy thi công và quản lý đội, phân xởng). Chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp là chi phí chiếm tỉ trọng lớn nhất trong chi phí sản xuất xây
lắp ( khoảng từ 70%- 80%).
9.1.1. Tài khoản sử dụng và nội dung phản ánh.
Để theo dõi các khoản chi phí nguyên vật liệu trực tiếp kế toán sử dụng tài
khoản 621 Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
Tài khoản này dùng để phản ánh các chi phí nguyên vật liệu liên quan trực
tiếp đến việc xây dựng, lắp đặt (công trình, hạng mục công trình, các giai đoạn công
việc, khối lợng xây lắp có dự toán riêng). Đối với các thiết bị đa vào lắp đặt do chủ
đầu t bàn giao không phản ánh vào TK này mà phản ánh vào TK 002 vật t, hàng
17
Luận văn tốt nghiệp Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân
9.2. Hạch toán tổng hợp chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp là toàn bộ những khoản tiền lơng, các khoản phụ
cấp lơng, lơng phụ có tính chất ổn định phải trả cho công nhân trực tiếp xây lắp các
công trình, nhân công phục vụ thi công (nh công nhân vận chuyển, bốc dỡ vật t
trong mặt bằng xây lắp và công trình chuẩn bị thi công, thu dọn hiện trờng). Chi phí
nhân công trực tiếp không bao gồm tiền lơng công nhân điều khiển và phục vụ máy
thi công, tiền lơng công nhân vận chuyển ngoài cự ly, cũng nh các khoản trích theo
lơng (BHXH,BHYT,KPCĐ) tính trên lơng công nhân trực tiếp thi công.
Ngoài ra, các khoản chi phí về tiền lơng, tiền công, các khoản phụ cấp của
nhân viên quản lý đội cũng không đợc tính vào chi phí nhân công trực tiếp.
9.2.1. Tài khoản sử dụng và nội dung phản ánh.
Để theo dõi các khoản chi phí nhân công trực tiếp, kế toán sử dụng tài khoản
622 Chi phí nhân công trực tiếp .
Tài khoản này dùng để tập hợp và kết chuyển chi phí tiền lơng của công nhân
sản xuất thực tế phát sinh trong kỳ liên quan đến đối tợng hạch toán chi phí sản xuất
và tính giá thành.
TK 622 không có số d cuối kỳ và đợc mở chi tiết cho từng đối tợng tập hợp
chi phí.
9.2.3. Phơng pháp hạch toán chi phí nhân công trực tiếp.
Chi phí nhân công trực tiếp đợc tính vào giá thành chủ yếu theo phơng pháp
trực tiếp. Trờng hợp chi phí nhân công trực tiếp có liên quan đến nhiều đối tợng tập
hợp chi phí thì phải phân bổ cho từng đối tợng chịu phí. Có thể phân bổ theo tiêu
thức: định mức tiền lơng của mỗi công trình hay hệ số tỷ lệ với khối lợng xây lắp
hoàn thành.
Sơ đồ 2: Sơ đồ hạch toán chi phí nhân công trực tiếp.
Nguyễn Phạm Quỳnh Trang -
KT 40b
18
NguyÔn Ph¹m Quúnh Trang -
KT 40b
20
Luận văn tốt nghiệp Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân
Sơ đồ 3: Sơ đồ hạch toán chi phí sử dụng máy thi công
.
ỉ
Trờng hợp từng đội xây lắp có máy thi công riêng.
Trờng hợp này các chi phí có liên quan đến máy thi công đợc tập hợp riêng,
cuối kỳ phân bổ hoặc kết chuyển theo từng đối tợng. Chi phí sử dụng máy thi công
sẽ hạch toán theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 4: Sơ đồ hạch toán chi phí sử dụng máy thi công
Nguyễn Phạm Quỳnh Trang -
KT 40b
21
Luận văn tốt nghiệp Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân
ỉ
Trờng hợp Công ty có tổ chức đội máy thi công riêng
Toàn bộ chi phí liên quan trực tiếp đến đội máy thi công đợc tập hợp riêng
trên các tài khoản 621, 622, 627. Cuối kỳ tổng hợp chi phí vào tài khoản 154 để tính
giá thành ca máy (giờ máy) từ đó xác định giá trị mà đội máy thi công phục vụ cho
từng đối tợng.
s
Nếu doanh nghiệp thực hiện theo phơng thức cung cấp lao vụ máy lẫn
nhau giữa các bộ phận, kế toán ghi:
Nợ TK 623 Giá trị của đội máy thi công phục vụ cho các đối tợng.
Có TK 154 (1543) Chi tiết theo đội máy thi công.
s
Nếu doanh nghiệp thực hiện theo phơng thức bán lao vụ giữa các bộ
phận nội bộ
TK 627
TK 133
Ph?n b? v?o chi ph? s?n xu?t chung
Ph?n b? v?o chi ph? qu?n l? DN
TK 642
Luận văn tốt nghiệp Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân
9.4.1. TK sử dụng và nội dung phản ánh.
Để theo dõi các khoản chi phí trả trớc, kế toán sử dụng TK 142 chi phí trả
trớc
TK142 đợc chi tiết làm hai tiểu khoản:
TK1421: Chi phí trả trớc
TK1422: Chi phí chờ kết chuyển
9.4.2. Phơng pháp hạch toán chi phí trả trớc
Về nguyên tắc, các khoản chi phí trả trớc phải đợc phân bổ hết cho các đối t-
ợng chịu phí trong kỳ. Việc tính và phân bổ chi phí trả trớc đã phát sinh vào các đối
tợng hạch toán phải đợc kế hoạch hoá chặt chẽ trên cơ sở các dự toán chi phí và kế
hoạch phân bổ chi phí
Sơ đồ 5: Sơ đồ hạch toán chi phí trả trớc
9.5. Hạch toán chi phí phải trả
Chi phí phải trả (còn gọi là chi phí trích trớc) là những khoản chi phí thực tế
cha phát sinh nhng đợc ghi nhận là chi phí của kỳ hạch toán (nh chi phí bảo hành
sản phẩm có thể dự tính trớc, thiệt hại ngừng sản xuất trong kế hoạch ). Đây là
những khoản chi phí trong kế hoạch của đơn vị mà do tính chất hoặc yêu cầu quản
lý nên đợc tính trớc vào chi phí sản xuất cho các đối tợng chịu phí nhằm bảo đảm
cho giá thành sản phẩm.
9.5.1. Tài khoản sử dụng và nội dung phản ánh
Các khoản chi phí phải trả đợc theo dõi, phản ánh trên TK 335 chi phí phải
Nguyễn Phạm Quỳnh Trang -
KT 40b
23
Thiệt hại trong sản xuất là hiện tợng thờng xảy ra trong quá trình sản xuất.
Có thể do chủ quan của con ngời nh tay nghề kém, tinh thần trách nhiệm, ý thức
chấp hành nội quy, kỷ luật công tác cha nghiêm Cũng có thể do khách quan nh
máy móc thiết bị của doanh nghiệp quá cũ cha đợc thay thế thiết bị mới, hiện đại
hoặc do thiên tai Có khi là do nguyên nhân của cả hai chủ quan và khách quan nh
sử dụng loại nguyên vật liệu cha đúng tiêu chuẩn thiết kế và thu mua không phân
biệt đợc chủng loại vật liệu hoặc thực tế thị trờng chỉ có một loại nên không thể lựa
chọn Thiệt hại trong sản xuất xây lắp theo quy định của chế độ kế toán bao gồm:
thiệt hại ngừng sản xuất và thiệt hại phá đi làm lại. Việc hạch toán thiệt hại ngừng
sản xuất giống nh trong doanh nghiệp công nghiệp. Đối với thiệt hại do phá đi làm
lại kế toán cần mở sổ theo dõi riêng
9.7.1. Đối với thiệt hại về ngừng sản xuất
Trong thời gian ngừng sản xuất vì những nguyên nhân nh thiên tai, thiếu
nguyên, vật liệu, hỏng máy, mất điện, sữa chữa tài sản , các doanh nghiệp vẫn
phải bỏ ra một khoản chi phí để duy trì hoạt động nh chi phí tiền công lao
Nguyễn Phạm Quỳnh Trang -
KT 40b
25