Thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công trên địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ) - Pdf 51

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN TÀI

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI
ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI - 2018


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN TÀI

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI
ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Ngành: Chính sách công
Mã số: 8.34.04.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN:

PGS.TS. Hồ Việt Hạnh

HÀ NỘI - 2018

với người có công, chính sách ưu đãi về kinh tế, chính sách trợ cấp... đã được

1


bđó cân trọng tâmhành và thực hiện. Như chúng ta đã biết, đối với người có
công ưu đãi và chính sách ưu đãi đối với người có công ưu đãi có vai trò vô

cùng cuộc sống cần trọng tâm hơn cân trọng tâmtrọng đối với mỗi người. Đối
với những người có công, nhất là những thương, bệnh binh vấn đề này càng
cấp thiết và cần cuộc sống cần trọng tâm hơn cân trọng tâmtâm nhiều hơn hết.

Tuy nhiên chính sách ưu đãi đối với người có công ưu đãi cũng như các khó
khăn còn tồn tại trong quá trình thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có

công.
Địa bàn huyện thanh trì nằm ở vị trí cửa ngõ phía Nam của Thủ đô, Thanh
Trì là một địa phương giàu truyền thống lịch sử, văn hóa và cách mạng. Trong
quá trình hình thành và phát triển, Thanh Trì nhiều lần thay đổi về tên gọi và
địa giới, nhưng truyền thống lịch sử, văn hóa, giáo dục của người dân Thanh
Trì vẫn ngày càng được bồi đắp thêm, sáng mãi cùng Thủ đô ngàn năm văn
hiến.
Huyện Thanh Trì hiện có 16 đơn vị hành chính trực thuộc gồm: thị trấn
Văn Điển và 15 xã: Duyên Hà, Đại Áng, Đông Mỹ, Hữu Hòa, Liên Ninh, Ngọc
Hồi, Ngũ Hiệp, Tả Thanh Oai, Tam Hiệp, Tân Triều, Tứ Hiệp, Thanh Liệt, Vạn
Phúc, Vĩnh Quỳnh, Yên Mỹ.
Xuất phát từ mong muốn làm được một việc có ích, là một cán bộ với
nguyện vọng thông qua thực tiễn được tiếp xúc hằng ngày đối với người có
công ưu đãi và từ thực tế bắt nguồn từ nhu cầu chính sách ncc và những khó
khăn, tồn tại trong quá trình thực hiện công tác chính sách ncc trên địa bàn


Tác giả dã nghiên cứu chính sách đối với người có công, phát hiện những tồn
tại và nguyên nhân của sự việc. Tiến trình việc ngiên cứu cuộc sống cần trọng
tâm hơn cân trọng tâmđiểm với nguyên tắc và phương hướng lẫn biện pháp chủ
yếu để chính sách đối với người có công được đổi mới[25].
Hoàn thiện pháp luật trong quá trình ưu đãi đối với người có công ưu
đãi trên địa bàn ở Nhà nước ta. Luận án nêu lên những vấn đề cơ bản như:
Khái nhiệm Pháp luật trong quá trình ưu đãi đối với người có công ưu đãi trên
địa bàn. Đến tới nghiên cứu Lịch sử hình thành và nâng tầm phát triển của pháp
luật thì. Pháp luật này ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và việc hoàn thiện

3


pháp luật trong quá trình ưu đãi đối với người có công ưu đãi trên địa bàn trên
địa bàn huyện[28]. Thế kỷ đã trôi qua đi kể từ ngày đất nước chúng ta giành
được độc lập tự do sau hai cuộc chiến tranh kháng chiến chống thực dân Pháp
và chống đế quốc Mỹ. Nỗi đau và vết thương của chiến tranh đã và đang được

khôi phục lại dần dần đất nước bước vào thời kỳ mới thời kỳ xây dựng và phát
triển. Có được những thành quả đó, dân tộc ta không thể quên ơn những người
con đã cống hiến cả cuộc đời, hy sinh xương máu của mình vì độc lập, tự do
của đất nước. Đối với những người trong số đó là những người bị thương bệnh

binh. Trong chính những người thương bệnh binh và liệt sỹ và đối với người
có công đóng góp với Cách mạng thì đó là một chính sách to lớn đối với Đảng
và Nhà nước. Trong những năm qua thì Đảng và Nhà nước ta đã bđó cân trọng

tâmhành nhiều chính sách và chế độ với đối với người có công ưu đãi và thường
xuyên bổ sung sửa đổi cho phù hợp với từng thời kỳ cách mạng. Tới nay thì

Tác giả hệ thống một cách khái lược những cuộc sống cần trọng tâm hơn cân
trọng tâmđiểm, mà chính sách của Đảng và nhà nước đối với công tác thương

binh, liệt sĩ từ năm 1986 đến năm 2012; đánh giá những mặt tích cực của thực
tiễn quá trình thực hiện mà chính sách của Đảng và nhà nước về vấn đề này và
đề ra giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn trong thời giđó cân trọng tâmtới. Chính

sách Đối với người có công ưu đãi - là trách nhiệm của toàn dân, Tạp chí Tuyên
giáo số 7, 2012. Qua bài viết này, tác giả đã khái quát một số thành tựu của
chính sách trong quá trình ưu đãi đối với người có công ưu đãi trên địa bàn
trong những năm qua, đi sâu vào đánh giá tìm hiểu nguồn lực thực hiện chính
sách ở nước ta. Trong luận án đổi mới chính sách kinh tế này đã hệ thống và
tổng hợp những căn cứ khoa học về lý luận chính sách đối với người có công
ưu đãi ở Việt Nam. Thực trạng chính sách đối với người có công, phát
hiện những tồn tại và nguyên nhân của nó. Cuộc sống cần trọng tâm hơn cân
trọng tâmđiểm, nguyên tắc, phương hướng, biện pháp chủ yếu để đổi mới chính
sách đối với người có công. Nguyễn Đình Liêu, Hoàn thiện pháp luật trong quá

trình ưu đãi đối với người có công ưu đãi trên địa bàn ở Việt Nam. Lý luận và
thực tiễn, Luận án Phó tiến sỹ Luật học, 1996. Luận án nêu nên những vấn đề
cơ bản như: Khái niệm Pháp luật trong quá trình ưu đãi đối với người có công

5


ưu đãi trên địa bàn. Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật này. Thực
trạng của pháp luật này ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và việc hoàn thiện
pháp luật trong quá trình ưu đãi đối với người có công ưu đãi trên địa bàn. Tạ
Vân Thiều, Cải cách thủ tục hành chính lĩnh vực đối với người có công ưu đãi
ở ngành Lao động Thương binh và xã hội, Luận án cao học Luật, Viện


trọng tâm hơn cân trọng tâmtrọng trong việc góp phần nâng cao hiệu quả của chính
sách ưu đãi xã hội với đối tượng thương binh, bệnh binh trên địa bàn huyện, hướng
họ đến một cuộc sống tính chất đó cân trọng tâmtâm, tốt đẹp hơn về đưa ra một
số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách ưu đãi với người có công [27].
Trong bài viết Tiếp tục thực hiện tốt mà đó là như chính sách ưu đãi xã
hội đối với thương binh và gia đình liệt sỹ đối với người có công ưu đãi với
cách mạng, Trong tạp chí Cộng sản số 7/2005. Nêu những nét khái quát thành
tựu đạt được trong việc thực hiện ưu đãi xã hội đối với thương binh, gia đình
liệt sỹ và đối với người có công ưu đãitrong 10 năm từ 1995 đến 2005, qua đó
đúc kết những kinh nghiệm và đề ra những giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn

chính sách ncc[27].
Năm 2011, Hoàng Thúy Hằng có luận văn ngành “Thực trạng công tác

xã hội hóa chính sách ưu đãi đối với người có công tại phường Đề Thám thị xã
Cao Bằng” [8]. Tác giả đã nghiên cứu về chính sách ưu đãi đối với người có
công ưu đãiở phường, chỉ ra được thực trạng và những hạn chế về công tác xã
hội hóa người có công. Nghiên cứu có 56,7% với ý kiến cho rằng 5 chương

trình chính sách ưu đãi đối với người có công ưu đãi tại địa phương được thực
hiện tốt, 26,7% đối với người có công ưu đãicho rằng các chương trình chưa
được thực hiên tốt. Khi đề ra việc những giải pháp để nâng cao hiệu quả công
tác xã hội hóa chính sách ưu đãi đối với người có công ưu đãi tốt hơn tại địa

bàn.
Năm 2011, Hồ Thị Vân Kiều đã nghiên cứu về “Chính sách ưu đãi đối
với người có công: Thực trạng và giải pháp (điển cứu tại trung tâm Thanh trì,
thành phố Hà Nội)”[41]. Nghiên cứu tại huyện Thanh trì hiện nay nguồn nhân
lực chăm đối với người có công ưu đãithì có 36,9% ý kiến cho rằng bác sĩ, y

Tác giả hệ thống một cách khái lược những cuộc sống cần trọng tâm hơn
cân trọng tâmđiểm, mà chính sách của Đảng và nhà nước đối với công tác
thương binh, liệt sỹ từ năm 1986 đến năm 2012; đánh giá những mặt tích cực
của thực tiễn quá trình thực hiện mà chính sách của Đảng và nhà nước về vấn
đề này và đề ra giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn công tác thương binh, liệt sỹ

trong thời giđó cân trọng tâmsớm [39].
Qua bài viết này, tác giả đã khái quát một số thành tựu của chính sách

8


trong quá trình ưu đãi đối với người có công ưu đãi trên địa bàn trong những
năm qua, đi sâu vào đánh giá tìm hiểu nguồn lực thực hiện chính sách ở nước

ta. Nguồn lực của Nhà nước thông qua chế độ trợ cấp ưu đãi thường xuyên
ngày càng giữ vai trò chủ đạo trong việc ổn định đời sống với cách mạng, bởi
đa phần họ là những người không hưởng chế độ lương hay bảo hiểm xã hội[25].
Luận văn đã đưa ra cái nhìn tổng thể những chủ trương, chính sách của
Đảng và Nhà nước ta đối với đối tượng đối với người có công ưu đãitừ năm
1991 đến năm 1995 và những đổi mới trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo Nhà
nước cùng những chủ trương chính sách ưu đãi cho phù hợp với tình hình mới
trong giai đoạn 1996 đến 2010 và 2013 đến 2023[28].
Trong quá trình nghiên cứu chính sách cũng như các sách, tạp chí trên
đã góp phần cơ bản về lý luận cho việc trong đó thục hiện công tác chính sách
trong quá trình ưu đãi đối với người có công ưu đãi trên địa bàn. Việc quá trình
xây dựng công việc rất cuộc sống cần trọng tâm hơn cân trọng tâmtrọng cho
trong quá trình triển khai, bổ sung và hoàn chỉnh pháp luật trong quá trình ưu
đãi đối với người có công ưu đãi trên địa bàn nói chung và đối với thương binh,
bệnh binh.


Khi thục hiện tổ chức thực hiện thực, hiện chính sách ncc; quy trình thực
hiện chính sách ưu đãi cho vệc thực hiện mục tiêu thuộc diện thụ hưởng chính
sách theo quy định tại Pháp lệnh ưu đãi đối với người có công ưu đãi trên địa
bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.

4.2.

Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu việc thực hiện chính sách ưu đãi ncc trên địa bàn huyện
Thanh Trì, Thành phố Hà Nội và trong khoảng thời giđó cân trọng tâmtừ năm
2013 đến năm 2017.

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Vận dụng thục hiện tổ chức tiếp cận thực hiện nghiên cứu chính sách qua
tiếp cận đa ngành, liên ngành khoa học xã hội và phương pháp nghiên cứu chính

sách công. Thực hiện tổ chức tiếp cận thực hiện quy phạm chính sách công về

10


chu trình chính sách từ hoạch định đến xây dựng, thực hiện và đánh giá chính
sách công có sự tham gia của các chủ thể chính sách. Thực hiện chính sách ưu
đãi công được soi sáng qua thực tiễn của chính sách công giúp hình thành lý luận
về chính sách chuyên ngành đối với người có công.

5.2.


03

Gia đình, người thân thương, bệnh binh

06

* Phương pháp cuộc sống cần trọng tâm hơn cân trọng tâm sát:
- Cuộc sống cần trọng tâm hơn cân trọng tâmsát là phương pháp thu thập
thông tin xã hội sơ cấp về đối tượng nghiên cứu bằng cách tri giác trực tiếp và ghi
chép lại những nhân tố có liên cuộc sống cần trọng tâm hơn cân trọng tâmđến đối

11


tượng nghiên cứu và có ý nghĩa đối với mục đích nghiên cứu.

* Phương pháp thống kê:
- Học viên sử dụng phương pháp thống kê để xử lý các thông tin, các số
liệu đã thu thập được qua phiếu điều tra.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận: Để đóng góp bổ sung hoàn thiện những vấn đề lý luận
về chính sách chuyên ngành mà thực tế chính sách đó đối với người có công ưu đãi
ở nước ta hiện nay và trên địa bàn huyện Thanh Trì.

6.2.

Ý nghĩa thực tiễn: Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn chính


nay, trong vấn đề ưu đãi đối với người có công, hệ thống pháp luật nước ta đã
có những thay đổi cuộc sống cần trọng tâm hơn cân trọng tâm trọng để phù
hợp với tình hình kinh tế - xã hội của thời kỳ đổi mới. Nhà nước đã đề ra nhiều
văn bản luật ưu đãi xã hội đối với người có công, trong đó nổi bật nhất là việc

bđó cân trọng tâmhành Pháp lệnh Ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ
và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người
có công giúp đỡ cách mạng năm 1994 (Pháp lệnh ưu đãi năm 1994) và Pháp
lệnh quy định danh hiệu vinh dự nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” năm
1994. Đây là hai văn bản pháp luật nhằm thể chế hóa Hiến pháp năm 1992,
đánh dấu sự tiến bộ trong hệ thống chính sách ưu đãi xã hội đối với người có
công, cùng với các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành hai pháp lệnh này
tạo thành hệ thống pháp luật về ưu đãi người có công. Năm 1998 và năm 2000,
Pháp lệnh ưu đãi năm 1994 lại được sửa đổi cho phù hợp với điều kiện mới và
quá trình cải cách hành chính. Cơ cuộc sống cần trọng tâm hơn cân trọng

tâmhành chính với tư cách là cơ cuộc sống cần trọng tâm hơn cân trọng

13


tâmhành pháp đã bđó cân trọng tâm hành nhiều văn bản hướng dẫn, quy định
chi tiết và tổ chức thực hiện đưa pháp luật vào đời sống xã hội.
1.2. Các hoạt động cơ bản trong chính sách ưu đãi đối với người có công

Nên, chúng ta có thể hiểu sức khoẻ gồm 3 mặt: Sức khoẻ thể chất, sức
khoẻ tinh thần và sức khoẻ xã hội.
Như sức lực: Hoạt động của cơ bắp mạnh, có sức đẩy, sức kéo, sức nâng
cao…do đó làm công việc chân tay một cách thoải mái như mang vác, điều
khiển máy móc, sử dụng công cụ…

công ưu đãi thể chất không những không có thương tật, bệnh tật mà các hoạt
động về thể lực cũng như tất cả các hoạt động sống đều ở trạng thái tốt nhất và
phù hợp với từng điều kiện hoàn cảnh, lứa tuổi...;
Được một cơ thể khỏe mạnh là mơ ước, mục tiêu, mục đích mà mọi
người hướng đến và cố gắng thực hiện mọi biện pháp để đạt đến cái
ngưỡng đó. Mối cuộc sống cần trọng tâm hơn cân trọng tâm hệ hữu cơ với
nhau, tác động qua lại, ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhau, nếu thiếu một trong các
thành tố trên sẽ không làm nên đối với người có công ưu đãi con người. Từ
nhận định nghĩa trên đã chỉ cho chúng ta thấy rõ trạng thái đối với người có
công ưu đãi cần đạt được để từ đó mỗi cá nhân hướng đến và vạch ra mục tiêu,
phương pháp để đạt được. Định nghĩa trên cũng gặp phải hạn chế là chưa đưa
ra được mục tiêu, phương pháp, kế hoạch thực hiện cho các lực lượng tham gia

vào quá trình chính sách ưu đãi đối với người có công ưu đãi.
Chính sách ưu đãi và chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ đối với người có công
ưu đãi rước hết phải do chính bản thân mỗi cá nhân thực hiện. Tục ngữ cũng
đã dạy như “Tiền bạc là của con, địa vị là tạm thời, vẻ vang là quá khứ, sức
khoẻ là của chính mình”.
Việc đầu tư chính sách ưu đãi đối với sức khoẻ là phải đầu tư chính sách
ưu đãi đối với ngay khi còn đang khoẻ mạnh, khi chưa thành bệnh mới là đầu
tư chính sách ưu đãi đối với có ý nghĩa và hiệu quả kinh tế cao nhất.

Nhiều khái niệm khác nhau về chính sách ưu đãi đối với người có công.
Tuy nhiên chính sách ưu đãi đối với đối với người có công ưu đãi là những hoạt
động nhằm nâng cao đối với người có công ưu đãi của con người.

Trong cuộc sống cần trọng tâm hơn cân trọng tâm hệ xã hội: Là một

15



16


tại Đại học Columbia. Maslow bắt đầu sự nghiệp giảng dạy tại Brooklyn
College. Trong suốt thời giđó cân trọng tâmnày ông đã gặp gỡ nhiều nhà tâm
lý học hàng đầu Châu Âu như Alfred Adler và Erich Fromm. Năm 1951,
Maslow trở thành Ttrưởng khoa Tâm lý học tại Brandeis University, nơi mà
ông bắt đầu với công tác nghiên cứu học thuyết của mình. Ông đã gặp Kurt
Goldstein, người đã giới thiệu ông ta về ý tưởng của sự tự nhận thức về nhu
cầu.
Ông về hưu tại California. Chết vì đau tim năm 1979, thọ 62, sau nhiều
năm sức khoẻ kém.
Nội dung cơ bản của thuyết nhu cầu
Maslow nhà khoa học xã hội nổi tiếng đã xây dựng học thuyết về nhu
cầu của con người vào những năm 1950. Trong điều đó con người có cơ bản
nhất, nguyên thủy nhất, lâu dài nhất, rộng rãi nhất của con người. Nếu thiếu
những nhu cầu cơ bản này con người sẽ không tồn tại được. Điều đó khi đối
với trẻ thì chúng phụ thuộc rất nhiều vào người lớn để được cung cấp đầy đủ
các nhu cầu cơ bản này. Ông cuộc sống cần trọng tâm hơn cân trọng tâm nniệm
rằng, khi những nhu cầu này chưa được thoả mãn tới mức độ cần thiết để duy
trì cuộc sống thì những nhu cầu khác của con người sẽ không thể tiến thêm nữa.
Nhu cầu về tính chất cân trọng tâmtâm hoặc cân trọng tâmninh:
Đó cân trọng tâm ninh và tính chất đó cân trọng tâm tâm có nghĩa là một
môi trường không nguy hiểm, có lợi cho sự phát triển liên tục và lành mạnh của
con người.
Trong nhu càu trật tụ thì: Tính chất đó cân trọng tâm sinh mạng Trong
điều đó con người có cơ bản nhất, là tiền đề cho các nội dung khác như tính chất
đó cân trọng tâm tâm lao động, tính chất cân trọng tâmtâm môi trường, tính chất
cân trọng tâmtâm nghề nghiệp, tính chất đó cân trọng tâm tâm kinh tế, tính chất

khác (giao tiếp được coi như Trong điều đó con người cóbẩm sinh của con
người). Qua đó chúng ta thấy được sức mạnh to lớn của nhu cầu được cân và
được thừa nhận trong sự phát triển của mỗi cá nhân. Nó cũng cho thấy con
người cần được yêu thương và thừa nhận hơn là cần thức ăn, quần áo và chỗ ở
cho sự tồn tại của mình.

18


– Nội dung của nhu cầu này gồm hai loại:
Lòng tự trọng và được người khác tôn trọng.
+ Lòng tự trọng bao gồm nguyện vọng muồn giành được lòng tin, có
năng lực, có bản lĩnh, có thành tích, độc lập, tự tin, tự do, tự trưởng thành, tự
biểu hiện và tự hoàn thiện.
+ Nhu cầu được người khác tôn trọng gồm khả năng giành được uy tín,
được thừa nhận, được tiếp nhận, có địa vị, có danh dự… Tôn trọng là được
người khác coi trọng, ngưỡng mộ.
Khi được người khác tôn trọng cá nhân sẽ tìm mọi cách để làm tốt công
việc được giao…
Nhu cầu phát huy bản ngã: Maslow xem đây Trong điều đó con người

có cao nhất trong cách phân cấp về nhu cầu của ông.
Trong đề tài này, tác giả đã vận dụng thuyết vai trò trong ưu đãi chính

sách với thương, bệnh binh để phân tích những vai trò để đó cân trọng tâm
thiệp, hỗ trợ gia đình vượt qua những khó khăn, khủng hoảng trong cuộc sống,
đó cân trọng tâmthiệp để giúp mỗi người giải quyết vấn đề tốt hơn. Thuyết vai
trò, người nghiên cứu cũng có thẻ biết được ai là người có uy tín trong gia đình
cũng như trong cộng đồng, tác động vào những thành viên uy tín để xây dựng
hoạt động cho thương, bệnh binh.

chăm lo tốt hơn đời sống mọi mặt của những thương bệnh binh, đúng với quy
định trong Pháp lệnh trong quá trình ưu đãi đối với người có công trên địa bàn;
việc cuộc sống cần trọng tâm chính sách ưu đãi đối với người có công ưu đãi
đời sống vật chất, tinh thần của thương, bệnh binh và gia đình họ là trách nhiệm
của Nhà nước và toàn xã hội.

20


CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1. Khái quát tình hình trên địa bàn huyện Thanh trì, thành phố Hà Nội

Huyện thanh trì nằm ở phía Nam của thành phố của Thủ đô, Thanh Trì là
một địa phương giàu truyền thống lịch sử, văn hóa và cách mạng. Trong quá trình

hình thành và phát triển, Thanh Trì nhiều lần thay đổi về tên gọi và địa giới, nhưng
truyền thống lịch sử, văn hóa, giáo dục của người dân Thanh Trì vẫn ngày càng
được bồi đắp thêm, sáng mãi cùng Thủ đô ngàn năm văn hiến.

- Huyện Thanh Trì hiện có 16 đơn vị hành chính trực thuộc gồm: thị trấn
Văn Điển và 15 xã: Duyên Hà, Đại Áng, Đông Mỹ, Hữu Hòa, Liên Ninh, Ngọc
Hồi, Ngũ Hiệp, Tả Thanh Oai, Tam Hiệp, Tân Triều, Tứ Hiệp, Thanh Liệt, Vạn
Phúc, Vĩnh Quỳnh, Yên Mỹ.

- Về địa lý, Thanh Trì nằm ở vị trí cửa ngõ phía Nam của Thủ đô, phía
Tây Bắc giáp quận Thanh Xuân; phía Bắc giáp quận Hoàng Mai; phía Tây giáp
quận Hà Đông; phía Nam giáp huyện Thanh Oai và huyện Thường Tín; phía
Đông giáp huyện Gia Lâm và huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên với Sông Hồng

25,0

Từ 60 – 70 tuổi

35

43,75

Từ 70 – 80 tuổi

15

18,75

Trên 80 tuổi

10

12,5

80

100,0

Tổng

(Số liệu khảo sát của tác giả tháng 12 năm 2017)
Bảng số liệu trên đã cho thấy, trong tổng số 80 NCC thì độ tuổi 60 – 70
tuổi chiếm tỷ trọng cao nhất (43, 75%), đây là độ tuổi phổ biến của Người có
công. 15/80 người được hỏi nằm trong độ tuổi 70 – 80 tuổi chiếm 18, 75%; độ

Nam

18

77,5

Nữ

62

22,5

Tổng

80

100,0

(Số liệu khảo sát của tác giả, tháng 12/2017)
Sự phân chia giới tính nam và nữ của NCC huyện Thanh Trì rất rõ rệt.
Theo số liệu điều tra được thì 18 người trong tổng số 80 người là giới tính nữ
(chiếm 22,5%) còn lại là nam (chiếm 77,5%). Tỷ lệ nam giới nhiều hơn nữ giới
khá nhiều điều này có thể dễ hiểu vì hai cuộc kháng chiến, hầu hết con trai là
người ra trận, trực tiếp đấu tranh với quân thù, chỉ có một số ít các bác gái là
đã từng trực tiếp tham gia chiến đấu còn lại chủ yếu ở nhà làm hậu phương cho
tiền tuyến, tham gia lao động sản xuất tại địa phương.
Ưu đãi và thể lực của nam giới bền bỉ và dẻo dai hơn nữ giới, nam giới
ra chiến trường nhiều hơn nữ giới không có nghĩa là nữ giới không biết chiến
đấu chống quân xâm lược bảo vệ Tổ quốc. Đằng sau mỗi trận chiến luôn có
bóng dáng của nữ giới, họ âm thầm lặng lẽ tiếp lương thực, tiếp sức mạnh, tiếp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status