LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
PGS.TS Trần Quốc Thành, người đã tận tình hướng dẫn và trực tiếp
giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện, hoàn thành luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Quý thầy, cô trường Đại học sư phạm Hà Nội;
Quý thầy, cô trong Hội đồng khoa học đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí trong Ban Giám Hiệu trường
ĐH Tây Bắc, Phòng Khảo thí bảo đảm chất lượng giáo dục đã tạo điều kiện
cho tôi được theo học lớp Cao học Giáo dục và phát triển cộng đồng và tạo
điều kiện về mặt thời gian cho tôi hoàn thành luận văn này.
Xin được được gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Dân tộc Tỉnh Sơn La,
Sở Y Tế Tỉnh Sơn La, Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình Tỉnh Sơn La,
Ủy Ban Nhân Dân huyện Vân Hồ, UBND xã Lóng Luông và cộng đồng
người dân xã Lóng Luông đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cung cấp và chia sẻ
những tư liệu cần thiết trong quá trình nghiên cứu đề tài.
Tuy đã rất cố gắng, song luận văn vẫn không tránh khỏi những thiếu sót.
Kính mong các thầy cô, đồng nghiệp tận tình góp ý, chỉ bảo thêm để luận văn
của tôi được hoàn chỉnh.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 29 tháng 10 năm 2016
Tác giả
Phạm Việt Hà
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...........................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài......................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu...............................................................................2
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu.......................................................3
4. Giả thuyết khoa học.................................................................................3
2.1.3. Mẫu nghiên cứu..............................................................................32
2.2. Thực trạng hôn nhân cận huyết thống trên thế giới
và tại Việt Nam....................................................................................33
2.2.1. Thực trạng hôn nhân cận huyết thống trên thế giới........................33
2.2.2. Thực trạng hôn nhân cận huyết thống ở Việt Nam.........................36
2.3. Thực trạng hôn nhân cận huyết thống của vùng đồng bào dân tộc
thiểu số huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La........................................................41
2.3.1. Tình trạng hôn nhân cận huyết của huyện......................................41
2.3.2. Nhận thức về hôn nhân cận huyết thống của các cán bộ quản lý
vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại xã Lóng Luông.................................42
2.3.3. Nhận thức về hôn nhân cận huyết thống của người dân tộc thiểu số
tại xã Lóng Luông huyện Vân Hồ tỉnh Sơn La........................................45
2.3.4. Các nguyên nhân dẫn đến thực trạng hôn nhân cân huyết thống tại
xã Lóng Luông huyện Vân Hồ tỉnh Sơn La.............................................48
2.4. Thực trạng các biện pháp giáo dục phòng chống
hôn nhân cận huyết thống của vùng đồng bào dân tộc
thiểu số tại huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La...................................57
2.4.1. Các biện pháp giáo dục phòng chống hôn nhân cận huyết.............57
2.4.2. Một số nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả giáo dục phòng chống
hôn nhân cận huyết thống tại xã Lóng Luông huyện Vân Hồ tỉnh Sơn La..61
2.5. Tiểu kết chương 2................................................................................62
Chương 3: CÁC BIỆN PHÁP GIÁO DỤC PHÒNG CHỐNG HÔN NHÂN
CẬN HUYẾT THỐNG CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ HUYỆN
VÂN HỒ TỈNH SƠN LA................................................................................64
3.1. Nguyên tắc đề xuất các biện pháp.....................................................64
3.1.1. Đảm bảo tính cấp thiết....................................................................64
3.1.2. Đảm bảo tính pháp lý.....................................................................64
3.1.3. Đảm bảo tính đồng bộ....................................................................65
thống................................................................................................44
Bảng 2.4: Quan niệm của người dân về hôn nhân cận huyết thống................45
Bảng 2.5: Nhận thức của người dân về tác hại (hậu quả) của hôn nhân cận
huyết thống......................................................................................46
Bảng 2.6. Nhận thức của người dân về những hình thức xử lý của chính quyền
đối với hôn nhân cận huyết thống...................................................47
Bảng 2.7: Những nguyên nhân của thực trạng hôn nhân cận huyết thống......48
Bảng 2.8: Các biện pháp tăng cường nhận thức cho người dân về hôn nhân
cận huyết thống...............................................................................58
Bảng 2.9: Thực trạng các biện pháp xử lý của chính quyền đối với các trường
hợp hôn nhân cận huyết thống........................................................59
Bảng 2.10: Những nguyên nhân ảnh hưởng đến việc thực hiện các biện pháp
giáo dục phòng chống hôn nhân cận huyết thống...........................61
Bảng 3.1: Kết quả khảo sát tính cần thiết và khả thi của các biện pháp qua ý
kiến của cán bộ quản lý...................................................................84
Bảng 3.2: Kết quả khảo sát tính cần thiết và khả thi của các biện pháp qua ý
kiến của các chuyên gia...................................................................86
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Nhận thức của người dân về những hình thức xử lý của chính
quyền đối với hôn nhân cận huyết thống........................................48
Biểu đồ 2: Mức độ thường xuyên của các biện pháp xử lý của chính quyền đối
với các trường hợp hôn nhân cận huyết thống trong xã..................60
Biểu đồ 3: Mức độ hiệu quả của các biện pháp xử lý của chính quyền đối với
các trường hợp hôn nhân cận huyết thống tại xã............................60
chế độ mẫu hệ đến chế độ phong kiến coi hôn nhân cận huyết thống như một
sinh hoạt bình thường trong đời sống xã hội. Còn ngày nay hôn nhân cận
huyết vẫn đang tồn tại rải rác trong đời sống của cộng đồng người dân tộc
thiểu số vùng miền núi, vùng sâu vùng xa trên địa bàn các tỉnh như Điện
Biên, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Sơn La,… Những hậu quả và tác hại
của nó làm ảnh hưởng đến sự phát triển về mọi mặt đời sống xã hội, làm suy
thoái nòi giống, suy giảm chất lượng dân tộc thiểu số làm cho đất nước phát
triển không đồng đều giữa miền núi với đồng bằng, vì thế vấn đề bức thiệt đặt
ra là cần có những biện pháp giáo dục phòng chống ngăn chặn và đẩy lùi hôn
nhân cận huyết thống.
Hôn nhân cận huyết thống là hình thức hôn nhân giữa người nam và
người nữ có cùng dòng máu trực hệ. Tình trạng này đã ảnh hưởng đến thể
chất, tâm sinh lý nhất, làm suy kiệt sức khỏe cả bố, mẹ và con cháu. Hôn nhân
cận huyết thống đã tạo ra các gen bệnh như: Bạch tạng, mù màu, da vảy cá,
đặc biệt phổ biến là bệnh tan máu bẩm sinh, y học gọi là bệnh Thalasamia.
Những căn bệnh này làm suy kiệt sức khỏe, dẫn tới suy thoái nòi giống của cả
một dòng họ, một dân tộc.
Ở các bản làng vùng cao, xa xôi của tỉnh Sơn La, nạn tảo hôn và kết hôn
cận huyết thống diễn ra khá phổ biến. Điển hình là tại xã Lóng Luông, một xã
vùng cao thuộc huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La gồm có 4 anh em dân tộc cùng
sinh sống với 5.651 khẩu (tính đến tháng 3/2013), nhưng đa số là đồng bào
Mông, chiếm gần 87% dân số của xã. Dù vẫn được Nhà nước ưu tiên quan
tâm đầu tư cơ sở hạ tầng cho nên bộ mặt thôn, bản có sự thay đổi rõ rệt, đời
1
sống nhân dân, trình độ dân trí được nâng lên nhưng tập tục hôn nhân cận
huyết thống vẫn còn tồn tại trong cộng đồng, dòng họ của các đồng bào dân
tộc nơi đây.
Quá trình giáo dục cộng đồng về phòng chống hôn nhân cận huyết thống
ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp giáo dục phòng chống hôn nhân cận huyết thống của vùng
đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La
4. Giả thuyết khoa học
Đa số người dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La chưa
có nhận thức đúng và đầy đủ về hôn nhân lành mạnh, Họ vẫn giữ những phong
tục tập quán lạc hậu từ lâu đời dẫn đến tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận
huyết thống tương đổi phổ biến. Nếu phân tích rõ cơ sở lý luận và thực trạng
hôn nhân cận huyết thống ở huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La thì có thể đề xuất được
các biện pháp giáo dục phòng tránh hôn nhân cận huyết bằng việc trên nâng
cao nhận thức cho người dân về tác hại của hôn nhân cận huyết thống, cải thiện
được chất lượng cuộc sống của cộng đồng người dân tộc thiểu số.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Phân tích, khái quát hóa cơ sở lý luận về hôn nhân cận huyết thống
và giáo dục cộng đồng về hạn chế hôn nhân cận huyết thống,
5.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng hôn nhân cận huyết thống của người
dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La và các hoạt
động tuyên truyền, giáo dục mà địa phương đã thực hiện.
5.3. Đề xuất các biện pháp giáo dục phòng chống tình trạng hôn nhân
cận huyết thống nhằm nâng cao chất lượng dân số của các cộng đồng dân tộc
thiểu số huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La.
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1. Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu tình trạng hôn nhân cận huyết thống ở các
3
cộng đồng người dân tộc thiểu số và các biện pháp giáo dục của địa phương
về công tác giáo dục phòng chống hôn nhân cận huyết thống để hỗ trợ cho
phương pháp điều tra phiếu hỏi.
7.2.3. Phương pháp quan sát
Xem xét thực tế công tác quản lý của các cán bộ về công tác phòng
chống hôn nhân cận huyết thống, trực tiếp quan sát tình hình tại cộng đồng
dân cư nơi đang nghiên cứu.
7.2.4. Phương pháp chuyên gia
Lấy ý kiến các chuyên gia về thực trạng cũng như góp ý, tư vấn về tình
hình quản lý giáo dục phòng chống hôn nhân cận huyết thống trước khi đưa ra
những biện pháp triển khai công tác này cho phù hợp, hiệu quả.
7.2.5. Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm
Tổng kết kinh nghiệm qua thực tiễn giáo dục phòng chống hôn nhân cận
huyết thống, rút ra bài học bổ ích về công tác quản lý giáo dục phòng chống
hôn nhân cận huyết thống.
7.3. Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
Sử dụng toán thống kê để xử lý và phân tích số liệu, thông tin thu được
qua các phiếu điều tra và các mẫu biểu thống kê.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo,
phụ lục, nội dung của luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hôn nhân cận huyết thống và giáo dục cộng
đồng về phòng chống hôn nhân cận huyết thống
Chương 2: Thực trạng hôn nhân cận huyết thống và giáo dục phòng
chống hôn nhân cận huyết thống ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số huyện Vân
Hồ, tỉnh Sơn La.
Chương 3: Các biện pháp giáo dục phòng chống hôn nhân cận huyết
thống cho đồng bào dân tộc thiểu số huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La.
5
Đăk Lăk. Ngoài ra trên các trang báo cũng đề cập rất nhiều đến vấn đề này.
Các tác giả chủ yếu đi sâu phân tích thực trạng hôn nhân cận huyết thống, chỉ
ra tác hại nhiều mặt cho đời sống kinh tế, xã hội, tương lai giống nòi...Và
thông điệp mà tất cả các tác giả muốn đưa ra là: Hãy ngăn chặn và đẩy lùi hôn
nhân cận huyết thống nếu không thì hậu quả sẽ khôn lường.
1.2. Hôn nhân cận huyết thống
1.2.1. Thế nào là hôn nhân cận huyết thống
Hôn nhân cận huyết thống hiện đang là vấn đề được quan tâm hàng đầu .
Thời gian gần đây trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng đề cập rất
nhiều tới vấn đề này song song với đó thì cũng có nhiều quan điểm về khái
niệm hôn nhân cận huyết thống:
- Theo quan niệm của một số học giả Việt Nam thì hôn nhân cận huyết
thống của các dân tộc thiểu số ở nước ta bao gồm các trường hợp sau: Hôn
nhân anh chị em họ chéo (tức hôn nhân con cô con cậu): Con cô con cậu lấy
nhau, có thể là con gái cô lấy con trai cậu, hoặc con gái cậu lấy con trai cô;
Hôn nhân anh chị em họ song song tức hôn nhân con gì - con già và (hôn
nhân con chú - con bác). Một biểu hiện rõ nét của hôn nhân cận huyết thống ở
miền núi phía Bắc và Tây Nguyên là hôn nhân con cô con cậu. Đây là hình
thức hôn nhân giữa con của anh hoặc em trai với con của chị hoặc em gái.
- Theo các chuyên gia xã hội học và dân số, hôn nhân cận huyết thống là
hôn nhân nội tộc, chỉ những cặp hôn nhân trong cùng một nhóm thân tộc, họ
hàng bởi luật tục hoặc tập quán quy định có mối quan hệ huyết thống với
nhau theo dòng họ mẹ hoặc dòng họ cha. Hôn nhân cận huyết thống thường là
hôn nhân anh chị em họ chéo - giữa con của anh hoặc em trai với con của chị
hoặc em gái.
- Theo Luật Hôn nhân gia đình Việt Nam thì “Những người có quan hệ
trong phạm vi 3 đời là những người có cùng một nguồn gốc sinh ra
- Gây ra những hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng và tác động xấu đến
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, tư tưởng tình cảm, lối
8
sống, đạo đức, an ninh trật tự, ...)
Như vậy, có thể khẳng định hôn nhân cận huyết thống là một vấn đề
nóng bỏng của xã hội, gây những thiệt hại không nhỏ tới mọi mặt cuộc sống.
Điều này đòi hỏi mọi cấp, mọi ngành cùng ra tay đấu tranh, ngăn chặn góp
phần thúc đẩy sự ổn định và phát triển của cả xã hội.
1.2.2. Các mức độ hôn nhân cận huyết thống
Có thể chia hôn nhân cận huyết thống thành các mức độ:
+) Hôn nhân cận huyết thống trong phạm vi 3 đời: Là hình thức hôn
nhân giữa nam và nữ trong cùng họ hàng thân thuộc chưa quá 3 thế hệ. Theo
quy định của Luật Hôn nhân và gia đình thì những người trong phạm vi ba
đời là: Đời thứ nhất- cha mẹ; đời thứ hai- anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha
khác mẹ, cùng mẹ khác cha; đời thứ ba- anh chị em con chú con bác, con cô
con cậu con dì.
Hình thức này được coi là vi phạm pháp luật và sẽ gây ra tác hại nghiêm
trọng nếu kết hôn chưa quá phạm vi 3 đời bởi Theo minh chứng của khoa học,
cơ thể người được hình thành từ gene di truyền của bố và mẹ. Trung bình một
người có thể chưa tới 500 -600 nghìn gene khác nhau. Có hai loại đó là gene
lặn và gene trội. Thông thường gene trội là những biểu hiện tốt về người con
được thừa hưởng từ bố và mẹ như: chỉ số thông minh, màu tóc, nước da, màu
mắt, chiều cao, ... Còn gene lặn là những biểu hiện không tốt, có thể đó là
gene lặn bệnh lý và không bộc lộ ra ngoài. Tuy nhiên hôn nhân cận huyết là
điều kiện tốt cho gene lặn phát triển và biểu hiện rõ. Những cặp gene bệnh lý
ở cả bố và mẹ sẽ kết hợp với nhau làm cho hình hài đứa trẻ sinh ra bị dị tật
+) Hôn nhân ngoài phạm vi 3 đời:Là hình thức hôn nhân giữa nam và nữ
khi trong suốt vài tháng, nhà vua từ chối tắm rửa hay thay quần áo. Charles
VI cũng hay có hành vi chạy điên cuồng trong cung điện mà không cần lý do,
vì thế những cánh cửa an toàn đã được dựng lên cao. Giáo hoàng Pius II từng
viết rằng, Charles VI thường thích đập vỡ thủy tinh thành nhiều mảnh vụn và
mặc nhiều quần áo để khỏi bị thương.
Ibrahim I của đế quốc Ottoman (trị vì 1640 - 1648) Còn được gọi là
10
“Ibrahim Khùng”, Ibrahim I là vị hoàng đế tàn bạo và độc ác nhất cai trị đế
quốc Ottoman (Thổ Nhĩ Kỳ) trong suốt thế kỷ 16 và 17. Ibrahim bị cho là đã
mắc bệnh tâm thần, ông ta đã tự giam mình trong một cái “lồng” - một toà nhà
không có cửa sổ - trong suốt tuổi thanh xuân của mình. Khi anh trai qua đời
vào năm 1640, ở tuổi 23, Ibrahim được phóng thích và đăng quang ngôi báu.
Chẳng mấy chốc sau đó, Ibrahim đã cho xây dựng hậu cung của mình làm nơi
nhốt các trinh nữ phục vụ nhu cầu “phòng the” của mình. Ibrahim còn có tính
cách lập dị là tôn sùng những phụ nữ thừa cân và có lần ra lệnh cho tùy tùng
tìm kiếm những phụ nữ béo trên khắp đế quốc để đem về cung điện. Ibrahim là
vị hôn quân vô đạo khi tùy tùng của ông ta luôn tìm cách cướp bóc dân thường
để dâng cống nước hoa, quần áo và bất cứ thứ gì mà nhà vua thích. Ngoài các
hành vi tra tấn và hành quyết tù nhân, có lần Ibrahim còn thẳng tay ném con
trai của mình vào hồ nước và sau đó đâm chết cậu bé với tất cả sự giận dữ.
Năm 1648, Ibrahim I bị những kẻ chống đối lập mưu bắt giữ, sau đó bị bóp cổ
đến chết. Ibrahim I nổi tiếng bởi những hành vi tra tấn bạo lực, nhất là bạo lực
với nữ giới. Khi không thỏa mãn với một trinh nữ nào, ông ta bèn nhẫn tâm
ném trinh nữ vào trong một hồ nước và dìm họ chết đuối.
Friedrich Wilhelm I của nước Phổ (trị vì 1713-1740) Mặc dù đã từng
có một nhiệm kỳ đất nước thanh bình khi ngài cai trị nhưng vua Phổ Friedrich
Wilhelm I lại được nhớ nhiều đến ngày hôm nay bởi tình cảm thân mật đối
Charlotte đang có ý đồ ám hại nhà vua.
Vua Ludwig II xứ Bavaria (trị vì 1864-1886) Một trong những vị quân
vương được yêu quý cũng như lập dị nhất xứ Bavaria là vua Ludwig II, người
nổi tiếng bởi những hành vi kỳ lạ cũng như niềm đam mê cuồng nhiệt trong
công tác xây dựng các lâu đài cũng như chỉnh sửa nhỏ theo ý thích. Thực sự,
Ludwig có một cuộc sống đời tư khá khó khăn, bản thân ngài tự đánh mất các
năng khiếu về nghệ thuật, âm nhạc và thế giới của sự tưởng tượng. Hành vi
này hình thành khi ngài 18 tuổi. Ngài khước từ việc xuất hiện trước mặt các
thần dân, thích ở một mình cô độc trong toà lâu đài, tại đó ngài chỉ ca hát
12
hoặc chơi gì đó theo ý thích của mình. Ở xứ Bavaria, ngài có tính cách kỳ lạ
là hay trò chuyện với bất kỳ thứ gì mà ngài gặp trên đường đi. Bản chất khiêm
tốn của ngài luôn được thần dân yêu mến, nhưng lại thu hút sự chú ý của các
thành viên toà án tối cao, những người từng lập kế hoạch tước vương quyền
của nhà vua. Có cả một âm mưu liệt kê chứng hoang tưởng kỳ lạ của nhà vua
như nói chuyện với những người vô hình, cư xử kém, nhút nhát, dã ngoại
dưới ánh trăng cùng với các vũ công nam giới khoả thân… từ đó cáo buộc
rằng nhà vua đã bị mất trí. Truyền thuyết nói rằng, một ngày nọ người ta phát
hiện ra xác chết của nhà vua nổi trên mặt hồ nước, khoác thêm những nghi
hoặc rằng có ai đó đã âm mưu hãm hại nhà vua. Dù kỳ quặc nhưng Ludwig
cũng là vị vua cừ khôi khi ông đã chỉ đạo cho việc xây dựng những cung điện
thần tiên trên khắp xứ Bavaria, bản thân ngài tự mình tư vấn cho cánh thợ và
kiến trúc sư những ý tưởng xây dựng của mình. Một trong số đó là toà lâu đài
Schloss Neuschwanstein mà Ludwig II đã cho xây dựng trên rìa một vách đá.
Tài sản của vương quốc gần như khánh kiệt chỉ bởi lòng yêu thích xây dựng
của nhà vua. [22]
Nhiều nhà Ai Cập học cho rằng hoàng đế Tutankhamun là kết quả hôn
nhân cận huyết giữa hai anh em ruột, nhưng một số khác quả quyết rằng ông
Darwin và vợ ông đã có với nhau 10 người con, song ba trong số đó đã
chết khi còn nhỏ và ba người con khác bị vô sinh. Sự kết hôn cận huyết thống
giữa hai người đã làm duy trì các gene bị lỗi và thậm chí đã nhân chúng lên
nhiều lần.
Nhiều cuộc hôn nhân khác trong gia tộc Darwin vẫn tiếp tục rơi vào tình
trạng cận huyết thống. Giáo sư James Moore thuộc Đại học Open cho biết,
trước đời Charles Darwin, tình trạng này đã xảy ra. Cả ông bà ngoại của
Darwin đều mang họ Wedgwood, họ của vợ ông. Nghiên cứu kỹ về gia đình
Darwin, các nhà khoa học phát hiện ra rằng, hầu hết các thế hệ trong gia đình
này đều có quan hệ hôn nhân cận huyết thống. Chẳng hạn ông ngoại của
Darwin là Josiah Wedgwood đã kết hôn với người chị họ đời thứ ba của mình
14
là Sarah và có với nhau 8 người con. Con gái cả của ông bà, mẹ của Charles
Darwin là Susannah Wedgwood lại kết hôn với chính anh họ của mình là
Robert Darwin.
Con trai cả của ông bà ngoại của Charles Darwin là Josiah sau khi lập
gia đình đã có 9 người con, mà 4 trong số đó, bao gồm cả vợ của Charles là
Emma, đã kết hôn với anh chị em họ của mình.
Điều này dẫn tới hậu quả là trong gia đình Darwin có tới 26 người được
sinh ra bởi các cuộc hôn nhân giữa anh chị em họ. Trong số đó, 19 người
không thể sinh con, 5 người chết trẻ và 5 người mắc chứng thiếu khả năng
nhận thức bẩm sinh.
Trong số 62 người cô, chú họ thuộc bốn đời bắt đầu từ ông bà ngoại của
Charles là Josiah và Sarah, có tới 38 người không thể sinh con. Điều này đã
dẫn tới sự suy tàn của dòng họ Darwin.
Trong các nghiên cứu của mình, giáo sư Michael Golubovsky, thuộc Đại
học California, Mỹ đã đưa ra giả thuyết về việc người trong cả hai gia đình
Còn ở Việt Nam, trên các phương tiện thông tin đại chúng vẫn luôn đề
cập đến hôn nhân cận huyết thống đi kèm song song với nạn tảo hôn tồn tại
chủ yếu ở một bộ phận đồng bảo dân tộc ít người. Hôn nhân cận huyết thống
để lại hậu quả rất lớn đối với cá nhân, gia đình và xã hội, đặc biệt hôn nhân
cận huyết thống là gánh nặng cho công tác DS-KHHGĐ: Là nguyên nhân làm
gia tăng nhanh số lượng dân số; ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng dân số;
nhiều dân tộc ít người đứng trước nguy cơ dân số suy giảm; làm suy thoái
chất lượng dân số, chất lượng giống nòi Việt Nam; làm băng hoại thuần
phong mỹ tục của xã hội; làm gia tăng tỷ lệ đói nghèo.
1.2.4. Nguyên nhân dẫn đến hôn nhân cận huyết thống
Đi tìm những nguyên nhân của vấn nạn hôn nhân cận huyết này, có lẽ lời
giải thích đầu tiên là do phong tục tập quán:
Hôn nhân cận huyết thống giữa những người Hồi giáo đã diễn ra từ hơn
1400 năm về trước, cho tới nay đã hơn 50 thế hệ, kể từ khi tiên tri của họ cho
phép cuộc hôn nhân anh em họ đầu tiên của mình. Đối với nhiều người Hồi
giáo, hôn nhân được coi như là một sự thực thi nghi thức tôn giáo của họ.
Trong nhiều cộng đồng Hồi giáo, hôn nhân cận huyết thống có nguồn gốc từ
16
lịch sử xã hội từ xa xưa, khi ông cha họ cũng đã từng quen với việc cho con
mình kết hôn với con gái hoặc con trai của một người anh em họ của mình và họ cho là câu chuyện xã hội bình thường.
Còn ở Việt Nam, đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: tại sao đến bây giờ mà
tình trạng hôn nhân cận huyết thống vẫn còn tồn tại, để nhiều đứa trẻ phải
chịu “di chứng hôn nhân” của bố mẹ? Tìm về nơi khởi nguồn của những mối
“nhân duyên” trên, chúng tôi đi hỏi các già làng, trưởng bản, nhưng người có
uy tín ở các địa phương..., tất cả đều có chung một câu trả lời: Có lẽ, nguyên
nhân của những mối “nhân duyên” đó bắt nguồn từ câu hát của những người
dân nơi đây nói về tình cảm gắn bó khăng khít giữa anh trai và cô em gái
trong một gia đình. Câu hát nói rằng: “Để tình cảm anh em tồn tại mãi mãi thì