Ảnh hưởng của cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý đến hiệu quả kinh doanh tại các công ty lâm nghiệp nhà nước trên địa bàn các tỉnh phía Bắc Việt Nam. - Pdf 51

iii

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN........................................................................................................ i
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................ ii
MỤC LỤC ................................................................................................................. iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT .......................................................................... vi
DANH MỤC CÁC BẢNG ....................................................................................... vii
DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ ......................................................................... viii
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu .................................................................. 1
2. Mục tiêu nghiên cứu ............................................................................................ 2
2.1. Mục tiêu chung ................................................................................................. 2
2.2. Mục tiêu cụ thể ................................................................................................. 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu....................................................................... 3
3.1. Phạm vi nghiên cứu .......................................................................................... 3
3.2. Đối tượng nghiên cứu ....................................................................................... 3
4. Đóng góp của luận án .......................................................................................... 3
5. Kết cấu của luận án ............................................................................................. 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ
KHOA HỌC VỀ CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ, ẢNH HƯỞNG CỦA
CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ ĐẾN HIỆU QUẢ ................................. 5
KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP ............................................................ 5
1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu ............................................................. 5
1.1.1. Các trường phái lý thuyết về cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và sự ảnh hưởng
của nó đến hiệu quả kinh doanh ............................................................................... 5
1.1.2. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài ......................................... 7
1.2. Cơ sở lý luận về cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và ảnh hưởng của cơ cấu tổ
chức bộ máy quản lý đến hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp .................. 14
1.2.1. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của doanh nghiệp ........................................ 14
1.2.2. Hiệu quả kinh doanh trong các doanh nghiệp ............................................... 31

3.1.1. Đặc điểm của ngành lâm nghiệp .................................................................. 77
3.1.2. Đặc điểm chung của các công ty lâm nghiệp ................................................ 78
3.2. Sự tác động của hệ thống chính sách đến cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của
các công ty lâm nghiệp tại Việt Nam kể từ khi ban hành Nghị quyết
28/2003/NQ/TW đến nay....................................................................................... 78
3.2.1. Giai đoạn thực hiện Nghị quyết 28-NQ/TW (từ năm 2003 đến năm 2014) ....... 78
3.2.2. Giai đoạn thực hiện Nghị quyết 30-NQ/TW (từ năm 2014 đến nay)............. 87
3.3. Thực trạng cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của các công ty lâm nghiệp tại
các tỉnh phía Bắc Việt Nam .................................................................................. 94
3.3.1. Các mô hình tổ chức bộ máy quản lý của các công ty lâm nghiệp tại Việt
Nam ...................................................................................................................... 94
3.3.2. Thực trạng cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của các công ty lâm nghiệp tại các
tỉnh phía Bắc Việt Nam ......................................................................................... 97
3.4. Thực trạng hiệu quả kinh doanh của các công ty lâm nghiệp tại các tỉnh
phía Bắc Việt Nam .............................................................................................. 114
3.4.1. Khái quát hiệu quả kinh doanh của các công ty lâm nghiệp trong cả nước ........ 114


v

3.4.2. Thực trạng hiệu quả kinh doanh của các công ty lâm nghiệp tại các tỉnh phía
Bắc Việt Nam ...................................................................................................... 116
3.5. Ảnh hưởng của cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý đến hiệu quả kinh doanh tại
các công ty lâm nghiệp trên địa bàn nghiên cứu................................................ 126
3.5.1. Kết quả phân tích mô hình hồi quy tuyến tính đa biến với biến phụ thuộc là
lợi nhuận của các CTLN trên địa bàn nghiên cứu ................................................ 126
3.5.2. Kết quả phân tích mô hình hồi quy tuyến tính đa biến với biến phụ thuộc là tỷ
suất lợi nhuận của các CTLN trên địa bàn nghiên cứu ......................................... 138
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN
LÝ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC CÔNG TY

CBCNV

Cán bộ công nhân viên

2

CTLN

Công ty lâm nghiệp

3

HQKD

Hiệu quả kinh doanh

4

LTQD

Lâm trường quốc doanh

5

NLTQD

Nông lâm trường quốc doanh

6


UBND

Ủy ban nhân dân

12

VKD

Vốn kinh doanh


vii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1:

Số lượng các CTLN được chọn làm mẫu nghiên cứu.............................. 65

Bảng 2.2:

Danh sách các CTLN được chọn làm mẫu nghiên cứu............................ 66

Bảng 2.3:

Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo tính chính thức và tính tập trung ..... 75

Bảng 2.4:

Bảng diễn giải các biến trong mô hình hồi quy tuyến tính đa biến .......... 76



Tóm tắt mô hình hồi quy ...................................................................... 140

Bảng 3.9:

ANOVAb trong mô hình biến phụ thuộc là tỷ suất lợi nhuận ................ 142


viii

DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ
Hình:
Hình 3.1.

Đồ thị thể hiện tính chuẩn của phần dư trong mô hình biến phụ thuộc là
lợi nhuận .............................................................................................. 131

Hình 3.2.

Đồ thị thể hiện tính chuẩn của phần dư trong mô hình biến phụ thuộc là tỷ
suất lợi nhuận ....................................................................................... 141

Sơ đồ:
Sơ đồ 1.1. Năm thành phần cơ bản của cơ cấu tổ chức theo Henry Minzberg .......... 20
Sơ đồ 1.2: Sơ đồ khung lý thuyết............................................................................. 51
Sơ đồ 2.1: Quy trình nghiên cứu .............................................................................. 63
Sơ đồ 3.1:

Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của CTLN có đơn vị hạch toán phụ thuộc . 98


Các doanh nghiệp lâm nghiệp nhà nước tại Việt Nam từ năm 2003 trở về trước
có tên là LTQD. Năm 2004 đánh dấu sự bắt đầu của chủ trương đổi mới mạnh mẽ hệ
thống các LTQD bằng Nghị quyết số 28-NQ/TW của BCH TW Đảng ngày 16/03/2003
về việc “tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển nông lâm trường quốc doanh” và Nghị
định số 200/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về “sắp xếp, đổi mới và phát
triển lâm trường quốc doanh”. Từ đó, các LTQD đều được đổi tên thành CTLN. Đến
năm 2010, tất cả các CTLN một lần nữa lại được đổi tên thành Công ty trách nhiệm
hữu hạn 1 thành viên lâm nghiệp (do Nhà nước làm chủ sở hữu) theo Nghị định số
25/2010/NĐ-CP. Trải qua quá trình sắp xếp, đổi mới, các CTLN đã đạt được nhiều
biến chuyển tích cực. Tuy nhiên, HQKD của các công ty này vẫn còn nhiều hạn chế.
Vì vậy, để góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các CTLN, ngày 12/3/2014 Bộ
chính trị tiếp tục ban hành Nghị quyết số 30-NQ/TW về “tiếp tục sắp xếp, đổi mới và


2

phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp”. Nghị quyết
này đã nêu rõ, trong thời gian tới, các CTLN sẽ được sắp xếp thành các loại hình khác
nhau như: công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên, công ty trách
nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên. Việc sắp xếp thành các loại hình khác nhau theo
Nghị quyết 30-NQ/TW sẽ góp phần làm cho các CTLN có sự chuyển biến mạnh mẽ
hơn trong cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của mình. Cho đến thời điểm tháng 12 năm
2016, các công ty này chưa hoàn tất quá trình chuyển đổi sang loại hình mới và vẫn
hoạt động dưới cùng một loại hình là công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên. Mặc
dù các CTLN có tồn tại với cùng một loại hình hay với các loại hình khác nhau thì cơ
cấu tổ chức bộ máy quản lý của các công ty này luôn luôn là khác nhau, và HQKD
cũng vậy. Việc xác định cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý ảnh hưởng như thế nào đến
HQKD của các CTLN là một câu hỏi lớn cần phải giải quyết. Chính vì vậy, tác giả đã
lựa chọn đề tài: “Ảnh hưởng của cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý đến hiệu quả kinh
doanh tại các công ty lâm nghiệp nhà nước trên địa bàn các tỉnh phía Bắc Việt


3.2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và ảnh
hưởng của cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý đến HQKD của các CTLN trên địa bàn các
tỉnh phía Bắc Việt Nam.

4. Đóng góp của luận án
Luận án có một số đóng góp như sau:
Thứ nhất: Đây là nghiên cứu đầu tiên đánh giá ảnh hưởng của cơ cấu tổ chức
bộ máy quản lý đến HQKD của các CTLN trên địa bàn các tỉnh phía Bắc Việt Nam.
Cụ thể, nghiên cứu sẽ khám phá ảnh hưởng của tính phức tạp, tính chính thức, tính tập
trung trong cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý đến HQKD của các công ty này.
Thứ hai: Nghiên cứu góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận về ảnh hưởng của cơ
cấu tổ chức bộ máy quản lý đến HQKD trong doanh nghiệp.
Thứ ba: Nghiên cứu góp phần hoàn thiện hệ thống các chỉ tiêu đánh giá HQKD
của các CTLN. Các CTLN có đặc điểm hoạt động SXKD mang tính đặc thù, vì vậy
cần bổ sung một số chỉ tiêu phản ánh HQKD đặc thù của các công ty này bên cạnh các
chỉ tiêu HQKD trong doanh nghiệp nói chung.
Thứ tư: Đánh giá thực trạng cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và thực trạng
HQKD của các CTLN trên địa bàn nghiên cứu với các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh
nói chung và các chỉ tiêu hiệu quả đặc thù trong CTLN.
Thứ năm: Trên cơ sở phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp góp phần hoàn
thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý nhằm nâng cao HQKD của các CTLN trên địa
bàn nghiên cứu, đề xuất được các mô hình cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của các
CTLN cho phù hợp với từng loại hình công ty được sắp xếp theo Nghị quyết số
30/NQ-TW về “tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động
của công ty nông, lâm nghiệp”.


4

truyền thống phương Tây. (Nguyễn Thành Độ, Nguyễn Ngọc Huyền, 2012).
Đối với những nhà lý luận quản lý cổ điển, để tăng năng suất lao động, việc
điều hòa, phối hợp trong nội bộ doanh nghiệp không quan trọng. Họ nhận định một
cách đơn giản rằng, sau khi phân công trong nội bộ doanh nghiệp, những mục tiêu nhỏ
của các tổ hợp lao động được tổng hợp lại sẽ trở thành mục tiêu lớn của doanh nghiệp.
Nếu cần điều phối thì hoàn toàn có thể dựa vào nhân viên quản lý kinh doanh ở tầng
lớp trên giải quyết. Lý luận của họ là công nhân viên phải nghe theo sự chỉ huy của
giám đốc để đạt được hiệu quả cao. Do đó, cơ cấu điều phối có hiệu quả duy nhất chỉ
có thể là tầng lớp giám đốc. Nhưng kinh nghiệm lại chỉ ra rằng, lý luận đó của họ còn
có rất nhiều khiếm khuyết. Thứ nhất, nó rất khó khích lệ tính tích cực của công nhân
viên tham dự vào việc quản lý kinh doanh của doanh nghiệp. Thứ hai, sự hạn chế của
lý luận đó rất dễ biểu hiện ở những doanh nghiệp lớn vì ở đó tầng nấc phân công rất
phức tạp. Thứ ba, trên thực tế, các giám đốc ngày càng nhận thức được rằng nếu chỉ
dựa vào lãnh đạo ở tầng cao của doanh nghiệp thì rất khó thực hiện được sự điều hòa,
phối hợp trong tổ hợp lao động cơ sở và nó sẽ không tự động hợp thành mục tiêu lớn
của doanh nghiệp.
Chính vì những khiếm khuyết rõ ràng như trên nên theo đà phát triển của
trường phái quan hệ nhân quần và sự phát triển của công đoàn, một số nhà lý luận về
cơ cấu tổ chức, trong đó có nhiều nhà tâm lý học hoặc tâm lý học xã hội đã tìm tòi,


6

nghiên cứu vấn đề này và đề ra một luận thuyết xã hội mới. Đó chính là lý luận về
khoa học hành vi của phương Tây. Lý luận này không đề ra được một kiến nghị rõ
ràng để giải quyết vấn đề phân công của doanh nghiệp, nhưng nó đã đề ra vấn đề thực
hiện sự hợp tác và điều hòa trong nội bộ doanh nghiệp để tăng năng suất lao động, đạt
được hiệu quả cao. Khuyết điểm chủ yếu trong lý luận về khoa học hành vi là ở chỗ họ
nhận định một cách đơn giản rằng, tất cả công nhân viên đều có nhu cầu giống nhau và
có thể dùng một phương thức giống nhau để khích lệ và thúc đẩy, tăng năng suất lao


Tóm lại, những lý thuyết trên thể hiện những quan điểm khác nhau về cơ cấu tổ
chức quản lý trong doanh nghiệp, nhưng tất cả đều nhằm mục tiêu thiết kế, hoàn thiện
một cơ cấu tổ chức hợp lý nhất, hiệu quả nhất để khuyến khích tinh thần làm việc của
người lao động, góp phần tăng năng suất lao động, đạt được mục tiêu tổng thể của
doanh nghiệp. Từ đó, HQKD của doanh nghiệp tăng lên.

1.1.2. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
1.1.2.1. Trên Thế giới
Trong khoa học quản lý, các kết quả nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ giữa
cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và hiệu quả của tổ chức. Tuy nhiên, mối quan hệ đó
như thế nào lại phụ thuộc vào các quan điểm khác nhau khi nghiên cứu hiệu quả của tổ
chức. Đó là quan điểm dựa vào nguồn lực và quan điểm dựa vào tri thức (Wei Zheng,
Baiyin Yang, Gary N. McLean, 2009). Hai quan điểm này không mâu thuẫn mà bổ
sung cho nhau.
Quan điểm dựa vào nguồn lực thừa nhận rằng khả năng cạnh tranh của công ty
có được là nhờ những tài sản hữu hình và vô hình có giá trị, độc đáo và bền vững. Các
nguồn lực của một công ty sở hữu bao gồm: kỹ năng quản lý, quy trình tổ chức, những
thông tin và kiến thức (Barney, 1991). Hay theo R.L.Daft (2004): Nguồn lực của một
công ty bao gồm tất cả các tài sản, năng lực, tổ chức quy trình, đặc điểm của công ty,
thông tin, và những yếu tố khác kiểm soát công ty.
Với quan điểm này, hiệu quả của tổ chức có mối quan hệ với các yếu tố nguồn
lực của tổ chức như: cơ cấu tổ chức, văn hóa của tổ chức, chiến lược, môi trường, công
nghệ của tổ chức. Chẳng hạn: Sharif Zadeh (1993) cho rằng: cơ cấu tổ chức bộ máy
quản lý là một trong những yếu tố quan trọng để đạt được sự thành công tổ chức. Hay
theo R.L.Daft (2004) và Grant (1996): cơ cấu tổ chức, văn hóa tổ chức và chiến lược
của tổ chức là ba nguồn lực quan trọng đã được nghiên cứu rộng rãi trong mối liên hệ
với hiệu quả của tổ chức. Cũng theo quan điểm này, kết quả nghiên cứu của Masoud
Poor Kiani và Narges Hosini Kahnoog (2013) cho thấy: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản
lý và hiệu quả của tổ chức có mối quan hệ với nhau. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu

Hầu hết trong các nghiên cứu gần đây, các thang đo về cơ cấu tổ chức bộ máy
quản lý được sử dụng theo nhóm thứ hai. Một vài nghiên cứu trước đây có sử dụng cả
các thang đo của nhóm thứ hai và một vài thang đo của nhóm thứ nhất (như qui mô
của tổ chức, sự phân cấp). Tuy nhiên, theo kết quả nghiên cứu của Herbst (1957);
Revans (1958); Bidwell & Kasarda (1975); Corwin (1970) cho thấy không có mối
quan hệ giữa qui mô tổ chức và hiệu quả của tổ chức tại đơn vị nghiên cứu. Bên cạnh
đó, khó có thể khái quát được mối quan hệ giữa sự phân cấp với hiệu quả tổ chức vì
các kết quả báo cáo là trái ngược nhau (Meltzer & Salter, 1962; Ivancevich &
Donnelly, 1975). Các nghiên cứu trên được thực hiện tại các công ty than, trường học,
bệnh viện, các doanh nghiệp sản xuất...
Dựa trên các kết quả nghiên cứu trên, trong nội dung nghiên cứu của đề tài này,
các thang đo về cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý được sử dụng theo nhóm thứ hai, bao
gồm: tính phức tạp, tính chính thức, tính tập trung của cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý.


9

Theo Masoud Poor Kiani, Narges Hosini Kahnoog (2013): Các tác giả đã đặt ra
4 giả thuyết nghiên cứu bao gồm: (1) Có một mối quan hệ giữa cơ cấu tổ chức và hiệu
quả tổ chức trên địa bàn nghiên cứu; (2) Có một mối quan hệ giữa tính phức tạp và
hiệu quả tổ chức trên địa bàn nghiên cứu; (3) Có một mối quan hệ giữa tính chính thức
và hiệu quả tổ chức trên địa bàn nghiên cứu; (4) Có một mối quan hệ giữa tính tập
trung và hiệu quả tổ chức trên địa bàn nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu tại các Sở công
cộng Rafsanjan cho thấy, các giả thuyết số (1), (3), (4) đều được khẳng định.
Theo Wei Zheng, Baiyin Yang, Gary N. McLean (2009): Trong số các giả thuyết
tác giả đưa ra, có giả thuyết H5 liên quan đến cơ cấu tổ chức và hiệu quả tổ chức. Tác giả
đã đặt ra giả thuyết H5: Tính tập trung của cơ cấu tổ chức có ảnh hưởng tiêu cực tới hiệu
quả tổ chức; Kết quả nghiên cứu cho thấy, tính tập trung của cơ cấu tổ chức có ảnh hưởng
đáng kể và ảnh hưởng tiêu cực tới hiệu quả tổ chức trên địa bàn nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu của Laleh Baniasadi, Dr.Masoud Poorkiani, Dr.Aflatoon

Equation Modeling) để xác định ảnh hưởng của một vài nhân tố, trong đó có nhân tố
cơ cấu tổ chức đến hiệu quả tổ chức. Mô hình mạng SEM là sự mở rộng của mô hình
tuyến tính tổng quát, cho phép nhà nghiên cứu kiểm định một tập hợp phương trình hồi
quy cùng một lúc. Mô hình SEM phối hợp được tất cả các kỹ thuật như hồi quy đa
biến, phân tích nhân tố và phân tích mối quan hệ tương hỗ (giữa các phần tử trong sơ
đồ mạng) để cho phép chúng ta kiểm tra mối quan hệ phức hợp trong mô hình. Do các
nghiên cứu này xác định mối quan hệ đồng thời của nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hiệu
quả tổ chức (như: mối quan hệ giữa văn hóa tổ chức, cơ cấu tổ chức, chiến lược của tổ
chức với hiệu quả tổ chức hay ảnh hưởng của cơ cấu tổ chức và quy trình hoạt động
của tổ chức đến hiệu quả tổ chức) nên cần sử dụng nhiều phương trình hồi quy, vì vậy
các tác giả sử dụng mô hình SEM là phù hợp.
Trong nghiên cứu này, với mục tiêu là xác định mức độ ảnh hưởng của nhân tố
cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý đến hiệu quả kinh doanh nên tác giả không xác định
nhiều phương trình hồi quy cùng một lúc, vì vậy tác giả sử dụng mô hình hồi quy
tuyến tính để đo lường mức độ ảnh hưởng này tại các CTLN trên địa bàn nghiên cứu.
Nghiên cứu tổng quan cho thấy, mô hình tác giả sử dụng không mâu thuẫn với những
công trình nghiên cứu trước đó.

1.1.2.2. Tại Việt Nam
Trải qua quá trình 10 năm thực hiện việc sắp xếp, đổi mới theo Nghị quyết số
28-NQ/TW ngày 16/6/2003 của Bộ Chính trị, các CTLN ở nước ta đã đạt được những
thành công nhất định. Tuy nhiên, trong Báo cáo tổng kết công tác thực hiện Nghị quyết
số 28-NQ/TW ngày 16/6/2003 của Bộ Chính trị về sắp xếp, đổi mới và phát triển nông
- lâm trường quốc doanh đã nêu rõ, sau 10 năm thực hiện Nghị quyết, các CTLN này
vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn, nhìn chung HQKD còn thấp. Xuất phát từ thực trạng
đó, có một số công trình nghiên cứu khoa học đã được thực hiện nhằm góp phần tháo
gỡ khó khăn này. Các nghiên cứu có thể được chia thành 2 nhóm như sau:
Thứ nhất: Những nghiên cứu góp phần đổi mới cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý
của các CTLN tại Việt Nam. Những nghiên cứu trong nhóm này gồm có:


Trước bối cảnh các CTLN kinh doanh kém hiệu quả, năm 2008, tác giả Trần
Hữu Dào nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
SXKD cho các công ty lâm nghiệp đang hoạt động theo luật doanh nghiệp”. Kết quả
nghiên cứu bước đầu cho thấy, quá trình chuyển đổi từ LTQD sang hoạt động theo mô
hình CTLN là phù hợp. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đó thì một số CTLN
sau khi chuyển đổi còn lúng túng, SXKD thua lỗ, đời sống người lao động khó khăn.
Đặc biệt, mục tiêu khi chuyển đổi các LTQD sang CTLN là để hoạt động theo luật
doanh nghiệp thống nhất, nhưng trên thực tế thì các CTLN vẫn là các doanh nghiệp
nhà nước đang hoạt động theo luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003. Vì vậy, để các
CTLN hoạt động theo luật doanh nghiệp thống nhất thì phải tiếp tục nghiên cứu
chuyển các công ty lâm nghiệp sang các loại hình doanh nghiệp khác như: Công ty
TNHH một thành viên, công ty cổ phần... Tuy nhiên, hạn chế của đề tài là chưa chỉ ra
được những khó khăn đối với CTLN khi chuyển đổi sang loại hình doanh nghiệp khác.
Mặt khác, đề tài cũng chỉ đề xuất là tất cả các công ty sẽ chuyển sang cùng 1 loại hình
doanh nghiệp nào đó mà chưa chỉ ra được các CTLN có những đặc điểm khác nhau thì
sẽ chuyển đổi sang loại hình phù hợp khác nhau.


13

Với mục tiêu nắm được thực trạng quản lý, sản xuất kinh doanh của các CTLN
nhà nước và đề xuất cơ chế, chính sách quản lý phù hợp, Tổng cục Lâm nghiệp đã
thực hiện dự án “Đánh giá thực trạng các công ty lâm nghiệp nhà nước nhằm đề xuất
định hướng phát triển, phương thức quản lý và chính sách phù hợp” trong thời gian từ
tháng 1/2013 đến tháng 2/2014. Dự án đã đánh giá được thực trạng các CTLN và đạt
được các kết quả cụ thể như sau:
- Đánh giá thực trạng quản lý, SXKD của các CTLN Nhà nước sau khi thực
hiện Nghị định số 200/2004/NĐ-CP của Chính phủ.
- Đánh giá hiện trạng của các CTLN theo mục tiêu, quan điểm, phương hướng
và giải pháp chủ yếu của Nghị quyết 28-NQ/TW.

1.2.1. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của doanh nghiệp
1.2.1.1. Khái niệm
* Khái niệm tổ chức:
- Theo Nguyễn Thị Ngọc Huyền, Đoàn Thị Thu Hà, Đỗ Thị Hải Hà (2013):
"Tổ chức là một thuật ngữ được sử dụng rất linh hoạt:
Thứ nhất: “Tổ chức là một hệ thống gồm nhiều người cùng làm việc vì mục
đích chung trong hình thái cơ cấu ổn định”. Theo khái niệm này, tổ chức là một danh
từ. Mỗi một trường học, một bệnh viện, một công ty, một cơ quan hay một gia đình...
đều là một tổ chức.
Thứ hai: Theo nghĩa rộng, “tổ chức là quá trình triển khai các kế hoạch”. Theo
khái niệm này, tổ chức là một động từ. Ví dụ, người ta vẫn thường nói: “tổ chức thực
hiện kế hoạch”, “tổ chức thực thi chính sách” hay “tổ chức triển khai dự án”... Khi đó,
tổ chức bao gồm ba chức năng của quá trình quản lý, bao gồm: đảm bảo các nguồn lực
cho thực hiện kế hoạch, chỉ đạo thực hiện kế hoạch và kiểm soát thực hiện kế hoạch.
Thứ ba: Với tư cách là một chức năng quản lý, “tổ chức là quá trình sắp xếp
nguồn lực con người và gắn liền với con người là các nguồn lực khác nhằm thực hiện
thành công kế hoạch”. Đây là động từ tổ chức theo nghĩa hẹp. Về bản chất, tổ chức là
phân chia công việc, sắp xếp các nguồn lực và phối hợp các hoạt động nhằm đạt được
các mục tiêu chung."
- Theo Bùi Anh Tuấn, Phạm Thúy Hương (2013):
"Tổ chức là một tập hợp các cá nhân riêng lẻ tương tác lẫn nhau, cùng làm việc
hướng tới những mục tiêu chung và mối quan hệ làm việc của họ được xác định theo
cơ cấu nhất định.
Bên cạnh đó, tổ chức cũng được coi là một hệ thống các hoạt động do hai hay
nhiều người phối hợp hoạt động với nhau nhằm đạt được mục tiêu chung. Theo định
nghĩa này, tổ chức bao gồm các yếu tố cấu thành sau:
+ Những người trong tổ chức đều phải làm việc hướng tới một mục tiêu chung
của tổ chức;
+ Phối hợp các nỗ lực của con người trong tổ chức là nền tảng tạo nên tổ chức;


hiểu biết và khả năng điều chỉnh các mối quan hệ không chính thức, tạo được sự đồng
thuận về ý chí, tình cảm. Hoạt động của cơ cấu không chính thức giúp ích nhiều cho
việc giải quyết các vấn đề phức tạp, tế nhị trong quản lý.”
"Cơ cấu tổ chức không chính thức không được thể hiện trên sơ đồ cơ cấu tổ
chức. Cũng có trường hợp, nó được ghi nhận như một phân hệ bổ sung, thường đó là
các Hội đồng tư vấn về từng lĩnh vực, các tiểu ban, các nhóm chuyên gia... Các tổ
chức đó không cần biên chế chuyên trách mà sử dụng những người trong bộ máy làm
kiêm nhiệm, hoạt động thường xuyên theo định kỳ hoặc tồn tại có thời gian.
Sự đan chéo vào nhau các quan hệ chính thức và các quan hệ không chính thức
tạo thành một cơ cấu tổ chức gồm 2 hệ, giúp cho các nhiệm vụ quản lý được thực hiện
một cách toàn diện và có kết quả cao. Trong quản lý, điều cực kỳ quan trọng là phải
xác định được mức độ tối ưu để kết hợp hoạt động của cơ cấu tổ chức không chính
thức và cơ cấu tổ chức chính thức."

* Phân loại theo các yếu tố hình thành nên cơ cấu tổ chức:
Theo Bùi Anh Tuấn, Phạm Thúy Hương (2013):
"Dựa trên các yếu tố chính hình thành nên cơ cấu tổ chức, có thể phân chia cơ
cấu tổ chức bộ máy quản lý thành cơ cấu tổ chức cơ học và cơ cấu tổ chức hữu cơ.
- Cơ cấu tổ chức cơ học: là một cơ cấu “cứng nhắc”, quan liêu với những luật lệ
nghiêm ngặt, nhiệm vụ được xác định rõ ràng, phạm vi của nhiệm vụ hẹp, sự trao đổi
thông tin theo chiều từ cấp trên xuống cấp dưới và có xu hướng ra quyết định tập trung.
Cơ cấu này có đặc điểm: bộ phận hóa cao; phạm vi kiểm soát hẹp; tính chính
thức hóa cao; tập quyền; thông tin giới hạn.
- Cơ cấu tổ chức hữu cơ: là mạng lưới linh hoạt của những cá nhân có nhiều
khả năng, những người có thể thực hiện được nhiều nhiệm vụ và có xu hướng ra các
quyết định phi tập trung. Cơ cấu này có đặc điểm: tính chính thức thấp; phân quyền;
phạm vi kiểm soát rộng; thông tin rộng rãi.
Cơ cấu tổ chức cơ học phù hợp với môi trường ổn định trong khi cơ cấu tổ chức
hữu cơ lại có tính linh động và phản ứng nhanh với những thay đổi của môi trường."


Theo Bùi Anh Tuấn, Phạm Thúy Hương (2013): Việc xây dựng và hoàn thiện cơ
cấu tổ chức bộ máy quản lý trong doanh nghiệp phải đảm bảo những yêu cầu sau đây:
- "Tính tối ưu: Giữa các khâu và các cấp quản lý đều thiết lập những mối liên
hệ hợp lý (các khâu phản ánh cách phân chia chức năng quản lý theo chiều ngang, còn
cấp quản lý thể hiện sự phân chia chức năng theo chiều dọc). Cơ cấu tổ chức bộ máy
quản lý cần mang tính năng động cao, luôn luôn đi sát và phục vụ hoạt động sản xuất,
kinh doanh của doanh nghiệp."



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status