Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng từ thực tiễn huyện bình chánh, thành phố hồ chí minh - Pdf 51

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ KHẮC TUẤN

QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT DƯỚI MỨC THẤP NHẤT CỦA
KHUNG HÌNH PHẠT ĐƯỢC ÁP DỤNG TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

HÀ NỘI, năm 2018


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ KHẮC TUẤN

QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT DƯỚI MỨC THẤP NHẤT CỦA
KHUNG HÌNH PHẠT ĐƯỢC ÁP DỤNG TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8 38 01 04

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. TRẦN VĂN ĐỘ

HÀ NỘI, năm 2018


nhất của khung hình phạt được áp dụng ...............................................................29
2.3. Thực tiễn áp dụng quy định về quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của
khung hình phạt được áp dụng tại Toà án nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố
Hồ Chí Minh .........................................................................................................48
Tiểu kết Chương 2 ...................................................................................................53
Chương 3: YÊU CẦU VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP
DỤNG QUY ĐỊNH VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT DƯỚI MỨC THẤP
NHẤT CỦA KHUNG HÌNH PHẠT ĐƯỢC ÁP DỤNG .....................................54
3.1. Yêu cầu nâng cao hiệu quả áp dụng quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất
của khung hình phạt ..............................................................................................54


3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định về quyết định hình phạt dưới
mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng ...............................................57
Tiểu kết Chương 3 ...................................................................................................75
KẾT LUẬN ..............................................................................................................77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS:

Bộ luật Hình sự

BLHS năm 2015:

Bộ luật Hình sự năm 2015
(Sửa đổi, bổ sung năm 2017)


Bảng 2.3: Tổng hợp số liệu về áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của
khung hình phạt được áp dụng của TAND huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí
Minh từ năm 2013 đến năm 2017


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
QĐHP là việc Tòa án lựa chọn loại và mức hình phạt cụ thể áp dụng đối với
người phạm tội tương tứng với tội danh cụ thể quy định tại BLHS năm 2015. Về
nguyên tắc khi QĐHP, Tòa án chỉ được phép lựa chọn loại và mức hình phạt đã
được quy định cụ thể tại khung hình phạt áp dụng đối với người phạm tội. Bởi lẽ,
khi xây dựng luật, nhà làm luật đã cân nhắc đến tính chất và mức độ nguy hiểm cho
xã hội của những trường hợp phạm tội khác nhau để phân ra thành những tội, loại
tội phạm khác nhau và các khung hình phạt khác nhau. BLHS nước ta không quy
định các khung hình phạt cứng (nghĩa là chỉ có một mức hình phạt cố định để áp
dụng cho từng tội phạm), mà trong mỗi khung hình phạt có định mức hình phạt tối
thiểu và tối đa. Điều này cho phép Tòa án có thể có điều kiện lựa chọn loại và mức
hình phạt phù hợp với từng trường hợp phạm tội cụ thể.
Hình phạt được quy định trong mỗi khung hình phạt là sự phản ánh tính chất
và mức độ nguy hiểm của tội phạm được quy định trong phạm vi khung hình phạt
(khoản) tương ứng với tội danh nhất định. Tuy nhiên, việc cân nhắc tính chất, mức
độ nguy hiểm của tội phạm để quy định khung hình phạt đối với nhà làm luật bao
giờ cũng mang tính khái quát tương đối. Nhà làm luật không thể có điều kiện để dự
trù hết tất cả các trường hợp phạm tội khác nhau để quy định những hình phạt tương
ứng đối với từng trường hợp phạm tội có thể xảy ra trên thực tế. Bởi vậy, để tăng
khả năng lựa chọn của Tòa án khi QĐHP đối với những trường hợp phạm tội cụ thể
khác nhau, nhất là khả năng lựa chọn hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật áp
dụng đối với người phạm tội, pháp luật hình sự Việt Nam cũng như nhiều quốc gia
trên thế giới còn mở rộng trường hợp cho phép Tòa án có khả năng lựa chọn mức
độ và loại hình phạt tương ứng với cùng một hành vi nhưng ở những trường hợp

nhân khác nhau, trong đó, có những nguyên nhân chủ quan từ phía người áp dụng
pháp luật do không nghiên cứu toàn diện các quy định của pháp luật hình sự, tuy
nhiên phần lớn các vướng mắc, bất cập xuất phát từ nguyên nhân khách quan là do
những quy định của BLHS năm 2015 về vấn đề này còn chưa rõ ràng, chưa được
hướng dẫn cụ thể, dẫn đến người áp dụng pháp luật mà chủ yếu là Tòa án còn tỏ ra
lúng túng khi vận dụng các quy định này trong quá trình giải quyết vụ án.


Do đó, việc nghiên cứu quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung
hình phạt được áp dụng trên phương diện lý luận là rất cần thiết và có ý nghĩa quan
trọng trong việc hoàn thiện pháp luật hình sự để đáp ứng yêu cầu thực tiễn xét xử
của ngành Tòa án trong giai đoạn hiện nay. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu này
không thể chỉ dừng lại ở phạm vi lý luận mà cần có sự mở rộng nghiên cứu trên
phạm vi thực tiễn, bởi việc đối chiếu giữa lý luận với thực tiễn xét xử của Ngành
Tòa án sẽ cho chúng ta những dẫn chứng sinh động về hoạt động QĐHP dưới mức
thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng của Tòa án, từ đó có những nhìn nhận,
đánh giá toàn diện, khách quan hơn. Nếu làm được điều này sẽ góp phần nâng cao
chất lượng quyết định và áp dụng hình phạt, đáp ứng mục tiêu nâng cao hiệu lực,
hiệu quả của công tác xét xử các vụ án hình sự.
Đó cũng chính là lý do mà Tác giả quyết định chọn Đề tài “QĐHP dưới mức
thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng từ thực tiễn huyện Bình Chánh, thành
phố Hồ Chí Minh” cho luận văn tốt nghiệp của mình. Theo đó, Đề tài cũng gắn liền
với thực tiễn công tác của Tác giả tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành
phố Hồ Chí Minh.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Do có nhiều cách hiểu và những vướng mắc như tác giả đã phân tích ở trên
nên quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng
được nhiều tác giả uy tín trong lĩnh vực hình sự nghiên cứu và đề cập đến trong
nhiều công trình nghiên cứu khoa học khác nhau, như: “Một số ý kiến về áp dụng
Điều 38 Khoản 3 Bộ luật Hình sự” của tác giả Trần Văn Độ năm 1989; “Vấn đề

mới phát sinh trong việc áp dụng pháp luật trên thực tiễn. Do đó, nội dung này cần
tiếp tục được mở rộng nghiên cứu ở nhiều mức độ khác nhau, trong đó, có kế thừa
các các công trình nghiên cứu nêu trên về điều kiện và giới hạn của QĐHP dưới
mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng.


3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu toàn diện có hệ thống về các vấn đề lý luận và thực tiễn
quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng, đồng
thời phân tích chuyên sâu quy định này kèm theo đánh giá thực tiễn áp dụng quy
định này tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn
năm 2013-2017; chỉ ra một số vướng mắt, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp
dụng pháp luật của Tòa án, từ đó đề xuất những yêu cầu và giải pháp nâng cao hiệu
quả áp dụng QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được các mục đích nêu trên, Luận văn phải thực hiện những nhiệm vụ
nghiên cứu chủ yếu sau:
- Làm rõ những nội dung về mặt pháp lý cơ bản của quy định về QĐHP dưới
mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng theo quy định của BLHS năm
2015 và một số nước trên thế giới. Trong đó, có đề cập đến lịch sử hình thành quy
định này theo quy định của pháp luật.
- Phân tích những quy định của BLHS về QĐHP dưới mức thấp nhất của
khung hình phạt được áp dụng.
- Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn áp dụng quy định về QĐHP dưới mức thấp
nhất của khung hình phạt tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí
Minh giai đoạn năm 2013-2017; Phân tích các thiếu sót, vướng mắc trong thực tiễn
xét xử và nguyên nhân của chúng để từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quy
định của BLHS (bao gồm việc ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng) và các giải
pháp khác nâng cao hiệu quả áp dụng về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình

dụng trên cơ sở phân tích, đánh giá từ thực tiễn áp dụng quy định này tại Tòa án
nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh để đề xuất những yêu cầu và
giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình
phạt được áp dụng. Đây là cơ sở quan trọng để nghiên cứu và hoàn thiện quy định
này. Hơn nữa góp phần nhận thức đúng căn cứ QĐHP dưới mức thấp nhất của
khung hình phạt được áp dụng trong thực tiễn.


6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Điểm mới quan trọng nhất của luận văn là phân tích những điểm chưa rõ
ràng và có nhiều cách hiểu, cách áp dụng khác nhau của quy định QĐHP dưới mức
thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng từ đó đưa ra giải pháp phù hợp nhất
nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về vấn đề này.
Luận văn cũng có thể là tài liệu nghiên cứu đối với những người quan tâm
đến quy định QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài Phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn
gồm có 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung
hình phạt được áp dụng;
Chương 2: Quy định của pháp luật hình sự về QĐHP dưới mức thấp nhất của
khung hình phạt và thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, thành
phố Hồ Chí Minh;
Chương 3: Yêu cầu và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định về
QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng.


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT DƯỚI MỨC
THẤP NHẤT CỦA KHUNG HÌNH PHẠT ĐƯỢC ÁP DỤNG

của khung hình phạt mà điều luật đã quy định hoặc chuyển sang một hình phạt khác
thuộc loại nhẹ hơn”[24, tr. 220].
Theo Giáo trình luật Hình sự (Phần chung) của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội thì QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy
định tức là áp dụng hình phạt đó với mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều
luật quy định đối với tội phạm bị xét xử, còn chuyển sang một hình phạt khác thuộc
loại nhẹ hơn nghĩa là thay thế loại hình phạt được quy định trong điều luật về tội
phạm bị xét xử bằng một loại hình phạt khác nhẹ hơn không được quy định trong
điều luật [40, tr. 332].
Tuy nhiên, các khái niệm này chưa phân tích các tiêu chí đánh giá khách
quan các quy định của pháp luật, chưa nêu ra được các điều kiện áp dụng QĐHP
dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng theo BLHS năm 2015. Hơn
nữa, các khái niệm này được hình thành từ nền tảng BLHS năm 1999, sửa đổi, bổ
sung năm 2009, hiện nay đã thay thế bởi BLHS năm 2015.
Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy QĐHP dưới mức thấp nhất của khung
hình phạt được áp dụng có một số đặc điểm như sau:
- QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng là một dạng
của QĐHP sau khi định tội danh và xác định khung hình phạt mà người phạm tội bị
xét xử.
- Là hoạt động chỉ do Tòa án (Hội đồng xét xử) thực hiện khi QĐHP bằng
cách đưa ra mức hình phạt cụ thể đối với người phạm tội bằng bản án của Tòa án.
- Chỉ áp dụng khi có các điều kiện quy định tại Điều 54 BLHS năm 2015.
- QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng phải trong
khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của Điều luật (trừ trường hợp đồng phạm lần đầu
với vai trò giúp sức không đáng kể) hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại
nhẹ hơn.


- Thể hiện chính sách nhân đạo, cá thể hóa trong quyết định hình phạt...
Từ những phân tích nêu trên có thể hiểu bản chất của việc QĐHP dưới mức

Nguyên tắc cá thể hóa hình phạt đối với người phạm tội trong vụ án có đồng phạm
để tạo ra sự công bằng trong việc QĐHP.
1.1.3. Điều kiện quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình
phạt được áp dụng
QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng là trường hợp
đặc biệt của QĐHP. Tùy trường hợp, khi áp dụng quy định này thì Tòa án có thể
QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng trong khung hình
phạt liền kề nhẹ hơn của Điều luật hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại
nhẹ hơn.
Tuy nhiên, việc áp dụng quy định QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình
phạt được áp dụng không chính xác sẽ dẫn đến hình phạt áp dụng cho người phạm
tội quá nhẹ không tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho cho xã hội
của tội phạm, nhân thân người phạm tội, từ đó, ảnh hưởng đến mục đích của hình
phạt được áp dụng. Do đó, để đảm bảo áp dụng quy định này thống nhất trong thực
tiễn và tránh tình trạng Tòa án áp dụng tùy tiện khi xét xử thì cần phải hiểu đúng
quy định của pháp luật về điều kiện áp dụng chế định này.
Điều 54 BLHS năm 2015 quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung
hình phạt được áp dụng như sau: “1. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới
mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình
phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm
nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này; 2. Tòa án có thể quyết định một
hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt
buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm
tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng
kể; 3. Trong trường hợp có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2
Điều này nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là
khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án có thể QĐHP dưới mức thấp nhất của khung


hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc

mang bản chất pháp lý. Nên đây được xem là một TTGN TNHS, vì nó thể hiện sự
tích cực của người phạm tội đối với hành vi phạm tội của mình nhằm giảm bớt hậu
quả thiệt hại thực tế có thể xảy ra.
- Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục
hậu quả (điểm b).
Quy định này được hiểu là người phạm tội tự nguyện thực hiện việc sửa
chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả. Đây là ba hành vi có cùng một ý
nghĩa là hạn chế hậu quả của tội phạm đã xảy ra. Cho nên người phạm tội thực hiện
một, hai hay cả ba hành vi đều là một TTGN TNHS.
- Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn (điểm h).
Cũng như quy định tại điểm a, đây là hai ý loại trừ nhau, không đồng thời tồn
tại trong một trường hợp phạm tội. Cho nên, chỉ cần có một tình tiết thì đã là TTGN
TNHS. Không thể coi đây là hai tình tiết giảm nhẹ.
- Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng (điểm i)
Đây là hai yếu tố cần và đủ của một tình tiết. Người phạm tội lần đầu chỉ
trong trường hợp ít nghiêm trọng mới được coi là một TTGN TNHS.
- Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải
Thành khẩn khai báo được hiểu là người phạm tội trong quá trình tố tụng
(điều tra, truy tố, xét xử) đã khai đầy đủ và đúng sự thật những gì liên quan đến
hành vi phạm tội mà họ đã thực hiện. Việc người phạm tội thành khẩn khai báo giúp
cho quá trình tố tụng được nhanh chóng, đúng người, đúng tội.
Ăn năn hối cải là trường hợp sau khi thực hiện tội phạm, người phạm tội thể
hiện sự hối hận, cắn rứt, dày vò lương tâm về hành vi phạm tội của mình nên chứng
minh cho việc mình muốn sửa chữa, cải tạo thành người có ích cho xã hội, bù đắp
những tổn thất, thiệt hại do hành vi phạm tội của mình gây ra.
Tuy nhiên có được xem “ người phạm tội thành khẩn khai báo” và “người
phạm tội ăn năn hối cải” là hai TTGN TNHS hay không. Quan điểm của tác giả,
“thành khẩn khai báo” và “ăn năn hối cải” là hai trường hợp khác nhau, có trường
hợp thành khẩn khai báo nhưng không ăn năn hối cải hoặc ngược lại không thành




Phạm tội lần đầu là từ trước đến nay chưa phạm tội lần nào. Nếu trước đó đã
phạm tội và bị kết án, nhưng đã được xóa án tích hoặc chưa bị kết án, nhưng đã hết
thời hiệu truy cứu TNHS hoặc chưa bị kết án, chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS
nay bị truy cứu TNHS trong cùng lần phạm tội sau, thì không được coi là phạm tội
lần đầu (Giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ số 01/2017-GĐ-TANDTC). Theo đó,
những người đã từng phạm tội mà tiếp tục phạm tội thì lần phạm tội bị Tòa án đang
xét xử không thể coi là “phạm tội lần đầu”.
“Người giúp sức” là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực
hiện tội phạm (khoản 3 Điều 17 BLHS năm 2015). “Đồng phạm” là trường hợp có
hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm (khoản 1 Điều 17 BLHS năm
2015). Riêng cụm từ “Có vai trò không đáng kể”, hiện nay chưa có văn bản nào
hướng dẫn cụ thể. Hành vi của người phạm tội trong trường hợp nào sẽ được xem là
có vai trò không đáng kể… Do đó, thực tiễn áp dụng sẽ lúng túng hoặc áp dụng quy
định này không thống nhất.
1.1.3.3. Điều kiện quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình
phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn
Theo quy định tại khoản 3 Điều 54 BHS năm 2015 thì khi QĐHP dưới mức
thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng, Tòa án có thể quyết định hình phạt
dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác
thuộc loại nhẹ hơn. Tuy nhiên, để áp dụng quy định này, cần đảm bảo có đủ các
điều kiện sau:
- Bị cáo phải có đủ các điều kiện để QĐHP dưới mức thấp nhất của khung
hình phạt được áp dụng quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều 54 BLHS năm
2015 nêu trên, có nghĩa là phải có ít nhất hai TTGN TNHS quy định tại khoản 1
Điều 51 BLHS năm 2015 hoặc điều kiện người phạm tội lần đầu là người giúp sức
trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể. Đây được xem là điều kiện
cần.
- Điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt bị cáo bị truy

Bên cạnh ý nghĩa về chính trị-xã hội, ý nghĩa về pháp lý hình sự, QĐHP dưới
mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng còn có ý nghĩa giáo dục, cải tạo


người phạm tội vì giáo dục, cải tạo người phạm tội là mục đích của hình phạt. Việc
QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng càng sát với tính chất
và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội càng có ý nghĩa giáo dục, cải
tạo người phạm tội. Họ sẽ sớm cải tạo và trở lại xã hội, xây dựng cuộc sống, khắc
phục lỗi lầm đã gây ra, đóng góp vào quá trình xây dựng và phát triển đất nước.
Ngược lại, nếu QĐHP không phù hợp sẽ ảnh hưởng đến quá trình giáo dục, cải tạo
người phạm tội và ý thức tự nguyên chấp hành pháp luật của họ.
1.3. Khái quát so sánh quy định về quyết định hình phạt dưới mức thấp
nhất của khung hình phạt được áp dụng của một số nước trên thế giới (Liên
bang Nga, Trung Quốc, Liên bang Đức)
1.3.1. Những điểm tương đồng và khác biệt
Quy định QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng là
một trong những nội dung thể hiện chính sách khoan hồng của một Nhà nước đối
với người thực hiện hành vi phạm tội nên được nhiều nước quy định, trong đó, có
Nước Liên bang Nga, Trung Quốc và Liên bang Đức.
BLHS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được Quốc hội Trung Hoa thông qua
ngày 01/7/1997, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/1990. Trong đó, quy định về
QĐHP nhẹ hơn khung hình phạt quy định được quy định tại Điều 63 của BLHS
Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, cụ thể: “Khi có TTGN mà Bộ luật này quy định
được áp dụng một hình phạt giảm nhẹ thì phải QĐHP theo khung hình phạt nhẹ
hơn theo quy định. Trong trường hợp không có TTGN theo quy định của Bộ luật
này, nhưng căn cứ vào tình tiết đặc thù của vụ án, TAND tối cao có thể QĐHP nhẹ
hơn trong khung hình phạt”. Các điều kiện về TTGN là điều kiện để QĐHP theo
khung hình phạt nhẹ hơn quy định tại BLHS nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
chỉ có hai TTGN là “tự thú và “lập công” quy định tại Điều 67 và Điều 68. Cụ thể:
“Sau khi phạm tội mà tự nguyện đầu thú với công an và thật thà khai báo hành vi

là 1 năm, bằng mức thấp nhất mà luật quy định trong các trường hợp còn lại. (2)
Nếu tòa án được phép giảm nhẹ hình phạt theo đánh giá của mình trên cơ sở của
một luật khác được chỉ dẫn đến quy định này thì có thể giảm đến mức thấp nhất của



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status