ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HÒA
ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ LÃNH ĐẠO
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƢ NHÂN
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI, 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HÒA
ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ LÃNH ĐẠO
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƢ NHÂN
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2015
Chuyên Ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 03 15
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: TS. PHẠM THỊ LƢƠNG DIỆU
HÀ NỘI, 2017
Hội đồng Nhân dân
HTX
Hợp tác xã
SXKD
Sản xuất kinh doanh
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
TW/TƯ
Trung ương
UBND
Ủy ban Nhân dân
NXB
Nhà xuất bản
1.2.2. Chỉ đạo phát triển Đảng, công đoàn cơ sở, nghiệp đoàn ..................... 38
1.2.3. Chỉ đạo hoạt động khuyến khích doanh nghiệp, doanh nhân ............... 40
Chƣơng 2: ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƢ NHÂN TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2015
......................................................................................................................... 44
2.1. Chủ trƣơng của Đảng bộ tỉnh ................................................................ 44
2.1.1. Bối cảnh và yêu cầu mới ....................................................................... 44
2.1.2. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ (2006-2015) ........................... 49
2.2. Sự chỉ đạo thực hiện ............................................................................... 51
2.2.1. Chỉ đạo phát triển về số lượng, ngành nghề, vốn ................................. 51
2.2.2. Chỉ đạo đào tạo nguồn nhân lực ở các doanh nghiệp .......................... 72
2.2.3. Chỉ đạo hoạt động cổ vũ, biểu dương, khuyến khích doanh nhân, doanh
nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh .................................................. 74
2.2.4. Chỉ đạo công tác phát triển Đảng, xây dựng công đoàn cơ sở............. 75
Tiểu kết Chương 2 ........................................................................................... 78
Chƣơng 3:NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM ............................................. 70
3.1. Nhận xét .................................................................................................. 70
3.1.1. Về ưu điểm ............................................................................................. 70
3.1.2. Về hạn chế ............................................................................................. 77
3.2. Một số kinh nghiệm................................................................................ 83
3.2.1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ đối với kinh tế tư nhân, không
ngừng đổi mới về tư duy trong suốt quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế tư
nhân ................................................................................................................. 83
3.2.2. Kiện toàn hệ thống pháp luật, tạo lập môi trường tâm lý xã hội thuận lợi
cho thành phần kinh tế tư nhân hoạt động, và phát triển .................................. 85
3.2.3. Chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên trách về kinh tế của tỉnh Phú
Thọ ................................................................................................................... 87
3.2.4. Khuyến khích thành lập các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân ............... 88
kinh tế của đất nước, đặc biệt trong những năm gần đây. Tuy nhiên, sự lãnh
đạo của Đảng với kinh tế tư nhân vẫn còn nhiều hạn chế, chưa phát huy được
vai trò, vị trí cũng như thực lực để kinh tế tư nhân tham gia ngày càng hiệu
quả vào nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay.
Thực hiện những chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng trong phát
triển kinh tế tư nhân, Đảng bộ tỉnh Phú Thọ đã chú trọng và tiến hành lãnh
1
đạo phát triển kinh tế tư nhân. Sự tiến triển về mặt nhận thức của Đảng bộ
tỉnh Phú Thọ không phải trong một thời gian ngắn mà trải qua nhiều giai
đoạn với thời gian lâu dài. Những nhận thức này ngày càng hoàn thiện, đầy đủ
và phù hợp với yêu cầu của đất nước hơn. Qua quá trình phát triển của kinh tế
tư nhân ở Phú Thọ, có thể khẳng định những chủ trương, chỉ đạo của Đảng
bộ ngày càng được hoàn thiện, phát triển và có nhiều đóng góp quan trọng với
địa phương cũng như đất nước. Tuy nhiên, trong quá trình lãnh đạo, Đảng bộ
vẫn còn nhiều thiếu sót, hạn chế trong nhận thức cũng như chỉ đạo. Kinh tế tư
nhân vẫn chưa được coi trọng phát triển đúng, xứng đáng với tiềm năng cũng
như lợi thế của tỉnh Phú Thọ.
Nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ phát triển kinh tế tư
nhân, nhất là thời kỳ 1997-2015 vừa là tìm hiểu một nguyên nhân thành công
cũng như hạn chế của quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân, đánh giá
về vị trí, vai trò, xu hướng phát triển để kinh tế tư nhân tham gia một cách có
hiệu quả vào quá trình hình thành và phát triển của kinh tế Phú Thọ, vừa có
thể rút ra những kinh nghiệm để thực hiện tốt hơn nữa chủ trương cũng như
sự chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ. Đồng thời, đóng góp một
phần nhỏ để làm rõ thêm bức tranh toàn cảnh của lịch sử kinh tế tư nhân Phú
Thọ trong những năm 1997-2015.
Vì những lý do trên, tôi quyết định lựa chọn đề tài “Đảng bộ tỉnh Phú
1986 đến 1995 [43], tác giả đã khái quát tình hình phát triển kinh tế tư nhân ở
Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử (1954-1985) với các bước thăng trầm từ khôi
phục, phát triển đến cải tạo kinh tế tư nhân và đặc biệt nghiên cứu sự phát triển
kinh tế tư nhân một cách đầy đủ từ khi đổi mới năm 1986 đến năm 1995.
Kinh tế tư nhân Việt Nam sau hai thập kỷ đổi mới – Thực trạng và những
vấn đề đặt ra (2005) [61], tác giả Đinh Thị Thơm đã thu thập và hệ thống các bài
viết về kinh tế tư nhân từ Đại hội VI, tác giả tiến hành phân tích, đánh giá và đưa
ra những giải pháp đúc kết trong những công trình nghiên cứu vấn đề lý luận, thực
tiễn phát triển, hạn chế cũng như triển vọng phát triển của kinh tế tư nhân.
Nguyễn Đức Chính (2011), Phát triển kinh tế tư nhân ở Bắc Ninh trong
3
điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế [13], luận án Tiến sĩ Kinh tế. Tác giả đã
nghiên cứu quá trình tăng trưởng và phát triển của kinh tế tư nhân, sự tương tác
giữa kinh tế tư nhân với kinh tế nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài,
đề xuất một số giải pháp để thúc đẩy sự tăng trưởng của kinh tế tư nhân.
2.2. Nhóm 2: các công trình, bài viết nói về chủ trương, chính sách,
sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, của Đảng bộ các địa phương, về
quản lý nhà nước đối với KTTN
Trong nhóm nghiên cứu này có một số công trình tiêu biểu như: Thành
phần kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân – lý luận và chính sách [53],
Kinh tế tư nhân và quản lý Nhà nước đối với kinh tế tư nhân ở nước ta hiện
nay [62], Tìm hiểu đường lối kinh tế trong Nghị quyết Đại hội IX của Đảng
[49], Về đổi mới cơ chế chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài
quốc doanh hiện nay [52], Quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân ở nước ta
hiện nay [60], Đổi mới quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp công
nghiệp tư nhân ở Việt Nam [35], Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo phát triển
kinh tế tư nhân từ năm 1986 đến năm 2005 [23]...
Nam của tác giả Phạm Thị Lương Diệu đã nghiên cứu quá trình hình thành và
phát triển tư duy của Đảng về vai trò, vị trí của kinh tế tư nhân của Đảng
Cộng sản Việt Nam trong 20 năm đầu thời kỳ đổi mới (1986-2005). Trình bày
sự tiến triển về quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách phát triển, tổ
chức thực hiện thông qua 3 giai đoạn: thừa nhận và cho phép kinh tế tư nhân
phát triển trong những năm 1986-1989; lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân từ
năm 1990 đến năm 1999; đẩy mạnh phát triển kinh tế tư nhân trong những
năm 2000-2005. Bên cạnh đó, tác giả luận án đã đưa ra nhận xét về ưu điểm
cũng như hạn chế về sự lãnh đạo của Đảng với kinh tế tư nhân, lý giải nguyên
nhân; rút ra một số kinh nghiệm nhằm nâng cao hơn nữa năng lực lãnh đạo
của Đảng đối với thành phần kinh tế năng động này.
Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân từ năm
1991 đến năm 2005 [61], luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thị Quyên, 2015,
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. Luận văn đã làm rõ: các yếu
5
tố tác động, chi phối đến sự lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân của Đảng bộ
tỉnh Quảng Ninh; trình bày chủ trương, đường lối và quá trình chỉ đạo phát
triển kinh tế tư nhân của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh từ năm 1991 đến năm
2005; nhận xét ưu điểm, hạn chế; rút ra các kinh nghiệm chủ yếu trong chủ
trương lãnh đạo và quá trình chỉ đạo thực hiện phát triển kinh tế tư nhân của
Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh...
2.3. Nhận xét về các công trình nghiên cứu nói trên
Các nhóm công trình nghiên cứu nói trên đã đạt được những kết quả
quan trọng, và đây cũng là những nội dung mà tác giả luận văn này có thể
tham khảo, kế thừa:
- Về nội dung: các nhóm công trình nghiên cứu đều thừa nhận KTTN là
khu vực cung cấp khối lượng sản phẩm lớn nhất cho xã hội. Sự tồn tại nhiều
năng lực lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ, thúc đẩy KTTN phát triển mạnh
mẽ hơn góp phần tích cực vào sự phát triển KT - XH của địa phương.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích của luận văn: làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo phát triển
kinh tế tư nhân của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ từ năm 1997 đến năm 2015, từ đó rút
ra một số kinh nghiệm phát triển kinh tế tư nhân của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
- Khái quát các yếu tố tác động, chi phối đến sự lãnh đạo phát triển kinh
tế tư nhân của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ.
- Trình bày chủ trương và sự chỉ đạo phát triển kinh tế tư nhân của
Đảng bộ tỉnh Phú Thọ từ năm 1997 đến năm 2015 qua 2 giai đoạn nghiên
cứu: 1997-2005; 2006-2015.
- Nhận xét ưu điểm, hạn chế; rút ra các kinh nghiệm chủ yếu trong chủ
trương và sự chỉ đạo thực hiện phát triển kinh tế tư nhân của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Phú
Thọ với phát triển kinh tế tư nhân từ năm 1997 đến năm 2015.
7
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về nội dung: trình bày chủ trương của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ trong
phát triển kinh tế tư nhân trên cả 3 bộ phận kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản
tư nhân; với sự chỉ đạo thực hiện trên các mặt như: chỉ đạo phát triển về số
lượng, về ngành nghề, vốn; chỉ đạo đào tạo nguồn nhân lực ở các DN; chỉ đạo
hoạt động cổ vũ, biểu dương, khuyến khích doanh nhân, DN trong hoạt động
SXKD; chỉ đạo công tác phát triển Đảng, xây dựng công đoàn cơ sở... Song,
tùy theo mỗi giai đoạn nghiên cứu, luận văn có những trình bày khác nhau về
số lượng các nội dung này.
- Khái quát các yếu tố tác động, chi phối đến sự lãnh đạo phát triển kinh
tế tư nhân của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ.
- Trình bày chủ trương và sự chỉ đạo phát triển kinh tế tư nhân của Đảng bộ
tỉnh Phú Thọ từ năm 1991 đến năm 2005 qua 2 giai đoạn: 1997-2005; 2006-2015.
- Đánh giá những ưu điểm, hạn chế, lý giải nguyên nhân... trong quá
trình lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ trong
những năm 1997-2015; từ đó rút ra một số kinh nghiệm có ý nghĩa thực tiễn
về vấn đề này nhằm tăng cường, nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng bộ, thúc
đẩy sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường
hiện nay.
7. Bố cục của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn
được chia thành 3 chương:
Chƣơng 1: Chủ trương và sự chỉ đạo phát triển kinh tế tư nhân của
Đảng bộ tỉnh Phú Thọ từ năm 1997 đến năm 2005
Chƣơng 2: Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo đẩy mạnh phát triển kinh
tế tư nhân trong những năm 2006-2015
Chƣơng 3: Nhận xét và kinh nghiệm
9
Chương 1
CHỦ CHƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ
VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƢ NHÂN TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2005
1.1. Các yếu tố tác động, và chủ trƣơng của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ
về kinh tế tƣ nhân
1.1.1. Các yếu tố tác động
* Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Phú Thọ
Phú Thọ được tái lập ngày 01-01-1997, là một tỉnh trung du miền núi,
lượng gần 50 triệu lít. Tài nguyên nước của Phú Thọ dồi dào, chất lượng còn
khá tốt, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất, sinh hoạt và điều hào môi trường
khí hậu.
Tài nguyên đất, Phú Thọ bao gồm đất nông nghiệp 282.050 ha, chiếm
79,83% tổng diện tích tự nhiên, trong đó đất sản xuất nông nghiệp 98.285 ha
chiếm 34,85%, đất lâm nghiệp 178.732 ha 63,37%, đất nuôi trồng thủy sản
4.974,5 ha chiếm 1,76%; đất nông nghiệp khác 58,69 ha chiếm 0,02%). Đất
đai của Phú Thọ gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của một miền
đất cổ, được chia thành 12 nhóm đất, trong đó đất Feralit đỏ vàng phát triển
trên đá biến chất và đất Feralit trên núi chiếm tới 61% tổng diện tích đất tự
nhiên, nằm ở độ cao trung bình 100m [31; tr12] , tầng đất dày, thành phần cơ
giới nặng, trữ ẩm tốt, độ phì khá, phù hợp cho trồng cây công nghiệp lâu năm.
Tài nguyên rừng, của Phú Thọ gồm 178,90 nghìn ha, trong đó diện tích
rừng tự nhiên là 64.064,6 ha và rừng trồng là 114.843,9 ha [31; tr13]. Nguồn
đất đai và khí hậu thích hợp với phát triển kinh tế nông nghiệp (trồng trọt,
chăn nuôi), đặc biệt là phát triển mô hình trang trại, chăn nuôi gia súc, gia
cầm với số lượng lớn.
Về khoáng sản, Phú Thọ là tỉnh có tiềm năng về khoáng sản, phong phú
về chủng loại, một số khoáng sản có trữ lượng lớn, chất lượng khá cao đáp
ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước và một phần để xuất khẩu. Loại khoáng sản
có trữ lượng lớn đó là: Khoáng sản làm vật liệu xây dựng có: đá vôi xi măng,
11
đá xây dựng, sét xi măng, đá silic, Puzơlan... Khoáng sản công nghiệp có:
barit, kaolin, fenspat, sét gốm sứ, quăczit.. và nhiều loại khoáng sản nhiên
liệu, khoáng sản kim loại, nước khoáng- nước nóng và nguyên tố phóng xạ.
Các khoáng sản trên được phân bố rải rác tại 241 điểm mỏ và điểm quặng các
loại, trong đó có 20 mỏ lớn và vừa, 52 mỏ nhỏ và 169 điểm quặng. Trong các
* Chủ trương phát triển kinh tế tư nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam
Có một thời gian dài trong lịch sử, kinh tế tư nhân không được khuyến
khích phát triển và là đối tượng cải tạo xã hội chủ nghĩa. Việt Nam chỉ tồn tại
2 thành phần kinh tế chính: Kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể; kinh tế cá thể,
kinh tế gia đình và tiểu chủ phụ thuộc vào kinh tế nhà nước và tập thể. Kinh tế
tư bản tư nhân chuyển thành kinh tế tập thể hoặc kinh tế nhà nước hay công ty
hợp doanh.
Trước năm 1986, tại Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương
Đảng khóa IV (tháng 8/1979) được coi là bước tiến đầu tiên trong thay đổi
chủ trương, chính sách trên lĩnh vực kinh tế nhằm phát triển lực lượng sản
xuất, đánh dấu sự nghiệp đổi mới bắt đầu. Hội nghị đã thừa nhận sự tồn tại
của một nền kinh tế thị trường. Đến Đại hội V (1982) chuyển từ chế độ quan
liêu bao cấp sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Bước đầu tạo cơ sở
pháp lý cho sự hình thành và phát triển của nền kinh tế thị trường gồm nhiều
thành phần kinh tế. Như thế, từ việc coi kinh tế tư nhân là thành phần cần cải
tạo và xóa bỏ, Đảng đã có sự thay đổi nhận thức bằng việc thừa nhận sự tồn
tại của thành phần kinh tế này trong nền kinh tế quốc gia.
Năm 1986, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng với chủ
trương đổi mới toàn diện đất nước, lấy đổi mới kinh tế làm nhiệm vụ trọng
tâm, tiến hành xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, xóa bỏ cơ
chế kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp, thừa nhận sự tồn tại khách quan nền
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần là giai đoạn đầu trong thời kỳ quá độ. Đại
hội đã chính thức xác lập cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam.
Nếu như Đại hội VI nền kinh tế tư nhân mới chỉ được thừa nhận là một
13
bộ phận tồn tại khách quan và cần thiết trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần
VIII đã tiếp tục thực hiện nhất quán chính sách khuyến khích kinh tế tư nhân
phát triển: “Kinh tế cá thể, tiểu chủ có vị trí quan trọng, lâu dài. Giúp đỡ kinh
tế cá thể, tiểu chủ giải quyết các khó khăn về vốn, về khoa học và công nghệ,
về thị trường tiêu thụ sản phẩm. Hướng dẫn kinh tế cá thể, tiểu chủ, vì lợi ích
thiết thân và nhu cầu phát triển của sản xuất, từng bước đi vào làm ăn hợp tác
một cách tự nguyện, hoặc làm vệ tinh cho các doanh nghiệp nhà nước hay
hợp tác xã. Kinh tế tư bản tư nhân có khả năng góp phần xây dựng đất nước.
Khuyến khích tư bản tư nhân đầu tư vào sản xuất, yên tâm làm ăn lâu dài; bảo
hộ quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp, tạo điều kiện thuận lợi đi đôi với tăng
cường quản lý, hướng dẫn làm ăn đúng pháp luật, có lợi cho quốc kế dân
sinh” [25, tr. 347].
Trong Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000
nhấn mạnh: “kinh tế cá thể được khuyến khích phát triển trong các ngành
nghề ở cả thành thị và nông thôn, không bị hạn chế việc mở rộng kinh doanh,
có thể tồn tại độc lập, tham gia các loại hình hay hợp tác xã, liên kết với các
doanh nghiệp lớn bằng nhiều hình thức. Kinh tế tư bản tư nhân được phát
triển không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những ngành, nghề
mà pháp luật không cấm. Nhà nước có thể liên doanh bằng nhiều hình thức
với tư nhân trong và ngoài nước, hình thành loại doanh nghiệp thuộc thành
phần tư bản nhà nước. Kinh tế gia đình không là một thành phần kinh tế độc
lập nhưng được khuyến khích phát triển mạnh. Các doanh nghiệp thuộc các
thành phần kinh tế có thể liên kết thành các liên hiệp hoặc tập đoàn kinh
doanh theo nguyên tắc tự nguyện, trên cơ sở hiệu quả kinh tế và cùng có lợi.
Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần, không
phân biệt đối xử, không tước đoạt tài sản hợp pháp, không gò ép tập thể hóa
tư liệu sản xuất, không áp đặt hình thức kinh doanh, khuyến khích các hoạt
động có lợi cho quốc kế dân sinh” [25, tr. 249].
Thể chế hóa Cương lĩnh và các Văn kiện Đại hội Đảng, Nhà nước đã ban
Luật doanh nghiệp tư nhân. Nhờ đó các nhà đầu tư đã giảm được chi phí, thời
16
gian, tạo môi trường thông thoáng, thuận lợi và bình đẳng nhằm thúc đẩy các
hoạt động SXKD phát triển.
Một bước đột phá hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế tư nhân
phải là sự ra đời của Luật doanh nghiệp (1999) với 10 chương và 124 điều.
Luật đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc huy động và tập trung vốn, bảo
đảm sự quản lý của Nhà nước đối với hoạt động của DN. Một môi trường
kinh doanh thuận lợi và thông thông thoáng được thành lập, gây dựng lòng tin
của nhà đầu tư trong việc thành lập DN và hoạt động kinh doanh.
Sự ra đời nối tiếp của các bộ Luật nhằm đáp ứng nhu cầu hoàn thiện
môi trường kinh doanh, khắc phục những nhược điểm và tạo những điều kiện
thuận lợi để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển, góp phần quan trọng phục vụ
sự nghiệp CN hóa, hiện đại hóa, đảm bảo quyền bình đẳng trong kinh doanh
giữa các thành phần kinh tế.
Phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước là đường lối có tính chiến lược lâu dài,
điều này đã được thể hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ VI, VII, VIII. Theo tiến trình thời gian, những chính sách của Đảng và
Nhà nước đã có sự bổ sung, sửa đổi toàn diện nhằm tạo môi trường và điều
kiện cho sự phát triển của tất cả các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế tư
nhân đã và đang có những đóng góp tích cực vào nền kinh tế đất nước.
Như vậy, nhận thức về kinh tế tư nhân của Đảng đã có những bước thay
đổi, chuyển biến rõ rệt. Từ việc cấm đoán và phải tiến hành cải tạo theo
hướng xóa bỏ thành phần kinh tế này trước năm 1986. Đến Đại hội VI, kinh
tế tư nhân đã được nhìn nhận, xem xét lại sự tồn tại của mình theo hướng cải
tạo để dùng, chứ không phải xóa bỏ, triệt tiêu như trước nữa. Ở các Hội nghị
hàng xuất khẩu; đồng thời tổ chức công tác lưu thông ổn định và cải thiện một
bước cho đời sống cán bộ, công nhân, lực lượng vũ trang và nhân dân lao
động…” [1, tr. 190-191].
18