Tài liêu bội dưỡng thường xuyên môn Toán học năm 2018 - Pdf 52

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO GIA LAI
TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM

TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC THƯỜNG XUYÊN
MÔN TOAN CHO GIAO VIÊN TIỂU HỌC

Chuyên Đề:
BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỔ CHỨC CÁC
HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TOÁN THEO
ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
HỌC SINH TIỂU HỌC

Giảng viên: Ths. Lê Như Thiện

Pleiku, tháng 7 – 2018


MỤC LỤC
A. ĐẶT VẤN ĐỀ.........................................................................................................................1
B. NỘI DUNG.............................................................................................................................3
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NĂNG LỰC NGHỀ NGHIỆP CỦA GIÁO VIÊN TIỂU
HỌC.........................................................................................................................................3
1.1 Năng lực giáo dục..........................................................................................................4
1.1.1 Năng lực chẩn đoán:...............................................................................................4
1.1.1 Năng lực chẩn đoán:...............................................................................................4
1.1.2 Năng lực sử dụng ngôn ngữ....................................................................................5
1.1.2 Năng lực sử dụng ngôn ngữ....................................................................................5
1.1.3 Năng lực cảm hóa học sinh.....................................................................................6
1.1.3 Năng lực cảm hóa học sinh.....................................................................................6
1.1.4 Năng lực đáp ứng....................................................................................................7
1.1.4 Năng lực đáp ứng....................................................................................................7

D.TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................................................29


Chuyên đề: BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG
DẠY HỌC TOÁN THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
HỌC SINH TIỂU HỌC
ThS. Lê Như Thiện
Trường Cao đẳng Sư phạm Gia Lai

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã kí ban hành Nghị quyết Hội nghị lần
thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) với nội
dung đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hóa – hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Đảng và Nhà nước xác định mục tiêu của đổi mới lần này là: Tạo chuyển
biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày
càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân
dân. Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm
năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng
bào; sống tốt và làm việc hiệu quả.
Mục tiêu giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình
thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định
hướng nghề nghiệp cho học sinh; Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú
trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng
lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng
sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời. (Trích nghị quyết số 29NQ/TW).
Đối với cấp tiểu học mục tiêu định hướng hình thành cho học sinh các
phẩm chất và năng lực sau:
Về phẩm chất: Yêu gia đình, quê hương, đất nước; Nhân ái và khoan

dạy học toán theo định hướng phát triển năng lực học sinh tiểu học”.
Vì điều kiện thời gian nghiên cứu, hoạt động trải nghiệm thực tế ở tiểu
học của bản thân còn hạn chế, khả năng diễn đạt, các ví dụ minh họa chưa hay,
rất mong các bạn đồng nghiệp, giáo viên tiểu học góp ý, để chuyên đề hoàn thiện
hơn, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên tiểu học.

2


B. NỘI DUNG
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NĂNG LỰC NGHỀ NGHIỆP CỦA
GIÁO VIÊN TIỂU HỌC
Như chúng ta đã biết quy định về chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học
(Ban hành kèm theo Quyết định số 14/2007/QĐ-BGDĐT ngày 04 tháng 5 năm
2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo). Giáo viên cần có các năng lực
sau:
- Năng lực tìm hiểu học sinh Tiểu học;
- Năng lực tìm hiểu môi trường nhà trường Tiểu học;
- Năng lực tìm hiểu môi trường xã hội;
- Năng lực dạy học các môn học;
- Năng lực tổ chức các hoạt động giáo dục kĩ năng xã hội, kĩ năng sống và
giá trị sống cho học sinh Tiểu học;
- Năng lực tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo;
- Năng lực giải quyết các tình huống sư phạm;
- Năng lực giáo dục học sinh có hành vi không mong đợi;
- Năng lực tư vấn và tham vấn giáo dục Tiểu học;
- Năng lực hiểu biết các kiến thức khoa học nền tảng rộng, liên môn;
- Năng lực chủ nhiệm lớp;
- Năng lực giao tiếp;
- Năng lực hoạt động xã hội, năng lực phát triển nghề nghiệp và năng lực

đoán, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực cảm hóa học sinh, năng lực đáp ứng,
năng lực thiết lập mối quan hệ…
1.1.1 Năng lực chẩn đoán:
Năng lực chuẩn đoán: Tức là năng lực phát hiện và nhận biết đầy đủ,
chính xác và kịp thời sự phát triển của học sinh, những nhu cầu cần được giáo
dục từng học sinh.
Đối với giáo viên tiểu học đây là năng lực đặc biệt quan trọng vì sự phát
triển về các mặt của học sinh ở lứa tuổi tiểu học diễn ra rất nhanh, nhưng lại
không đồng đều, do đó người giáo viên phải biết chuẩn đoán học sinh qua những
biểu hiện sau:
- Thông qua chữ viết (viết số và phép tính) của học sinh, người giáo viên
có những chuẩn đoán ban đầu và biết những nhu cầu, cần giáo dục (rèn luyện)
học sinh đó qua môn tập viết.
- Thông qua giọng nói, cách phát âm, ngữ điệu đọc của học sinh, người
giáo viên hiểu được khả năng tiếng việt của học sinh đó và có kế hoạch dạy học
(rèn luyện) thêm phần Tiếng Việt.
- Thông qua một vài phép tính đơn giản, người giáo viên không chỉ đánh
giá kết quả của phép tính mà thông qua thái độ cử chỉ nét mặt, có thể chuẩn đoán
ngay học sinh cần có nhu cầu giáo dục lĩnh vực nào trong môn toán.

4


- Thông qua cách ăn mặc: Quần áo, giày dép, cặp sách, búi tóc, phương
tiện đi lại của học sinh, người giáo viên có thể chuẩn đoán được mức độ quan
tâm chăm sóc của gia đình đối với học sinh, điều kiện kinh tế của gia đình đó….
- Trong giờ học giáo viên quan sát, thông qua thần thái của từng học sinh,
giáo viên có thể nhận ra trạng thái tâm lý, thái độ học tập, sức khỏe,…từ đó giáo
viên chuẩn đoán được sự thuận lợi hay khó khăn của học sinh trong quá trình
nhận thức.



với ngôn ngữ phụ như: cử chỉ, hành động, nét mặt và những phương tiện khác
của ngôn ngữ, làm cho tiết dạy sinh động hơn.
Một số vấn đề lưu ý khi giáo viên sử dụng ngôn ngữ như không sử dụng
các từ ngữ địa phương, không phát âm sai, cố gắng phát âm theo chuẩn Tiếng
Việt. Liệt kê các từ hay nhầm lẫn sử dụng sai như l và n; ch và tr; s và x; ng và
ngh; d và gi….và bản thân mỗi giáo viên chúng ta cần biết mình còn những hạn
chế nào, trong việc sử dụng ngôn ngữ.
Năng lực sử dụng ngôn ngữ là kết quả của cả một quá trình học tập và
nghiên cứu ở trường sư phạm, trong môi trường giảng dạy, nghiên cứu tài liệu,
học tập ở đồng nghiệp…
1.1.3 Năng lực cảm hóa học sinh
Năng lực cảm hóa học sinh là năng lực gây được ảnh hưởng trực tiếp của
giáo viên bằng tình cảm và ý chí đối với học sinh, nói cách khác đó là khả năng
làm cho học sinh nghe, tin và làm theo giáo viên bằng tình cảm và niềm tin.
Năng lực cảm hóa học sinh phụ thuộc vào một tổ hợp các phẩm chất nhân
cách thầy giáo như:
+ Tinh thần trách nhiệm và nhiệt tình trong công tác.
+ Niềm tin vào sự nghiệp chính nghĩa cũng như kĩ năng truyền đạt niềm
tin đó.
+ Lòng tôn trọng học sinh, phong cách dân chủ nhưng trên cơ sở yêu cầu
cao đối với học sinh (cần tránh sự khoan dung vô nguyên tắc, sự cả tin một cách
ngây thơ, sự thiếu kiên quyết của thầy giáo …)
+ Sự chu đáo và khéo léo đối xử của giáo viên.
+ Lòng vị tha và các phẩm chất của ý chí.
Để có năng lực này, thầy giáo cần:
+ Phải phấn đấu và tu dưỡng để có nếp sống văn hóa, phong cách mẫu
mực nhằm tạo ra một uy tín chân chính và thực sự.
+ Xây dựng một quan hệ thầy trò tốt đẹp: Vừa nghiêm túc, vừa thân mật;

mục tiêu giáo dục.
Giáo viên tiểu học cần có tri thức, có năng lực hiểu biết để đáp ứng được
nhu cầu của công việc;
Năng lực đáp ứng là một năng lực cơ bản, trong các năng lực sư phạm
của người giáo viên dạy học; Tức là giáo viên có khả năng đáp ứng nhu cầu của
học sinh trong quá trình giảng dạy và giáo dục.
Do tiến bộ của khoa học, kĩ thuật, nên xã hội yêu cầu ngày càng cao đối
với trình độ văn hóa chung của thế hệ trẻ, mặt khác thầy giáo cũng cần làm hứng
thú và nguyện vọng của thế hệ trẻ ngày càng phát triển. Thầy giáo có nhiệm vụ
phát triển nhân cách học sinh nhờ một phương tiện đặc biệt là tri thức, quan
điểm, kĩ năng, thái độ, nhất là những tri thức khoa học thuộc lĩnh vực giảng dạy
của mình, tạo ra uy tín cho người thầy giáo.
- Người thầy giáo có tri thức và tầm hiểu biết rộng thể hiện ở chỗ: Nắm
vững và hiểu biết rộng lĩnh vực khoa học chuyên môn giảng dạy của mình.

7


- Thường xuyên theo dõi những thành tựu mới trong lĩnh vực khoa học
thuộc chuyên môn mình phụ trách.
- Có năng lực tự học, tự bồi dưỡng và hoàn thiện tri thức của mình.
Từ đó người giáo viên mới có khả năng, xử lí các tình huống trong dạy
học.
1.1.5 Năng lực đánh giá
Năng lực đánh giá: Đó là năng lực nhìn nhận sự thay đổi trong nhận thức,
kĩ năng thái độ và tình cảm của học sinh.
Trong giai đoạn hiện nay việc đánh giá học sinh tiểu học được thực hiện
theo văn bản hợp nhất số: 03/ VBHN- BGD ĐT ngày 28 thánh 9 năm 2016 của
Bộ đã chỉ rõ: “ Đánh giá học sinh tiểu học nêu trong quy định này là những hoạt
động quan sát, theo dõi, trao đổi, kiểm tra, nhận xét quá trình học tập, rèn luyện

tượng giao tiếp, kỹ năng làm chủ trạng thái cảm xúc của bản thân và kỹ năng sử
dụng phương tiện giao tiếp.
Kĩ năng làm chủ trạng thái cảm xúc của bản thân, biết kiềm chế trạng thái
xúc cảm mạnh, khắc phục những tâm trạng có hại, khi cần thiết có thể bộc lộ
những tình cảm mà lúc này không có hoặc có mà yếu ớt. Đó chính là, biết điều
chỉnh và điều khiển các diễn biến tâm lí của mình cho phù hợp với hoàn cảnh
giao tiếp.
Phương tiện giao tiếp đặc trưng của con người là lời nói, kĩ năng này biểu
hiện ở chỗ: giáo viên biết lựa chọn những từ đắt thông minh, hiền hòa lịch sự …
trong giao tiếp; mặt khác biết sử dụng những phương tiện phi ngôn ngữ như cử
chỉ, điệu bộ, nét mặt nụ cười ….
- Ngoài ra người giáo viên còn có sự tiếp xúc với đồng nghiệp, với phụ
huynh học sinh, với các tổ chức xã hội khác. Thông qua sự giao tiếp này giáo
viên đóng góp công sức của mình vào việc thống nhất, tác động giữa các lực
lượng giáo dục, tạo nên sức mạnh tổng hợp trong sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ.
Việc rèn luyện năng lực giao tiếp, không tách rời việc rèn luyện các phẩm
chất đạo đức và nhân cách của người giáo viên.
1.2 Năng lực dạy học
1.2.1 Năng lực triển khai chương trình dạy học:
Đó là năng lực tiến hành dạy học, căn cứ vào mục đích và nội dung giáo
dục và dạy học đã được quy định, nhưng phù hợp với đặc điểm của đối tượng.
Nhóm các năng lực dạy học bao gồm:
Năng lực chế biến tài liệu học tập là năng lực gia công về mặt sư phạm
của thầy giáo, đối với tài liệu học tập, nhằm làm cho nó phù hợp với trình độ và
đặc điểm nhân cách học sinh nhưng phải đảm bảo logic sư phạm.
Năng lực chế biến tài liệu học tập được thể hiện:
Người giáo viên đánh giá đúng tài liệu, xác lập được mối quan hệ giữa yêu
cầu kiến thức của chương trình, với trình độ nhận thức của học sinh, phải biết
được những thuận lợi và khó khăn của học sinh khi tiến hành giảng dạy.
Giáo viên phải biết xây dựng lại tài liệu, để hình thành cấu trúc bài giảng

1.2.2 Năng lực chuẩn bị kế hoạch dạy học
Người giáo viên có được năng lực chuẩn bị kế hoạch dạy học, điều đầu
tiên người giáo viên cần có các kĩ năng sau:
- Kĩ năng phân tích chương trình dạy học;
- Kĩ năng xác định mục tiêu bài dạy;
- Kĩ năng chuẩn bị phương tiện dạy học;
- Kĩ năng nắm bắt đối tượng;
- Kĩ năng lựa chọn tài liệu và chuẩn bị tri thức mới;
10


- Kĩ năng dự đoán những khó khăn của học sinh trong quá trình lĩnh hội tri
thức mới;
- Kĩ năng soạn bài;
- Kĩ năng lựa chọn các phương pháp dạy học.
1.2.3 Kĩ năng tổ chức các hoạt động nhóm
- Kĩ năng thành lập nhóm học tập;
- Kĩ năng phân công nhiệm vụ học tập;
- Kĩ năng hướng dẫn tổ chức các hoạt động nhóm;
- Kĩ năng quan sát theo dõi, điều chỉnh các tiến trình của hoạt động nhóm;
- Kĩ năng tổ chức báo cáo kết quả hoạt động của các nhóm.
1.2.4 Năng lực giải quyết các tình huống.
Tình huống có vấn đề trong dạy học toán có thể tạm chia ra thành hai
dạng: Một là tình huống có vấn đề xảy ra trong dự kiến của giáo viên; Hai là tình
huống có vấn đề xảy ra ngoài dự kiến.
- Tình huống có vấn đề xảy ra trong dự kiến thì việc giáo viên giải quyết
tình huống này không có gì khó khăn. Vì giáo viên đã có tâm thế chuẩn bị và đã
có phương án giải quyết một cách phù hợp.
- Tình huống có vấn đề trong dạy học toán tiểu học, có khi xuất phát từ
thực tiễn nội dung dạy học, trong đơn vị kiến thức, từ trao đổi và tìm tòi của học

toán sai, thường nhắc nhở học sinh, phải cẩn thận không được làm sai, vì nếu
làm sai, sau này kiểm tra hoặc thi học kì, thi chuyển cấp … thì không làm được,
chính vì vậy mà mục tiêu giáo dục, đã ít nhiều đi chệch hướng là học để thi.
Theo bản thân, mỗi hoạt động trong dạy học toán, đều có thể tích hợp với
các yếu tố giáo dục và hình thành một phẩm chất đạo đức cho học sinh tiểu học.
Ví dụ 1: Khi học sinh thực hiện bài toán tính giá trị biểu thức có dấu
ngoặc, một học sinh đã làm chưa chính xác mở dấu ngoặc mà quên đóng dấu
ngoặc, người giáo viên cho học sinh nêu một số ví dụ mở mà không đóng có gây
tác hại và nguy hiểm gì không?
Nếu học sinh chưa lấy được giáo viên có thể gợi ý lấy một ví dụ như: Mở
điện không tắt điện; mở cửa mà không đóng cửa; mở nước mà không đóng
nước….
Ví dụ 2: Khi thực hiệu tính giá trị biểu thức có nhiều dấu ngoặc học sinh
đã làm sai qui tắc về thứ tự mở các dấu ngoặc, nhiệm vụ người giáo viên cần
củng cố lại quy tắc cho học sinh hiểu, ngoài ra người giáo viên có thể lấy thêm
các ví dụ từ cuộc sống để giáo dục học sinh. Như cha ông ta thường dạy: “học
ăn, hỏi nói, học gói, học mở”.
Hoạt động thảo luận: Anh chị làm sáng tỏ nhận định sau:
1) “Thầy giáo là người nghệ sĩ trên bục giảng”
2) “Thầy giáo là kĩ sư tâm hồn”.
Một số câu danh ngôn hay

12


1) Người thầy trung bình chỉ biết nói. Người thầy giỏi biết giải thích.
Người thầy xuất chúng biết minh họa. Người thầy vĩ đại biết cách truyền cảm
hứng. (William A. Warrd)
2) Học không biết chán, dạy người không biết mỏi. (Khổng Tử)
3) Người thầy thực sự hiểu biết không bắt bạn bước vào ngôi nhà tri thức

- Cách xác nhận kết quả, cách tính điểm, số lượng giải thưởng …
- Hướng dẫn chơi nháp (thử), giúp học sinh nắm được luật chơi.
Bước 3: Thực hiện trò chơi.
Bước 4: Nhận xét khi trò chơi kết thúc:
- Giáo viên hay trọng tài nhận xét về thái độ tham gia trò chơi của, cá
nhân, từng đội, những việc làm chưa tốt để rút kinh nghiệm.
- Trọng tài công bố kết quả chơi của từng cá nhân hay từng đội, trao phần
thưởng cho đội đạt giải.
- Yêu cầu học sinh nêu kiến thức, kĩ năng của bài học mà trò chơi đã thể
hiện.
1) Trò chơi 1: “Ngón tay nhúc nhích”
Giáo viên giơ bàn tay phải lên và cho ngón trỏ cử động, cho các em quan
sát rồi hỏi ngón tay cô thế nào?
14


Gọi một vài em trả lời, ngón tay trỏ của cô cử động, ngón tay cô cong lên
thụt xuống; Cô giáo nói ngón tay cô nhúc nhích đấy.
Bây giờ các em đọc và làm theo hoạt động của cô nhé.
Khi cô giơ một ngón các em đọc một ngón tay nhúc nhích này, một lần;
hai ngón đọc hai lần…. cũng đủ vui rồi.
Hôm sau có thể thay ngón tay bằng các bộ phận khác trong cơ thể, thay từ
“nhúc nhích” bằng từ “lúc lắc” … cũng tạo được một trò chơi khởi động.
Ý nghĩa giáo dục: Giúp học sinh ôn tập phép đếm trong phạm vi 10.
2) Trò chơi 2: “Tay đập, tay chà”.
- Giáo viên ra hiệu lệnh các em giơ hai tay lên cao, tay phải nắm lại làm
cái búa, tay trái xếp lại làm cái “bay” (một dụng cụ trong xây dựng).
- Cái búa dùng để làm gì – để đập; cái bay dùng để làm gì – dùng để chà.
- Dùng hai tay vừa đập vừa chà trên mặt bàn.
- Cả lớp thực hiện theo, sau 5 nhịp cô yêu cầu đổi tay cứ như thế ….

tương tự, qui nạp … có thể tổ chức trò chơi sau.
Minh họa trò chơi “Chạy tiếp sức”
- Giáo viên chuẩn bị 4 bảng phụ, tổ chức cho 4 đội chơi, mỗi đội có 6 bạn
- Nội dung trong bảng như sau:
Tính nhanh tổng sau và viết theo yêu cầu.
Mẫu: 1+ 3 = 4 = 2 x 2
1) 1+ 3+ 5 = … = 3 x …..
2) 1+ 3+ 5 + 7 =……= ….
3) 1+ 3+ 5+ 7+ 9=…..= …….
4) 1+ 3+ 5+ 7+ 9 + 11=…..= …….
5) 1+ 3+ 5+ 7+ 9 + 11+ 13+ 15 =…..=…….
6) 1+ 3+ 5+ 7+ 9 + ……+ 97+ 99 =….. =…….
Có thể sáng tác các nội dung khác nhau, cùng hình thức tổ chức trò chơi
tiếp sức.
4) Trò chơi 4: “Đưa gà về chuồng”.
- Giáo viên chuẩn bị các bảng phụ (hoặc trình chiếu)
- Trong bảng phụ có các hình vẽ chuồng gà có đánh số và các nhóm gà có
số lượng con gà cụ thể.
- Luật chơi: Khi cô giáo hô: “Trời mưa, trời mưa” thì các em hô “đưa gà
về chuồng”. Số con gà đưa về chuồng bằng số tương ứng của chuồng. Chẳng
hạn đưa 4 con về chuồng số 4; 5 con gà đưa về chuồng số 5.
- Trong đó có 6 đàn gà có số lượng theo thứ tự từ 1; 2; 3; 4; 5; 6 con và 5
cái chuồng được đánh số 1; 3; 4; 6; 7. Vì có 6 đàn gà và 5 cái chuồng nên học
sinh lúng túng không đưa được nhóm 2 con gà và 5 con gà vào chuồng nào.
- Nếu đội nào đưa cả nhóm 2 con gà và 5 con gà vào chuồng số 7 thì thắng
cuộc.
16


* Trong thực tiễn, nhiều giáo viên dạy nội dung kiến thức toán trong sách

Ba con một bó.
Hỏi có bao nhiêu trâu đứng, trâu nằm, trâu già?
17


2.1.2 Đố vui
Trong quá trình dạy học có nhiều lí do, giáo viên ít tổ chức hoạt động đố
vui, theo tôi lí do là số câu đố ít, nội dung câu đố không phù hợp với nội dung
tiết học, ngại tìm kiếm và sưu tầm, nhưng nếu sưu tầm thì số câu đố chẳng được
bao nhiêu. Do đó người giáo viên cần thay đổi thái độ, thay đổi cách suy nghĩ,
như những điều học sinh chưa biết, đều có thể trở thành nội dung của một câu
đố, nhưng yêu cầu như thế nào, để tránh câu đố trở thành bài tập thì làm mất đi
tác dụng của nó.
Trong quá trình soạn bài và nghiên cứu giáo viên cần tìm hiểu, sưu tầm và
phân loại các dạng câu đố cho phù hợp với từng đơn vị kiến thức, phù với đối
tượng học sinh, mà giáo viên hướng đến, từng bước tập cho học sinh sưu tầm câu
đố và tạo điều kiện cho các em thể hiện trên lớp, đôi khi phải phân công học sinh
hay theo nhóm chuẩn bị.
Các câu đố vui nhằm gây hứng thú cho học sinh đôi khi phải vận dụng
toán học để giải quyết, nhưng cũng có khi một đáp án bất ngờ mang tính hài
hước cho vui như:
- Khi dạy học kiến thức định hướng không gian: trên, dưới; trước, sau;
trong, ngoài; phải, trái, giáo viên có thể đố như sau.
Câu 1: Cái gì mà tay phải cầm được, còn tay trái không cầm được?
- Khi dạy học kiến thức về: nhiều hơn, ít hơn, mà giáo viên chưa chuẩn bị
câu đố, thì có thể dùng các câu hỏi liên quan đến nhiều hơn, ít hơn, cũng có khi
chỉ cần một từ nhiều hay ít cũng có thể có một hoạt động.
Ví dụ: Uống nhiều nước là tốt hay xấu?
Giáo viên dự kiến, những câu trả lời của học sinh và chuẩn bị đáp án cho
mình, nhưng phải thuyết phục học sinh, phải giúp học sinh hiểu biết thêm về

người.
Nếu giáo viên ra câu đố mà đáp án của nó hoàn chỉnh như giải toán thì có
khi lại mất vui, nên chăng giáo viên có thể đưa ra đáp án bất ngờ thì sẽ tạo được
hứng thú cho học sinh.
Câu 1: Một đồng hồ quả lắc lúc 1 giờ nó đánh 1 tiếng chuông, lúc 2 giờ nó đánh
2 tiếng chuông... lúc 12 giờ nó đánh 12 tiếng chuông.
a) Hỏi từ 1 giờ sáng đến 12 giờ trưa, nó đánh bao nhiêu tiếng chuông?
b) Khi nào nó đánh 13 tiếng chuông?
Câu 2: Một người câu cá. Anh ta câu được 6 con không đầu, 9 con không đuôi
và 8 con một nửa. Hỏi anh ta câu được bao nhiêu con cá?
Câu 3: Chiếc xe ô tô đang đậu làn đường số mấy?
?
16

06

68

88

19

98


Như vậy để có nhiều câu đố thú vị, người giáo viên phải có hứng thú thì
mới tìm kiếm, sưu tầm, sáng tác nhiều câu đố vui.
2.1.3 Kể chuyện
Học sinh tiểu học rất thích được nghe giáo viên kể chuyện, để có kỉ năng
kể chuyện thầy cô giáo phải rèn luyện, để có nội dung các câu chuyện giáo viên



Tù trưởng cũng không làm khó dễ gì nhà Toán học, ông này cắp bụng đói
về phòng nhốt mình.
Tới lượt nhà Văn học được đưa ra với điều kiện tương tự, khi nghe tên tù
trưởng giải thích luật chơi, mắt ông này sáng rực và ngồi ngay vào ghế.
Tù trưởng vờ ngạc nhiên hỏi:
Chẳng nhẽ, mày không thấy là mày sẽ chẳng bao giờ đến tới chỗ mâm cơm
hay sao? Nhà văn học mỉm cười:
Tao không tới tận chỗ mâm cơm, nhưng tao có thể đến đủ gần để ăn được
cơm. (Sưu tầm)
Giáo viên cũng có thể vừa kể chuyện và đan xen với câu đố
Câu1: Ông là ai?
- Vào năm 1442, một thiên tài toán học đã được sinh ra ở làng Cao
Hương, huyện Thiên Bản, đạo Sơn Nam (nay thuộc làng Cao Phương, Nam Hà,)
- Ông là vị trạng nguyên, đã viết nên cuốn sách toán học Đại thành toán pháp.

Nếu học sinh không trả lời được thì giáo viên cung cấp đáp án.
Câu 2: Cân voi
Sứ thần nhà Minh là Chu Huy khi sang nước ta, nghe danh vị Trạng
Nguyên biên soạn cuốn sách Đại thành toán pháp, nên muốn thử tài, câu đố rất
đơn giản, họ thách đố ông tính được cân nặng của một con voi.
Các em cùng suy nghĩ xem, liệu vị Trạng Nguyên của chúng ta, làm thế
nào để tính được.
Câu 3: Tính độ dày 1 tờ giấy
Sau khi tính được cân nặng của voi, sứ thần nhà Minh vẫn tỏ ra chưa phục
nên muốn làm khó Trạng Nguyên. Sứ thần xé ra một tờ giấy và nói: “Tính cân
nặng voi ông còn làm được thì chắc đo độ dày tờ giấy này cũng chẳng khó khăn
gì nhỉ?”
Theo các em nghĩ vị Trạng Nguyên của chúng ta có đo được không và đo

niệm cơ bản và các kiến thức toán học khác.
Do trình độ nhận thức của lứa tuổi học sinh tiểu học, còn nhiều hạn chế về
mặt tư duy logic, nên hầu hết các khái niệm toán trong chương trình tiểu học đều
có thể xem là khái niệm cơ bản.
Đặc điểm chung của dạy học khái niệm toán ở tiểu học.
- Các khái niệm toán học ở tiểu học, gắn liền với hình ảnh trực quan của
các đồ vật gần gũi với đời sống hàng ngày của học sinh.
- Các khái niệm toán học ở tiểu học, được hình thành chủ yếu thông qua
việc tìm hiểu và giải quyết một hay một vài bài toán, ví dụ cụ thể. Có những khái
niệm chỉ được hình thành trong một hay hai tiết nhưng cũng có những khái niệm
được hình thành rải rác trong chương trình.
Do đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học, mà dạy học khái niệm toán
có những nét riêng, không đòi hỏi học sinh nhận biết và phát biểu được những
22


câu định nghĩa như các cấp học trên, mà chỉ yêu cầu nắm bắt được bản chất của
khái niệm.
Quy trình dạy học khái niệm ở tiếu học thường theo các bước sau:
Bước 1: Giáo viên nêu nhiệm vụ nhận thức, định hướng sự quan sát, chú ý của
học sinh.
Khi hình thành khái niệm toán ở tiểu học, giáo viên thường bắt đầu từ một
ví dụ, một hình ảnh hoặc một bài toán cụ thể, có nội dung trong thực tế liên quan
đến khái niệm toán học, mà học sinh sắp được học.
Việc giúp các em làm quen với những hình ảnh trực quan, những biểu
tượng cụ thể liên quan đến khái niệm sẽ giúp học sinh tin tưởng rằng khái niệm
toán học xuất phát và phản ánh thế giới hiện thực khách quan, sau đó giúp học
sinh dễ dàng bước sang cấp độ trừu tượng có tình hình thức cao của khái niệm
toán học.
Bước 2: Tổ chức các hoạt động hướng đến việc hình thành hình ảnh trực quan và


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status