Tp chớ Khoa hc - Cụng ngh Thy sn
S 1/2017
THONG BAO KHOA HOẽC
D LNG THUC TR SU GC CLO TRấN HI SN
TI KHNH HềA
ORGANOCHLORINE PESTICIDE RESIDUES IN SEAFOOD
AT KHANH HOA PROVINCE
Nguyn Thun Anh1, Phan Th Thanh Hin1
Ngy nhn bi: 14/7/2015; Ngy phn bin thụng qua: 8/12/2015; Ngy duyt ng: 10/3/2017
TểM TT
Mc ớch ca nghiờn cu ny nhm cung cp nhng thụng tin v d lng thuc tr sõu gc Clo trong cỏc
loi hi sn i din cho 5 loi hỡnh ngh khai thỏc ph bin Khỏnh Hũa c khai thỏc vi sn lng ln v
tiờu th nhiu t ú cú cỏc gii phỏp kp thi nhm m bo sc khe ngi tiờu dựng. Hm lng thuc tr
sõu gc Clo c phõn tớch bng phng phỏp sc ký khớ u dũ bt in t GC-ECD (Gas Chromatography Electron Capture Detector). Kt qu phõn tớch cho thy t l mu nhim Heptachlor, Aldrin, Endrin, Dieldrin
ln lt l 65,3%, 61,3%, 60,0% v 48,0%. Hm lng thuc tr sõu gc Clo trung bỡnh ca 5 loi hi sn
xỏc nh c nh sau: Heptachlor trong cỏ ng (7,5 àg/kg), mc (9,2 àg/kg), cỏ ng (7,3 àg/kg), cỏ c
(6,9 àg/kg) v cỏ nc (9,0 àg/kg); Aldrin trong cỏ ng (8,3 àg/kg), mc (9,5 àg/kg), cỏ ng (5,2 àg/kg), cỏ c
(7,3 àg/kg) v cỏ nc (12,9 àg/kg); Endrin trong cỏ ng (6,9 àg/kg), mc (5,7 àg/kg), cỏ ng (6,7 àg/kg), cỏ
c (6,5 àg/kg) v cỏ nc (6,9 àg/kg); Dieldrin trong cỏ ng (6,4 àg/kg), mc (6,6 àg/kg), cỏ ng (5,4 àg/kg),
cỏ c (6,6 àg/kg) v cỏ nc (8,7 àg/kg). Khụng cú s khỏc bit cú ý ngha thng kờ gia hm lng Heptachlor,
Aldrin, Endrin, Dieldrin trung bỡnh trong cỏc loi hi sn (cỏ c, cỏ ng, cỏ ng, cỏ nc, mc) (P > 0,05).
T khoỏ: hi sn, thuc tr sõu gc clo, cng cỏ, cỏ c, cỏ ng, cỏ ng, cỏ nc, mc, Khỏnh Hũa
ABSTRACT
The objective of this study is to analyse organochlorine pesticide residues in seafoods consumed
in Khanh Hoa province, using representative of the 5 popular high-yield sheries exploitation types, and also
provide timely solutions to ensure the consumers health. The organochlorine pesticide contents are determined
by GC-ECD (Gas Chromatography - Electron Capture Detector). The results showed that the rates of samples
đến môi trường đất, nước. Khi phun thuốc trên
cây trồng, có hơn 50% thuốc bị rơi vãi xuống
đất. Ước tính có tới 90% thuốc sử dụng không
tham gia diệt sâu, bệnh mà gây nhiễm độc cho
đất, nước, không khí và nông sản. Trong số các
nhóm thuốc trừ sâu thì thuốc trừ sâu gốc Clo có
khả năng tồn lưu rất lâu trong môi trường đất,
nước và khó bị phân hủy hơn các nhóm thuốc
trừ sâu khác. Quá trình rửa trôi của các cơn
mưa làm nước bị nhiễm thuốc trừ sâu. Thêm
vào đó là hệ thống kênh rạch, sông ngòi, ao hồ
dễ dẫn đến tình trạng ô nhiễm nguồn nước trên
diện rộng. Các loài thủy hải sản sống trong môi
trường nước bị ô nhiễm thuốc trừ sâu sẽ có
khả năng bị nhiễm mối nguy này từ môi trường
nước và từ nguồn thức ăn do sự tích lũy sinh
học (Fontcubert và cộng sự, 2008; Meng và
cộng sự, 2009; Moon và cộng sự, 2009).
Thuốc trừ sâu gốc Clo không chỉ phát
hiện được trong nước và thủy sản ở Việt Nam
(Kannan và cộng sự, 1992; Dang và cộng sự,
2001; Hung và Thiemann, 2002; NAFIQAD,
2006; Ngo, 2008; Hsia và Huiyi, 2008) mà
còn ở các nước châu Á khác như Thái Lan,
Campuchia, Phi-líp-pin, Ma-lai-xi-a, Indonesia,
Hồng Kông, Trung Quốc và Nhật Bản (Monirith
và cộng sự, 2000; Cheevaporn và cộng sự,
2005; Yang và cộng sự, 2006; Guo và cộng
sự, 2007; Hsia và Huiyi, 2008) và một số nước
trên thế giới như Thổ Nhĩ Kỳ, Mexico, Úc, Niu
II. ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: 5 loại hải sản đại
diện cho 5 loại hình nghề khai thác ở Khánh
Hòa (sản phẩm nghề chụp: mực, sản phẩm
nghề lưới kéo: cá đổng, sản phẩm nghề lưới
rê: cá ngừ, sản phẩm nghề lưới vây: cá nục,
sản phẩm nghề câu: cá cờ). Đây là các loại hải
sản được khai thác với sản lượng lớn và tiêu
thụ nhiều tại Khánh Hòa.
Mẫu để phân tích thuốc trừ sâu gốc Clo
được lấy tại 5 cảng cá (cảng cá Hòn Rớ, cảng
cá Vĩnh Trường, cảng cá Vĩnh Lương, cảng cá
Đá Bạc và cảng cá Đại Lãnh)
Số lượng mẫu của 5 loại hải sản được
lấy tại 5 cảng ở 3 đợt trải đều trong năm là 75
mẫu (5 loại*5 cảng* 3 đợt = 75 mẫu). Việc lấy
mẫu được thực hiện theo Tiêu chuẩn quốc gia
TCVN 5276:1990 và quy định của Bộ Y tế tại
Thông tư số 14/2011/TT-BYT ngày 01/4/2011
(Bộ Y tế, 2011). Khối lượng mẫu lấy tại 1
điểm trong 1 lần thu mẫu là 1,5 kg (nếu khối
lượng của cá thể lớn hơn 1,5 kg thì lấy toàn bộ
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản
cá thể ấy). Mẫu mang tính đại diện, đảm bảo
tính khách quan, ngẫu nhiên và được bao gói,
ghi ký mã hiệu nhận diện. Mẫu được lấy bằng
dụng cụ đã được rửa sạch, sấy khô. Mẫu và
trị dư lượng thuốc trừ sâu gốc Clo trung bình
trong 5 loại hải sản khai thác được kiểm tra
bằng phép phân tích phương sai một yếu tố
(one-way ANOVA) ở mức ý nghĩa α = 0,05.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Kết quả phân tích tình hình nhiễm thuốc trừ
sâu gốc Clo trên 5 loại hải sản tương ứng với
5 loại hình nghề khai thác tại Khánh Hòa cho
thấy tất cả các mẫu phân tích tích đều không
phát hiện thấy 2,4 - D methyl ester, silvex
methyl ester, lindan, α- chlordan, γ - chlordane,
nonachlor, pp’DDE, pp’DDT, methoxychlor
nhưng lại phát hiện thấy bị nhiễm heptachlor,
aldrin, endrin, dieldrin với tỷ lệ (%) mẫu nhiễm
được trình bày ở biểu đồ Hình 1.
Hình 1. Tỷ lệ (%) nhiễm heptachlor, aldrin, endrin và dieldrin trong mẫu phân tích 5 loài hải sản
(cá cờ, cá nục, cá ngừ, cá đổng, mực) khai thác tại Khánh Hòa
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 5
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản
Số 1/2017
Kết quả trình bày ở Hình 1 cho thấy tỷ lệ mẫu
hải sản nhiễm thuốc trừ sâu gốc Clo như sau:
65,3% mẫu nhiễm Heptachlor (trong đó 13,3%
mẫu cá ngừ, 14,7% mẫu mực, 13,3% mẫu cá
Trung bình
Nhỏ nhất
Lớn nhất
Trung bình
Nhỏ nhất
Lớn nhất
Trung bình
Nhỏ nhất
Lớn nhất
Trung bình
Nhỏ nhất
Lớn nhất
7,5
2,4
23,9
8,3
2,5
23,3
6,9
3,7
9,5
6,4
2,7
11,6
Kết quả biểu diễn ở Bảng 1 cho thấy: hàm
lượng Heptachlor trung bình trong cá ngừ
(7,5µg/kg), mực (9,2µg/kg), cá đổng (7,3 µg/kg),
cá cờ (6,9 µg/kg) và cá nục (9,0 µg/kg)); hàm
3,8
9,5
Cá đổng
7,3
1,2
15,3
5,2
1,2
15,3
6,7
1,7
11,3
5,4
1,2
11,6
Cá cờ
6,9
1,2
15,2
7,3
1,2
14,2
6,5
3,6
11,7
6,6
Kết quả phân tích hàm lượng thuốc trừ sâu
gốc clo (heptachlor, aldrin, endrin, dieldrin) trung
bình trên 5 loại hải sản trong nghiên cứu này
được so sánh với các mức giới hạn hàm lượng
thuốc trừ sâu gốc Clo được phép có trong thủy
sản theo quy định của Cộng đồng chung Châu
Âu và Việt Nam được trình bày ở Bảng 1.
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản
Số 1/2017
Bảng 2. So sánh kết quả hàm lượng thuốc trừ sâu gốc Clo (heptachlor, aldrin, endrin,
dieldrin) trung bình trên 5 loại hải sản đại diện cho 5 loại hình nghề khai thác
trong nghiên cứu này với các quy định liên quan
Giới hạn cho phép (mg/kg)
của Cộng đồng chung
Thuốc trừ Châu Âu (Chỉ thị 96/23/EC)
sâu gốc Clo và Việt Nam (Quyết định
số 46/2007/QĐ-BYT)
(Bộ Y tế, 2007)
Hàm lượng trung bình thuốc trừ sâu gốc clo trên 5 hải sản trong nghiên cứu này
(mg/kg)
Cá ngừ
Mực
Cá đổng
lượng thuốc trừ sâu gốc Clo trung bình trong
hải sản khai thác tại Khánh Hòa của nghiên
cứu này thấp hơn giới hạn hàm lượng thuốc
trừ sâu cho phép trong thủy sản của Cộng
đồng Châu Âu (Chỉ thị 96/23/EC) và Việt Nam
(Quyết định số 46/2007/QĐ-BYT). Mặc dù hàm
lượng thuốc trừ sâu Clo trong hải sản xác định
từ nghiên cứu này nằm trong ngưỡng giới hạn
cho phép trong quy định Việt Nam và Châu Âu
nhưng chưa thể nói là an toàn vì còn tùy thuộc
vào lượng và tần suất sử dụng hải sản của
người tiêu dùng. Hơn thế nữa, ngoài việc ăn
hải sản thì người tiêu dùng còn ăn các thực
phẩm khác cũng có khả năng chứa mối nguy
thuốc trừ sâu gốc Clo như rau, củ, trái cây...
Do vậy, để đánh giá được mức độ an toàn cho
sức khỏe cũng như nguy cơ của người tiêu
dùng đối với mối nguy thuốc trừ sâu Clo do ăn
các thực phẩm ẩn chứa mối nguy này thì cần
tiến hành các nghiên cứu tiếp theo để đánh giá
mức độ tiêu thụ và phơi nhiễm của người tiêu
dùng đối với mối nguy này.
IV. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Kết quả của nghiên cứu đã xác định được
heptachlor, aldrin, endrin, dieldrin trong các
mẫu hải sản đem phân tích với hàm lượng
trung bình dao động từ 0,005 ÷ 0,01 mg/kg.
Việc đánh giá mức độ an toàn đối với sức khỏe
và cảnh báo nguy cơ của người tiêu dùng đối
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
of Persistent Organochlorine Compounds in Foodstuffs from Vietnam, J. Archives of Environmental and
Toxicology, 22: 367-374.
Kelly A.G., Campbell D. Persistent Organochlorine Contaminants in Fish and Shellfish from Scottish Waters,
Scottish Fisheries Research Report, N.54, ISSN 0308 8022, The Scottish Office Agriculture and Fisheries
Department, 28p.
Meng X.Z., Guo Y., Mai B.X., Zeng E.Y., 2009. Enantiomeric Signatures of Chiral Organochlorine Pesticides in
Consumer Fish from South China. Journal of Agricultural Food Chemistry, 57: 4299-4304.
Monirith I., Nakata H., Watanabe M., Takahashi S., Tanabe S., Tana T.S., 2000. Organochlorine contamination
in fish and mussels from Cambodia and other Asian countries. Water Science and Technology, 42: 241-252.
Monirith I., Nakata H., Watanabe M., Takahashi S., Tanabe S., Tana T.S., 2000. Organochlorine contamination
in fish and mussels from Cambodia and other Asian countries. Water Science and Technology, 42: 241-252.
Moon H.B., Kim H.S., Choi M., Yu J., Choi H.G., 2009. Human health risk of polychlorinated biphenyls and
organochlorine pesticides resulting from seafood consumption in South Korea, 2005-2007. Food and Chemical
Toxicology 47: 181-1825.
Stanciu G., Mititelu M., Gutaga S., 2005. Pesticides and Heavy Metals Determination in Marine Organisms
from Black Sea, Chemical Bulletin of “POLITEHNICA” University of Timisoara, 50, 64,1-2:123-126.
Vannoort R.W., Thomson B.M., 2005. New Zealand Total Diet Survey Agricultural Compound Residues, Selected
Contaminants and Nutrients, New Zealand Food Safety Authority, New Zealand, ISBN 0-478-29801-3, 144p.
Yang N., Matsuda M., Kawano M., Wakimoto T., 2006. PCBs and organochlorine pesticides (OCPs) in edible
fish and shellfish from China. Chemosphere, 63, 8:1342-1352.
8 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG