Đánh giá chất lượng tiểu cầu được sản xuất từ máu toàn phần và tiểu cầu chiết tách trên máy tách tế bào tự động tại bệnh viện chợ rẫy - Pdf 52

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP. HCM

---------------------------

VŨ TRẦN DUY

ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG TIỂU CẦU ĐƯỢC SẢN
XUẤT TỪ MÁU TOÀN PHẦN VÀ TIỂU CẦU
CHIẾT TÁCH TRÊN MÁY TÁCH TẾ BÀO TỰ
ĐỘNG TẠI BỆNH VIỆN CHỢ RẪY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Công nghệ sinh
học Mã số ngành: 60420201

TP. HỒ CHÍ MINH,
tháng

năm


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP. HCM

---------------------------

VŨ TRẦN DUY

ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG TIỂU CẦU ĐƯỢC SẢN
XUẤT TỪ MÁU TOÀN PHẦN VÀ TIỂU CẦU
CHIẾT TÁCH TRÊN MÁY TÁCH TẾ BÀO TỰ

1

GS. TSKH. Nguyễn Trọng Cẩn

Chủ tịch

2

TS. Dương Thị Hồng Diệp

Phản biện 1

3

TS. Nguyễn Hoài Hương

Phản biện 2

4

TS. Hồ Viết Thế

Ủy viên

5

TS. TRịnh Thị Lan Anh

Ủy viên, Thư ký


I- Tên đề tài:
Đánh giá chất lượng tiểu cầu được sản xuất từ máu toàn phần và tiểu cầu chiết tách
trên máy tách tế bào tự động tại bệnh viện Chợ Rẫy.
II- Nhiệm vụ và nội dung:

Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng và chất lượng của KTC được sản xuất từ
máu toàn phần và từ máy tự động.

Nghiên cứu sự thay đổi của các chỉ số huyết học, sinh hoá trong túi TC từ
đó đánh giá được chất lượng của túi TC sau thời gian bảo quản.
III- Ngày giao nhiệm vụ: 15.12.2017
IV- Ngày hoàn thành nhiệm vụ: 31.08.2017
V- Cán bộ hướng dẫn:

PGS. TS.Nguyễn Tiến Thắng
TS. DS. Trần Văn Bảo

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

KHOA QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH


(Họ tên và chữ ký)

(Họ tên và chữ
ký)


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài này do chính tôi thực hiện, đây là công trình nghiên cứu


Vũ Trần Duy


TÓM TẮT
Hiện nay máu và các chế phẩm máu được sử dụng ngày càng nhiều. Trong các
chế phẩm máu thì khối tiểu cầu (KTC) được sử dụng phổ biến. Hiệu quả truyền tiểu
cầu trên bệnh nhân phụ thuộc nhiều vào chất lượng khối tiểu cầu. Vì vậy tiến hành
nghiên cứu đánh giá chất lượng chế phẩm KTC được sản xuất tại bệnh viện Chợ Rẫy
theo hai phương pháp. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 40 KTC điều
chế từ máu toàn phần bằng phương pháp Buffy‐coat và 160 KTC gạn tách từ máy tách
tế bào tự động tại bệnh viện Chợ Rẫy; phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang, tiến
cứu in vitro tại 1, 3, 5 ngày lưu trữ. Kết quả và kết luận:
 Khối tiểu cầu (KTC) điều chế từ đơn vị máu toàn phần và KTC gạn tách
từ
người hiến máu bằng máy tách tế bào tự động đạt tiêu chuẩn chất lượng Việt Nam tại
thông tư 26/2013/TT-BYT hướng dẫn hoạt động truyền máu.
 Các thay đổi về các chỉ số huyết học và sinh hoá của KTC: Số lượng tiểu
cầu, nồng độ glucose giảm và có mối tương quan thuận với sự thay đổi của chỉ số pH
KTC theo ngày bảo quản. Độ pH giảm tuy nhiên vẫn trong giới hạn cho phép.
Nồng độ
+

+

LDH, ion Ca TP, K , Na tăng theo ngày bảo quản.


ABSTRACT
Nowadays, blood and blood products are more useful. Especially, the platelet

máu cần phải được sử dụng đúng, hợp lý để phát huy tối đa hiệu quả và hạn chế tai
biến truyền máu. Nguyên tắc cơ bản của truyền máu hiện đại là chỉ truyền các thành
phần máu mà người bệnh cần. Với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và sự hiểu biết đầy
đủ về mặt miễn dịch học, người ta đã có thể tách riêng từng thành phần của máu: hồng
cầu (HC), tiểu cầu (TC), bạch cầu (BC) hạt trung tính, huyết tương tươi, tủa lạnh yếu tố
VIII, các yếu tố đông máu,… Việc sử dụng các chế phẩm vừa mang lại hiệu quả về lợi
ích kinh tế cho bệnh nhân (BN) vừa truyền đúng thành phần mà cơ thể thiếu giúp tránh
lãng phí và hạn chế được tai biến xảy ra trong truyền máu.
Trong các dạng chế phẩm máu thành phần, chế phẩm TC được sử dụng nhiều để
truyền cho những BN cần truyền TC. Bởi TC đóng vai trò quan trọng trong tất cả các
giai đoạn đông cầm máu và góp phần vào quá trình làm lành vết thương. Sự khiếm
khuyết của TC về số lượng hay chất lượng đều có thể đưa đến các phản ứng với các
mức độ từ nhẹ đến nặng khác nhau, hoặc không hiệu quả nhiều khi đe dọa đến tính
mạng của BN (xuất huyết não, đường tiêu hóa, thận,...). Truyền khối tiểu cầu (KTC) là
một liệu pháp điều trị thay thế quan trọng giúp BN tạm thời có đủ số lượng TC cần
thiết để ngăn chặn quá trình chảy máu. Với sự hiểu biết về tầm quan trọng của việc
truyền máu theo đúng các thành phần thì một yêu cầu đưa ra cho các Trung tâm truyền
máu là phải cung cấp đầy đủ về số lượng và đảm bảo chất lượng của KTC cung cấp
cho BN.
Ngoài sản xuất TC theo các phương pháp truyền thống từ các túi máu toàn phần
hiện nay có khá nhiều các hãng sản xuất máy chiết tách TC tự động từ một người cho
như: Haemonetic, Nigale, Trima,… phần nào đáp ứng được nhu cầu sử dụng ngày càng
tăng trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Việc đánh giá chất lượng của mỗi loại KTC
cũng có những tiêu chuẩn khác nhau. Có những yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng TC


2

như người hiến máu, quá trình điều chế, điều kiện bảo quản. Việc đánh giá được chất
lượng TC được sản xuất từ máu toàn phần và từ người hiến TC trên máy tự động sẽ

1.1.1.2. Yếu tố điều hòa sinh tiểu cầu
Theo nghiên cứu của Bertolini và cộng sự (1993) có rất nhiều cytokine tham gia
vào việc điều hòa quá trình sinh TC, các chất này có thể tác động vào nhiều giai đoạn
như tăng sinh, trưởng thành của mẫu TC và sự tạo thành TC. Các cytokine có thể được
chia thành 4 nhóm chính dựa theo hoạt tính sinh học như sau:
 Nhóm tác động ở giai đoạn sớm: SCF (Stem cell factor), LIF
(Leukemic
inhibitory factor), IL-6, IL-11. Trong đó, SCF có tác động làm tăng sinh mẫu TC; LIF,
IL-6 và IL-11 làm mẫu TC trưởng thành biểu hiện ở tăng kích thước TB, tăng sự phân
múi của nhân.
 Nhóm có tác động nhiều dòng: IL-3, GM-CSF (Granulo – mono
colony
stimulating factor), cả hai chất này đều có tác động kích thích sự tạo dòng mẫu TC,
nhưng riêng IL-3 có tác dụng mạnh hơn.


4

 Nhóm tác động ở giai đoạn muộn: erythropoietin (EPO),
thrombopoietin
(TPO). Trong đó, EPO có tác động trong quá trình trưởng thành của mẫu TC. TPO có
nguồn gốc từ gan; có 2 vai trò quan trọng: kích thích tăng sinh số lượng các mẫu TC,
kích thích tăng tốc độ trưởng thành bào tương của mẫu TC (AABB, 1997) và tốc độ
giải phóng của TC. Hiện nay nhiều công trình đã nghiên cứu việc sử dụng TPO điều trị
cho các BN giảm TC như là một biện pháp thay thế.
 Nhóm có tác động ức chế: IL-4, interferon (IFN), TGF (Transforming growth
factor), yếu tố TC 4 (PF-4) và thromboglobulin (TG). Trong nhóm này, PF-4, TG có
nguồn gốc từ TC và IL-4, IFN có nguồn gốc từ ngoài TC. Các chất này có tác động ức
chế quá trình nội gián phân của mẫu TC.
1.1.1.3. Đặc điểm sinh sản của tiểu cầu

to và chia nhiều múi, bào tương rộng chứa nhiều nhóm hạt, mỗi nhóm có khoảng 10 –
12 hạt ái kiềm. Tủy xương có thể tái tạo 108 mẫu TC mỗi ngày. Mỗi mẫu TC có thể
sinh được từ 1.000 đến 5.000 TC (Nguyễn Trường Sơn, 2000; Bertolini et al, 1993).


5

Thời gian sống của TC trung bình từ 8 – 12 ngày. Sự thay đổi của TC gắn liền
với sự lão hoá. Tuy nhiên có một phần nhỏ TC có tình trạng tiêu huỷ ngẫu nhiên, đó là
các TC tham gia vào quá trình đông máu sinh lý. Nhìn chung khoảng 10% TC chết và
được thay thế mỗi ngày.
1.1.2. Hình thái và cấu trúc tiểu cầu
TC mang hình ảnh là các mảnh TB nhỏ, hình dạng không nhất định, thường là
dạng hình đĩa, không nhân, đường kính 2 – 4 µm và thể tích khoảng 6 – 7 fl. Ở trạng
thái nghỉ, bề mặt TC trơn nhẵn; khi được hoạt hóa chúng sẽ nhanh chóng tạo ra các giả
túc hình gai.

Hình 1.2. Cấu trúc tiểu cầu
Dưới kính hiển vi quang học TC có một siêu cấu trúc phức tạp gồm lớp màng,
các hạt, hệ thống vi ống, hệ thống các kinh mở và được chia thành các vùng sau:
 Vùng ngoại vi: là màng TB có nhiều chỗ lõm rất sâu, màng gồm 3 lớp:
 Màng bào tương: màng này được cấu tạo bởi ba lá, hai lá ngoài có bản chất là
phospholipid, còn lá giữa chứa cholesterol, glycolipid và glycoprotein. Lớp màng này
+

+

còn chứa bơm Na /K -ATPase đóng vai trò kiểm soát môi trường ion của TC (Nguyễn
Trường Sơn, 2000). Phospholipid là nguồn của các chất trung gian hoạt hoá TC và hỗ
trợ cho cơ chế đông máu. Các glycoprotein màng đóng vai trò như các thụ thể bề mặt.

với màng bề mặt.
 Hệ thống ống dẫn đậm đặc: hệ thống ống dẫn đậm đặc tương đương với lưới

tương của cơ trơn. Đó là nơi chính dự trữ calcium ion hoá mà các chuyển động nội bào
tương đương của nó kiểm soát sự hoạt hoá TC. Nó có sự liên quan mật thiết với hệ
thống ống dẫn bề mặt.
 Bào tương
Ở trạng bình thường, TC có dạng đĩa được bao quanh bởi một vòng các vi ống
tạo thành một hệ ống đa trùng hợp đóng vai trò bộ khung TB đó là sườn vi ống. Trong
quá trình hoạt hoá TC, hệ vi ống tự giải trùng hợp và TC thay đổi hình dạng. Hiện
tượng tương tự xảy ra khi TC ở trong môi trường có chất loại bỏ calcium mạnh như
EDTA. TC có chứa nhiều protein cơ giúp TC thay đổi hình dạng, mọc giả túc, di động
và tiết các hạt. Hai protein chính của hệ thống co rút là actin và myoisin và cũng có
một hệ thống điều hoà phức hợp liên quan đến nhiều protein khác.
 Các hạt nội TC: phân biệt 3 loại hạt TC: hạt đậm đặc, hạt α và các hạt tiêu
thể.
 Các hạt đậm đặc: thường ít, số lượng từ 1 đến 10/TC, tương tự hệ thống
ống
đậm đặc chúng có chứa các calci cũng như serotonin và các hạt nucleotid. Các hạt


7

nucleotid đại diện là ATP, và nhất là ADP. ADP và serotonin là các chất trung gian


7

hoạt hoá TC, hơn nữa serotonin có tác động trên tính vận mạch. Cuối cùng ATP và
ADP khác với các nucleotid bào tương không thể được tiết ra và là nguồn chuyển hoá


2+

 Các yếu tố khác bao gồm: fibronectin, thrombospondin, ion Ca .
1.1.3.3. Khả năng gây ngưng tập TC
Đây là hiện tượng tiểu cầu dính với nhau thành từng đám (nút tiểu cầu). Hiện
tượng dính hoạt hoá tiểu cầu, tạo điều kiện cho hiện tượng ngưng tập (aggregation) xảy
ra. Một số chất có khả năng gây ngưng tập tiểu cầu là: ADP, thrombin, adrenalin,
serotonin, acid arachidonic, thromboxan A2, collagen, ristocetin,... trong đó ADP đóng
vai trò quan trọng nhất. Cơ chế ngưng tập là qua trung gian của liên kết fibrinogen
GPIIb/GPIIIa đã được hoạt hoá có mặt ở lớp ngoài bào tương.
Cơ chế gây ngưng tập phải qua trung gian liên kết của fibrinogen với GPIIb/IIIa
đã được hoạt hoá có mặt ở lớp ngoài bào tương. Fibrinogen được xem như cầu nối
những GPIIb/IIIa của các TC với nhau và do đó tạo ra được sự ngưng tập của TC. Điều
kiện để TC ngưng tập phải là màng TC phải nguyên vẹn không bị tổn thương và có mặt
một số yếu tố huyết tương, đặc biệt là fibrinogen.
1.1.3.4. Khả năng thay đổi hình dạng và phóng thích các chất
Khi được hoạt hóa (sau khi kết dính), TC có khả năng thay đổi hình dạng và bài
xuất ra các chất.
1.1.4. Sinh hoá của tiểu cầu
TC được tạo ra từ sự phân mảnh của bào tương mẫu TC. Các TC không có
nhân, vì vậy chúng không tổng hợp protein. Hai quá trình chuyển hoá chính của TC lúc
nghỉ là sự ly giải đường hay glycogen và sự phosphoryl hoá. Các quá trình này tăng lên
rõ rệt khi TC bị hoạt hoá, ngoài ra các quá trình sinh hoá khác cũng xảy ra khi TC bị
kích thích như sự dịch chuyển của ion calci, sự phosphoryl hoá protein, sự giải phóng
các arachidonate,…
1.1.4.1. Chuyển hoá của TC khi nghỉ ngơi
TC sử dụng năng lượng từ ATP, chất này có thể được thành lập qua sự thoái
giáng của glucose, acid béo, acid amin từ huyết tương hay môi trường nuôi dưỡng và
từ glycogen của TC (Nguyễn Trường Sơn, 2000).

10

Hình 1.3. Chuyển hóa của acid arachidonic
Trong TC một phần nhỏ PGH2, sản phẩm của sự tương tác cyclooxygenase –
arachidonate, được chuyển hoá thành các prostaglandin ổn định (PGE2, PGD2, PGFα),
trong khi đó phần lớn sản phẩm chuyển thành thromboxane A2 dưới tác dụng của
thromboxane synthetase.
Qua con đường lipoxygenasse, acid arachidonic được chuyển hoá thành 12HPETE và 12-HETE
1.1.4.2. Hoạt hóa TC
Khi TC đến khu vực mạch máu bị tổn thương, chúng được kích hoạt bởi một
loạt chất chủ vận bao gồm ADP, thrombin, thromboxanes,… tương tác với các thụ thể
xuyên màng. Kết quả cho phép kích hoạt các enzyme tham gia vào chuyển hóa, đặc
biệt phosphatidyninositol 3-kinase và phospholipase C. Kết quả quá trình hoạt động
chuyển hóa trong nồng độ cao của Ca

++

bào tương và phosphoryl hóa các protein bề

mặt mang lại thay đổi hình dạng TC, giải phóng các chất trong hạt α và hạt đặc, kích
thích phospholipase A2 và giải phóng thromboxan A2 (TXA2), cảm ứng một bề mặt
gây đông máu và kích hoạt thụ thể GPIIb/IIIa.


11

TXA2 được tổng hợp bởi TC kích hoạt từ acid arachidonic thông qua con đường
cyclooxygennase (COX), sau khi hình thành TXA2 khuếch tán qua màng TB và kích
hoạt TC khác. Ở các TC TXA2 liên kết với các thụ thể G-protein (Gq, G12, hoặc G13) tất
cả đều kích hoạt phospholipase C (PLC). Enzyme này chuyển hóa phosphoinositide

bão hòa nguồn gốc từ TC bao gồm cả acid arachidonic hoặc có thể bởi các phân tử
khác có nguồn gốc từ các mạch máu. EDRF ức chế chất chủ vận gây ra kích hoạt TC,
thông qua kích hoạt chọn lọc của guanylyl cyclase TC. Trong điều kiện sinh lý cGMP
làm giảm các phản ứng của TC với chất chủ vận.


12

 cAMP: tổng hợp của nó được điều tiết bởi adenylyl cyclase. cAMP ức chế
TC
bằng nhiều cách, có thể ảnh hưởng tới cả hai khởi đầu và duy trì một phản ứng kích
thích. Nhiều bước riêng lẻ trong con đường chuyển tải tín hiệu ban đầu của chất chủ
vận bị ảnh hưởng bởi cAMP. cAMP làm giảm liên kết thrombin tới TC, điều này ức
chế hình thành một tín hiệu phức tạp. cAMP ức chế PLC, ảnh hưởng đến tín hiệu DG
để kích hoạt PKC làm tăng chuyển hóa của nó tới phosphoinositides nó cũng ảnh
hưởng trực tiếp đến hoạt động của PKC. Quan trọng nhất cAMP đối kháng Ca
qua sự đa dạng các cơ chế, ảnh hưởng đến giải phóng và hấp thu của Ca

++

++

thông

từ hệ thống

ống đậm đặc của TC.
Kích hoạt của TC là một mạng lưới phức tạp của các quá trình sinh hóa phụ
thuộc lẫn nhau, có chức năng tạo một nút TC tại vị trí của mạch máu bị tổn thương. Sự
cân bằng giữa kích hoạt và ức chế TC được xác định bằng sự phối hợp dẫn truyền của

Tuy nhiên sự biểu hiện các KN này trên TC không mạnh mẽ và thường xuyên như trên
HC. Một số KN được sản xuất nội sinh trong TC (ABH, Ii, P), một số được hấp phụ từ
huyết tương (Lewis, ABH).
Các KN hệ HLA: TC chỉ biểu hiện các KN HLA lớp 1 (Ali et al., 1994). Các
phân tử HLA lớp 1 trên TC về số lượng tương đối giống như trên các TB lymphocyte.
Các phân tử này có nguồn gốc nội sinh do chính bản thân TC tổng hợp thành, tuy vậy
một số tác giả khác cho là TC có thể hấp phụ một số phân tử HLA từ huyết tương một
cách thụ động. Sự biểu hiện các phân tử HLA trên TC của mỗi cá thể có thể thay đổi
khác nhau và các KN HLA-C đều biểu hiện rất kém trên TC (Nguyễn Trường Sơn,
2000).



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status