luận văn thạc sĩ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CỦA VIỆC CẤP TÍN DỤNG TẠI QUỸ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM - Pdf 52

1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển bền vững đi đôi với bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu vừa là
nguyên tắc trong quá trình phát triển của hầu hết các quốc gia trên thế giới, và Việt
Nam cũng không phải là ngoại lệ.
Việt Nam đang trên đà phát triển và đã thành công trong nhiều lĩnh vực, giữ
vững ổn định về chính trị, phát triển kinh tế - xã hội nâng cao đời sống của người
dân. Cùng với sự phát triển đó, Việt Nam trở thành một trong những nước chịu ảnh
hưởng của ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; nhiều vùng, nhiều địa phương và khu
dân cư đang trở thành các điểm nóng về ô nhiễm môi trường. Một trong những
nguyên nhân dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng là do
các doanh nghiệp thiếu nguồn vốn đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường. Vì vậy,
nhằm tạo ra những cơ chế mới về hỗ trợ tài chính cho các hoạt động bảo vệ môi
trường, ngày 26/6/2002 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 82/2002/QĐTTg về việc thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam.
Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam có chức năng cho vay với lãi suất ưu đãi, tài trợ,
hỗ trợ lãi suất cho các chương trình, dự án, các hoạt động, nhiệm vụ bảo vệ môi
trường và ứng phó với biến đổi khí hậu không nằm trong kế hoạch ngân sách trên
phạm vi toàn quốc.
Trong các hoạt động nghiệp vụ của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam, hoạt
động tín dụng là hoạt động quan trọng nhất, quyết định đến sự tồn tại và phát triển
của Quỹ. Chính vì vậy, việc nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng luôn được đặt
lên hàng đầu trong chiến lược phát triển dài hạn của Quỹ.
Kể từ khi thành lập từ năm 2002 đến nay, hoạt động tín dụng của Quỹ Bảo vệ
môi trường Việt Nam đã thu được những kết quả tích cực và là đòn bẩy quan trọng
đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực đầu tư bảo vệ môi trường. Tuy
nhiên, cùng với sự phát triển, hoạt động tín dụng của Quỹ trong thời gian qua vẫn
còn những tồn tại, hạn chế cần giải quyết nhằm nâng cao chất lượng tín dụng và
đảm bảo sự phát triển bền vững của Quỹ.



3
Nam”, Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2015: Luận án đã trình
bày những vấn đề cơ bản về chất lượng tín dụng của NHTM cũng như kinh nghiệm
nâng cao chất lượng tín dụng của NHTM nước ngoài và bài học cho các NHTM
Việt Nam. Luận án cũng đã phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng tín dụng tại
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam và đưa ra các giải pháp
nâng cao chất lượng tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Việt Nam như: Hoàn thiện chính sách tín dụng và nâng cao chất lượng công tác thu
thập, xử lý thông tin trong quản lý chất lượng tín dụng; Nâng cao tính cân đối trong
công tác huy động và sử dụng nguồn vốn, công tác kiểm tra, kiếm soát nội bộ; Phát
triển hệ thống công nghệ thông tin tín dụng, hiện đại hóa công nghệ hệ thống ngân
hàng và nâng cao công tác tổ chức; Hoàn thiện hệ thống công cụ bảo đảm chất
lượng tín dụng; Đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ tín dụng, sử dụng hiệu quả các công
cụ bảo hiểm tín dụng và thực hiện đồng bộ các giải pháp khác.
* Luận án Tiến sỹ của Nghiên cứu sinh Ngô Đức Tiến về “Giải pháp hoàn
thiện công tác thẩm định cho vay dự án đầu tư tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương
Việt Nam”, Học viện Tài chính, năm 2015: Luận án đã hệ thống hóa cơ sở lý luận
về thẩm định cho vay dự án đầu tư, trình bày thực trạng thẩm định dự án đầu tư tại
Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam, đánh giá những kết quả, hạn chế cũng
như nguyên nhân của những tồn tại trong hoạt động thẩm định dự án và đề xuất các
giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định cho vay dự án đầu tư tại Ngân hàng TMCP
Ngoại Thương Việt Nam như: Nâng cao chất lượng thông tin đầu vào phục vụ thẩm
định cho vay dự án đầu tư; Hoàn thiện cẩm nang thẩm định dự án cho vay dự án
đầu tư; Xây dựng triển khai mô hình thẩm định dự án; Hoàn thiện công tác tổ chức
điều hành, tăng cường hoạt động hỗ trợ thẩm định dự án.
* Luận văn Thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thị Hiệp về “Nâng cao chất lượng tín
dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội - Chi nhánh Vĩnh Phúc”, Học viện
Ngân hàng, năm 2013: Luận văn đã hệ thống hóa lý luận cơ bản về tín dụng và chất
lượng tín dụng của NHTM, đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm
nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội - Chi nhánh

đoạn 2012 - 2016, chỉ ra nguyên nhân dẫn đến những tồn tại đó và đề xuất một số
biện pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng tại Quỹ Bảo vệ môi trường
Việt Nam.


5
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích: Nhằm tìm ra các biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động cấp tín
dụng của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam.
- Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích nghiên cứu và tìm ra được đối tượng
nghiên cứu, đề tài tự xác định cho mình những nhiệm vụ nghiên cứu sau:
+ Nghiên cứu cơ sở lý luận về tín dụng và chất lượng của việc cấp tín dụng tại
Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam.
+ Nghiên cứu, phân tích thực trạng chất lượng của việc cấp tín dụng tại Quỹ
Bảo vệ môi trường Việt Nam.
+ Đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng của việc cấp tín dụng tại Quỹ
Bảo vệ môi trường Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động cấp tín dụng của Quỹ Bảo vệ môi trường
Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi về không gian: Hoạt động cấp tín dụng của Quỹ Bảo vệ môi trường
Việt Nam bao gồm hoạt động cho vay với lãi suất ưu đãi và hoạt động bảo lãnh. Tuy
nhiên, kể từ khi thành lập đến nay, Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam chưa thực hiện
hoạt động bảo lãnh. Vì vậy, đề tài này chỉ tìm kiếm các biện pháp nâng cao chất lượng
cấp tín dụng trong hoạt động cho vay của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam.
+ Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu trong giai đoạn 2012- 2016.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được các nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài sẽ sử dụng các phương
pháp nghiên cứu sau đây:

Nam, Ngân hàng nhà nước, website của các tổ chức, cơ quan nhà nước, các giáo
trình, sách tham khảo của các tác giả trong nước.


7
6. Đóng góp của luận văn
Việc nghiên cứu có ý nghĩa và đóng góp cả về lý luận và thực tiễn:
- Về lý luận: Đề tài tóm tắt, củng cố và bổ sung một số kiến thức về hoạt động
cấp tín dụng và chất lượng của việc cấp tín dụng tại Quỹ Bảo vệ môi trường Việt
Nam.
- Về thực tiễn: Đề tài đã đánh giá thực trạng chất lượng của việc cấp tín dụng
tại Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam trong giai đoạn 2012 - 2016 và đề xuất một số
biện pháp để nghiên cứu áp dụng vào thực tiễn hoạt động cấp tín dụng tại Quỹ
nhằm nâng cao chất lượng hoạt động cấp tín dụng, góp phần mang lại những lợi ích
thiết thực về môi trường, kinh tế - xã hội cho đất nước nói chung và sự phát triển
của Quỹ nói riêng trong tương lai.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục chữ
viết tắt, danh mục bảng biểu, sơ đồ, biểu đồ, mục lục và các phụ lục, nội dung chính
của luận văn được thể hiện ở ba chương sau đây:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động tín dụng và chất lượng của việc cấp tín
dụng tại Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam
Chương 2: Thực trạng chất lượng của việc cấp tín dụng tại Quỹ Bảo vệ môi
trường Việt Nam
Chương 3: Biện pháp nâng cao chất lượng của việc cấp tín dụng tại Quỹ Bảo
vệ môi trường Việt Nam


8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG VÀ CHẤT


9
- Tổ chức tài chính phi ngân hàng chủ yếu sử dụng vốn chủ sở hữu, không huy
động tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn của dân chúng, không nhận tiền gửi của cá
nhân, tổ chức với thời hạn ngắn để cho vay và đầu tư. Trong khi, NHTM là một
định chế tài chính nhận tiền gửi theo mọi yêu cầu của khách hàng và sử dụng tiền
đó để cho vay, NHTM được mở tài khoản thanh toán và thực hiện chức năng thanh
toán cho khách hàng.
- Tổ chức tài chính phi ngân hàng không thực hiện các dịch vụ thanh toán và
tiền mặt, không sử dụng vốn làm phương tiện thanh toán cho khách hàng. Vì vậy, tổ
chức tài chính phi ngân hàng không bị NHNN quản lý, giám sát chặt chẽ như
NHTM.
1.1.2. Quỹ Bảo vệ môi trường
1.1.2.1. Khái niệm
Theo từ điển Bách khoa toàn thư, từ “Quỹ” được sử dụng để mô tả một thực
thể pháp lý riêng biệt. Các quỹ là các tổ chức hợp pháp (pháp nhân) và/hoặc cá nhân
hợp pháp (thể nhân), có thể có một sự đa dạng của hình thức và có thể làm theo các
quy định khác nhau tùy thuộc vào thẩm quyền mà họ được tạo ra.
Theo quan điểm về quản lý Nhà nước, “Quỹ Bảo vệ môi trường là một tổ chức
tài chính được lập ra để hỗ trợ việc sử dụng và bảo tồn tài nguyên bền vững”.
Hiện nay, tại các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi,
khi các vấn đề về thị trường vốn, tài chính chưa phát triển, chi phí giao dịch cao,
thông tin không đầy đủ đã gây ra những khó khăn, hạn chế trong việc đầu tư bảo vệ
môi trường. Chính vì vậy, các Quỹ Bảo vệ môi trường được thành lập tại các quốc
gia, các địa phương nhằm hỗ trợ cho các hoạt động liên quan đến công tác bảo vệ
môi trường. Nguồn tài chính của Quỹ Bảo vệ môi trường được lấy từ nhiều nguồn
khác nhau nhau như phí, các khoản bồi thường thiệt hại về môi trường, tiền phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường,…. Cơ chế cấp vốn của Quỹ Bảo vệ
môi trường tương đối thống nhất thông qua các hình thức cấp kinh phí cho vay với
lãi suất ưu đãi hoặc không lãi suất. Ngoài ra còn một số hình thức như hỗ trợ lãi



11
- Nhận tài trợ, hỗ trợ, đóng góp tự nguyện, ủy thác đầu tư của các tổ chức, cá
nhân trong và ngoài nước dành cho bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu.
- Các nguồn vốn hợp pháp khác.
b. Các hình thức hỗ trợ tài chính
+ Cho vay vốn với lãi suất ưu đãi;
+ Hỗ trợ lãi suất vay vốn cho các dự án đầu tư vay vốn từ các TCTD khác theo
quy định của pháp luật;
+ Tài trợ, đồng tài trợ cho các hoạt động bảo vệ môi trường;
+ Hợp tác với các tổ chức tài chính, các quỹ môi trường trong và ngoài nước
để đồng tài trợ, cho vay vốn các dự án bảo vệ môi trường phù hợp với các tiêu chí
và chức năng, nhiệm vụ của Quỹ;
+ Hỗ trợ cho các hoạt động phổ biến, tuyên truyền về CDM; thực hiện trợ giá cho
các sản phẩm của dự án CDM theo quy định của pháp luật;
+ Hỗ trợ giá điện đối với các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu theo quy
định của pháp luật;
+ Hỗ trợ tài chính đối với các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu theo quy
định của pháp luật;
+ Thực hiện các chương trình, đề án, dự án và nhiệm vụ khác do Thủ tướng
Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường giao;
1.2. Hoạt động tín dụng và chất lượng của việc cấp tín dụng
1.2.1. Hoạt động tín dụng
1.2.1.1. Khái niệm tín dụng
Tín dụng là một phạm trù kinh tế, ra đời, tồn tại và phát triển cùng với sự ra
đời, tồn tại và phát triển của nền kinh tế hàng hóa. Tín dụng ra đời là một tất yếu,
khách quan của nền kinh tế xã hội.
Mặc dù hoạt động tín dụng ra đời rất lâu nhưng cho đến nay người ta vẫn chưa
thống nhất khi định nghĩa về tín dụng.

hoàn trả cả gốc và lãi.
Tín dụng là nghiệp vụ kinh doanh mang lại lợi nhuận cao nhất đối với các
TCTD. Tuy nhiên, mặt trái của việc tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu là phần lớn các
rủi ro của TCTD xuất phát từ hoạt động tín dụng. Sự xuất hiện của các khoản nợ


13
quá hạn, nợ xấu sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của TCTD trước tiên, sau đó
là uy tín của TCTD bị giảm sút. Rủi ro tín dụng có thể xảy ra do rất nhiều nguyên
nhân, vì vậy, các TCTD cần phải có biện pháp giám sát, phòng ngừa, hạn chế rủi ro
nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của mình.
1.2.1.2. Vai trò của tín dụng
Tín dụng đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế. Hoạt động tín dụng có
chất lượng sẽ góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, tạo ra sự ổn định
trong lưu thông tiền tệ. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, vai trò của tín dụng
ngày một tăng lên, thể hiện:
- Tín dụng cung ứng vốn cho nền kinh tế và thúc đẩy sản xuất lưu thông hàng
hóa phát triển. Tín dụng là nguồn cung ứng vốn cho doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, là
công cụ để tập trung vốn một cách hữu hiệu trong nền kinh tế. Đối với doanh nghiệp,
tín dụng cung ứng vốn đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra thường
xuyên liên tục. Đối với dân chúng, tín dụng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư.
- Tín dụng góp phần ổn định tiền tệ, ổn định giá cả. Trong khi thực hiện chức
năng tập trung và phân phối lại vốn, tín dụng đã góp phần làm giảm khối lượng tiền
lưu hành trong nền kinh tế, đặc biệt là tiền mặt trong tay các tầng lớp dân cư, làm
giảm áp lực lạm phát, nhờ vậy góp phần ổn định tiền tệ.
- Tín dụng góp phần ổn định đời sống, tạo công ăn việc làm, ổn định trật tự xã
hội. Một mặt, do tín dụng có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế phát triển, sản xuất hàng
hóa dịch vụ ngày càng nhiều làm thỏa mãn nhu cầu đời sống của người lao động, mặt
khác do vốn tín dụng cung ứng đã tạo ra khả năng trong khai thác các tiềm năng sẵn
có trong xã hội về tài nguyên thiên nhiên, về lao động, đất, rừng, …

liên quan”.
Từ những định nghĩa trên ta có thể rút ra một số đặc điểm của khái niệm chất
lượng như sau:
- Chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu. Nếu một sản phẩm vì lý do
nào đó mà không được nhu cầu chấp nhận thì phải bị coi là có chất lượng kém, cho


15
dù trình độ công nghệ để chế tạo ra sản phẩm đó có thể rất hiện đại. Đây là một kết
luận then chốt và là cơ sở để các nhà chất lượng định ra chính sách, chiến lược kinh
doanh của mình.
- Do chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu, mà nhu cầu luôn luôn biến
động nên chất lượng cũng luôn luôn biến động theo thời gian, không gian, điều kiện
sử dụng.
- Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng, ta phải xét và chỉ xét đến mọi
đặc tính của đối tượng có liên quan đến sự thỏa mãn những nhu cầu cụ thể. Các nhu
cầu này không chỉ từ phía khách hàng mà còn từ các bên có liên quan.
- Nhu cầu có thể được công bố rõ ràng dưới dạng các quy định, tiêu chuẩn
nhưng cũng có những nhu cầu không thể miêu tả rõ ràng, người sử dụng chỉ có thể
cảm nhận chúng, hoặc có khi chỉ phát hiện được chúng trong quá trình sử dụng.
- Chất lượng không phải là thuộc tính của sản phẩm, hàng hóa mà ta vẫn hiểu
hàng ngày. Chất lượng có thể áp dụng cho một hệ thống, một quá trình.
Khi nói đến chất lượng chúng ta cũng không thể bỏ qua các yếu tố giá cả, dịch
vụ hậu mãi,… vì đó chính là những yếu tố mà khách hàng nào cũng quan tâm. Với
khách hàng, sản phẩm nào thỏa mãn nhu cầu của họ cao hơn thì được coi là sản
phẩm có chất lượng tốt hơn.
1.2.2.2. Quan điểm về chất lượng của việc cấp tín dụng
Từ những định nghĩa nêu trên về tín dụng và chất lượng, tác giả đưa ra đánh
giá về chất lượng của việc cấp tín dụng trên ba phương diện sau:
- Đối với nền kinh tế: Tín dụng có chất lượng nghĩa là phải khai thác các nguồn

quả về môi trường, kinh tế - xã hội do khoản tín dụng mang lại, đảm bảo nguyên tắc
tín dụng của TCTD,…
Như vậy, chất lượng của việc cấp tín dụng là một khái niệm vừa cụ thể (thể
hiện qua các chỉ tiêu định lượng) vừa trừu tượng (thể hiện qua các tiêu chí định
tính). Chất lượng tín dụng chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố chủ quan (khả năng quản
lý, trình độ cán bộ,....) và khách quan (sự thay đổi môi trường kinh tế xã hội như
khuynh hướng phát triển của nền kinh tế, môi trường pháp lý,…). Khuynh hướng


17
phát triển của nền kinh tế, sự thay đổi giá cả thị trường cũng như môi trường pháp
lý đều ảnh hưởng đến chất lượng của việc cấp tín dụng.
Chất lượng của việc cấp tín dụng được xác định thông qua nhiều yếu tố: thu
hút khách hàng tốt, thủ tục đơn giản, thuận tiện, mức độ an toàn vốn tín dụng cao,
chi phí lãi suất, chi phí nghiệp vụ thấp,… Vì vậy, để sản phẩm tín dụng có chất
lượng cao, cần có sự tổ chức và quản lý đồng bộ trong hoạt động tín dụng nhằm
tăng tính hiệu quả và linh hoạt của TCTD và thỏa mãn ngày càng cao nhu cầu của
khách hàng. Hiểu đúng bản chất về chất lượng tín dụng, phân tích, đánh giá đúng
chất lượng tín dụng hiện tại cũng như xác định chính xác các nguyên nhân tồn tại về
chất lượng tín dụng sẽ giúp TCTD tìm được những biện pháp quản lý tín dụng thích
hợp để nâng cao hiệu quả hoạt động và đảm bảo sự phát triển bền vững trong nền
kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay (Nguyễn Thị Hiệp 2013).
1.2.3. Các tiêu chí đánh giá chất lượng của việc cấp tín dụng
Các nhà kinh tế, các nhà phân tích trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, các cơ
quan quản lý, các nhà quản lý ngân hàng khi đánh giá chất lượng của một khoản tín
dụng thường sử dụng rất nhiều tiêu chí khác nhau.
Để đánh giá chất lượng của khoản tín dụng, một số chỉ tiêu định lượng và tiêu
chí định tính thường được sử dụng sau đây:
1.2.3.1. Chỉ tiêu định lượng
- Doanh số cho vay:

huy động của TCTD (Nguyễn Thị Thu Đông 2012).
Nguồn vốn hoạt động của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam là vốn do ngân
sách nhà nước cấp và nhận bổ sung từ một số nguồn khác. Nguồn vốn hoạt động
của Quỹ không có nhiều biến động qua các năm. Vì vậy, khi đánh giá chỉ tiêu tốc độ
tăng trưởng tín dụng cần kết hợp với đánh giá nguồn vốn huy động sẽ không phản
ánh đầy đủ về chất lượng hoạt động tín dụng của Quỹ.
- Tỷ lệ nợ quá hạn:
Nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng không trả được khi đã đến hạn thỏa
thuận trong Phụ lục Hợp đồng tín dụng (Phụ lục Lịch biểu trả nợ). Khi một món nợ
không trả được vào kỳ hạn trả nợ, toàn bộ nợ gốc của Hợp đồng sẽ được chuyển
thành nợ quá hạn.
Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Ngân hàng nhà nước về
phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử
dụng dự phòng rủi ro trong hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài


19
quy định: TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện phân loại nợ theo 05
nhóm sau:
+ Nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn, bao gồm:

 Nợ trong hạn và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi
đúng hạn;
 Nợ quá hạn dưới 10 ngày và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ nợ
gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi còn lại đúng hạn.
+ Nhóm 2: Nợ cần chú ý, bao gồm:

 Nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày;
 Nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu.
+ Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn, bao gồm:

Tỷ lệ nợ quá hạn =

Nợ quá hạn

x 100%
Tổng dư nợ
Chỉ tiêu này cho biết trong tổng dư nợ có bao nhiêu phần trăm là nợ quá hạn.
Tỷ lệ nợ quá hạn thấp biểu hiện chất lượng hoạt động tín dụng tại TCTD có độ an
toàn cao tức là mức độ rủi ro thấp. Nợ quá hạn là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến
chất lượng tín dụng, vì vậy nếu kiểm soát tốt nợ quá hạn thì chất lượng tín dụng sẽ
cao và ngược lại. Đây là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng tín dụng của
một TCTD (Nguyễn Thị Hiệp 2013).
- Nợ xấu và Tỷ lệ nợ xấu:
Nợ xấu là nợ thuộc các nhóm 3, 4, 5.
Tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ giữa nợ xấu so với tổng nợ từ nhóm 1 đến nhóm 5.
Tỷ lệ nợ nợ xấu =

Nợ xấu
Tổng dư nợ

x 100%

Chỉ tiêu này phản ánh trong tổng dư nợ có bao nhiêu phần trăm là nợ xấu. Nợ
xấu tăng làm tăng chi phí dự phòng rủi ro tín dụng, đồng thời chứng tỏ chất lượng
tín dụng thấp, năng lực tài chính, năng lực quản lý cũng như năng lực hoạt động của
TCTD là kém. Tỷ lệ nợ xấu là chỉ tiêu phản ánh chính xác chất lượng tín dụng của
một TCTD.
- Vòng quay vốn tín dụng: Đây là chỉ tiêu phản ánh số vòng chu chuyển của
vốn tín dụng, được xác định theo công thức:
Vòng quay vốn tín dụng =

- Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu.
1.2.3.2. Tiêu chí định tính
Tiêu chí định tính là những tiêu chí mang tính tương đối, rất khó xác định và
thường được dùng để đánh giá chất lượng của khoản tín dụng một cách khái quát.
Một số tiêu chí định tính được tác giả sử dụng để đánh giá chất lượng của việc cấp
tín dụng tại Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam bao gồm:


22
- Chính sách tín dụng và quy trình tín dụng:
Việc thiết lập và không ngừng hoàn thiện chính sách, quy trình tín dụng có ý
nghĩa quan trọng đối với hoạt động tín dụng của Quỹ, góp phần nâng cao chất lượng
tín dụng. Về mặt hiệu quả, chính sách tín dụng, quy trình tín dụng vừa góp phần
nâng cao chất lượng, giảm thiểu rủi ro tín dụng vừa đảm bảo xử lý thủ tục hồ sơ đơn
giản, nhanh chóng cho khách hàng, tạo điều kiện mở rộng tín dụng. Về mặt quản trị,
quy trình tín dụng có tác dụng trong việc phân định trách nhiệm và quyền hạn của
từng bộ phận liên quan trong hoạt động tín dụng, làm cơ sở cho việc thiết lập hồ sơ
và thủ tục vay vốn, chỉ rõ mối quan hệ giữa các bộ phận liên quan trong hoạt động
tín dụng.
- Sự hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm tín dụng thể hiện qua các các
tiêu chí đánh giá: Thái độ phục vụ tận tình, chu đáo của CBTD; Trình độ chuyên
môn nghiệp vụ của CBTD; Khả năng xử lý hồ sơ nhanh chóng.
- Thủ tục cho vay: Thủ tục làm việc, yêu cầu về giấy tờ đơn giản, không gây
phiền hà sẽ tạo cho khách hàng tâm lý thoải mái, tạo niềm tin và hình ảnh tốt đối
với Quỹ.
- Hiệu quả về môi trường: là những tác động tích cực đến môi trường khi dự
án đầu tư bằng nguồn vốn của Quỹ được triển khai, thực hiện.
- Cơ sở vật chất, khả năng ứng dụng công nghệ, kỹ thuật hiện đại trong quá
trình cấp tín dụng: Ứng dụng công nghệ, kỹ thuật hiện đại nhằm rút ngắn thời gian
phục vụ nhưng vẫn đảm bảo thu thập, lưu trữ đầy đủ thông tin để giúp Quỹ có thể

xuất kinh doanh bị thu hẹp, đầu tư, tiêu dùng giảm sút, lạm phát cao, nhu cầu tín
dụng giảm, vốn tín dụng không được đầu tư hiệu quả, ảnh hưởng đến khả năng trả
nợ của khách hàng. Hoạt động tín dụng giảm sút về quy mô và chất lượng.
- Thiên tai, hỏa hoạn, chiến tranh, dịch bệnh: Đây là những rủi ro mà cả khách
hàng và Quỹ đều không lường trước được đối với khoản tín dụng của mình.
- Nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường: Vai trò của cộng đồng trong các
hoạt động xã hội ngày càng rõ nét, đặc biệt trong hoạt động bảo vệ môi trường. Để
phát huy tối đa vai trò này, nhận thức của cộng đồng về vấn đề bảo vệ môi trường


24
phải được nâng cao thông qua việc cung cấp thông tin và cùng tham gia trong các
sự kiện, hoạt động xã hội.
1.2.4.2. Nhân tố xuất phát từ khách hàng vay vốn
Khách hàng là người trực tiếp sử dụng vốn vay để phục vụ hoạt động sản xuất
kinh doanh hoặc đầu tư dự án mới, do vậy chất lượng tín dụng của Quỹ sẽ chịu ảnh
hưởng lớn từ phía khách hàng vay vốn. Một khách hàng có tư cách, đạo đức tốt, có
tình hình tài chính vững vàng, có thu nhập ổn định sẽ sẵn sàng hoàn trả đầy đủ khoản
nợ vay khi đến hạn, qua đó đảm bảo an toàn và nâng cao chất lượng tín dụng. Tuy
nhiên, ngược lại khách hàng có tư cách đạo đức kém, không có thiện chí trả nợ, năng
lực quản lý và điều hành kém dẫn đến hoạt động sản xuất kinh doanh thua lỗ sẽ tác
động xấu đến chất lượng tín dụng của Quỹ. Những nhân tố thuộc về phía khách hàng
tác động đến chất lượng tín dụng bao gồm:
- Sử dụng vốn vay sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ vay:
Khách hàng cố tình lập các chứng từ rút vốn vay giả mạo mà do nhiều lý do Quỹ
không phát hiện được, khách hàng sử dụng vốn vay khác với mục đích đã trình bày
trong phương án vay vốn.
- Năng lực quản lý kinh doanh kém, đầu tư nhiều lĩnh vực vượt quá khả năng
quản lý. Quy mô kinh doanh quá lớn so với tư duy quản lý là nguyên nhân dẫn đến
sự phá sản của các phương án kinh doanh đầy khả thi mà lẽ ra nó phải thành công

không đáp ứng được yêu cầu công việc.
- Thu thập và xử lý thông tin tín dụng:
Trong hoạt động cho vay, việc thu thập và xử lý thông tin hết sức cần thiết và là
cơ sở để xem xét, quyết định hay từ chối cho vay, đồng thời theo dõi, quản lý khoản
vay nhằm đảm bảo an toàn và hiệu quả. Thông tin tín dụng có thể thu được từ nhiều
nguồn: hồ sơ vay vốn, phỏng vấn khách hàng, thông tin về tình hình hoạt động sản
xuất kinh doanh của khách hàng. Thông tin càng đẩy đủ, chính xác và toàn diện thì
khả năng ngăn ngừa rủi ro càng lớn, chất lượng tín dụng càng cao.
Trên thực tế, Quỹ không có đủ thông tin về các số liệu thống kê, chỉ tiêu để
phân tích và đánh giá khách hàng do lượng khách hàng vay vốn tại Quỹ không nhiều



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status