Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Thực hiện khẩu hiệu “Dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ và
văn minh”.Trong những năm qua cùng với sự phát triển của nền kinh tế quốc
dân ngành Cấp nước ngày càng phát triển và lớn mạnh. Với chủ trương đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, ngành Cấp nước nói riêng cũng
như tất cả các ngành công nghiệp khác nói chung trong cả nước đã đầu tư nâng
cấp cải tạo, xây dựng mới các công trình, hệ thống cấp nước nhằm nâng cao chất
lượng nước, chất lượng phục vụ đạt hiệu quả kinh tế, đáp ứng nhu cầu ngày
càng cao của xã hội, góp phần phát triển nền kinh tế một cách hợp lý trong từng
giai đoạn của đất nước.
Ngành Cấp nước luôn phấn đấu và là một trong những ngành mũi nhọn
trong việc phục vụ nhu cầu đời sống xã hội.Tuy nhiên, trong thời gian gần đây
việc đầu tư cho ngành Cấp nước vẫn chưa được tích cực. Nhiều nơi một số công
trình vẫn còn kéo dài, dở dang, gây lãng phí, làm thất thoát vốn và đang cần
được khắc phục. Trước tình hình đó việc cải tạo, đầu tư, tăng cường quản lý chặt
chẽ trong ngành Cấp nước để nâng cao hiệu quả kinh tế đã trở thành một yêu
cầu cấp thiết. Yêu cầu của Đảng và Nhà nước ta đối với ngành Cấp nước là phải
nâng cao hiệu quả sử dụng máy móc, thiết bị, chống thất thoát, thất thu, quản lý
tiền vốn chặt chẽ. Để đạt được những yêu cầu đó vấn đề đặt ra là phải hạch toán
đầy đủ, kịp thời, chính xác chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nước
theo đúng chế độ Nhà nước.
Trong thời gian thực tập tại công ty Cấp nước Yên Bái, em thấy vấn đề kế
toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là vấn đề nổi bật nhất
và hướng cho nhà quản lý, hạch toán đặc biệt quan tâm vì nó quyết định đến sự
sống còn và phát triển của Công ty.
Xuất phát từ tầm quan trọng trên của công tác kế toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm đối với các doanh nghiệp nói chung và Công ty Cấp
nước Yên Bái nói riêng, em chọn đề tài “Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cấp nước Yên Bái ” cho chuyên đề tốt
nghiệp của mình.
1.1 Khái niệm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm:
- Khái niệm chi phí sản xuất:
Sự phát sinh và phát triển của xã hội loài người gắn liền với quá trình sản
xuất. Nền sản xuất xã hội theo bất kỳ phương thức sản xuất nào cũng gắn liền
với sự vận động và tiêu hao các yếu tố cơ bản tạo nên quá trình sản xuất. Vì thế
sự hình thành nên các chi phí sản xuất để tạo ra giá trị sản phẩm sản xuất là tất
yếu khách quan, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người. Những
nhận thức chi phí có thể khác nhau về quan điểm, hình thức thể hiện chi phí
nhưng tất cả đều thừa nhận một vấn đề chung: ‘‘Chi phí sản xuất là biểu hiện
bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hoá cần thiết
cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp phải chi ra
trong kỳ kinh doanh”.
- Khái niệm về giá thành sản phẩm:
Giá thành là chi phí sản xuất tính cho một khối lượng hoặc đơn vị sản
phẩm, lao vụ, dịch vụ, do doanh nghiệp đã sản xuất hoặc cung cấp trong kỳ.
Quá trình sản xuất ở một doanh nghiệp, một mặt doanh nghiệp phải bỏ ra
những chi phí sản xuất, mặt khác kết quả sản xuất của doanh nghiệp thu được
những sản phẩm, dịch vụ, lao vụ nhất định đã hoàn thành gọi chung là thành
phẩm. Những thành phẩm này cần được tính giá thành, trong giá thành sản phẩm
chỉ bao gồm những chi phí tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản
xuất không bao gồm những chi phí phát sinh trong kỳ kinh doanh của doanh
nghiệp.
Mọi cách tính chủ quan không phản ánh đúng các yếu tố giá trị trong giá
thành đều có thể dẫn đến phá vỡ quan hệ hàng hoá- tiền tệ, không xác định được
3
SV: Hoàng Kim Oanh - Kế toán Kiểm toán 503412
Chuyên đề tốt nghiệp
hiệu quả kinh doanh và không thực hiện được tái sản xuất giản đơn và tái sản
xuất mở rộng.
1.2 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm:
SV: Hoàng Kim Oanh - Kế toán Kiểm toán 503412
Chuyên đề tốt nghiệp
những chi phí sản xuất đã trả trước nhưng chưa phân bổ cho kỳ này và những
chi phí phải trả kỳ trước nhưng kỳ này mới phát sinh nhưng không bao gồm chi
phí trả trước của kỳ trước phân bổ cho kỳ này và những chi phí phải trả kỳ này
nhưng chưa thực tế phát sinh. Ngược lại giá thành sản phẩm lại chỉ liên quan
đến chi phí phải trả trong kỳ và chi phí trả trước được phân bổ trong kỳ.
1.3 Sự cần thiết phải tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm trong doanh nghiệp:
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh
tế đều chịu sự tác động của các quy luật kinh tế cơ bản như quy luật cung cầu,
quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị…. Do vậy để tồn tại và phát triển quá trình
sản xuất kinh doanh cần phải được định hướng và tổ chức theo những hướng đã
định.
Sự phát triển về quy mô, môi trường sản xuất kinh doanh đặt các doanh
nghiệp luôn đứng trước một tình hình sản xuất kinh doanh mới, một nhu cầu
thông tin mới và cũng làm phát sinh tính phức tạp của chi phí đặt ra nhu cầu
thông tin chi phí ngày càng nhanh chóng linh hoạt, thích hợp và hữu ích hơn cho
các quyết định quản trị, công bố tình hình kinh tế tài chính của doanh nghiệp. Kế
toán chi phí hình thành từ thực tiễn và đáp ứng thông tin cho các nhu cầu trên.
Và chính sự hình thành này giúp cho các nhà quản trị, kế toán có cách nhìn
đúng, đầy đủ hơn về kế toán chi phí để xây dựng, hoàn thiện và ứng dụng thích
hợp hơn các mô hình kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành.
1.4 Vai trò nhiệm vụ của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm:
Trong quản lý kinh tế có nhiều công cụ khác nhau để quản lý nhưng kế
toán được xem là công cụ quản lý quan trọng nhất trong đó kế toán chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm là khâu trọng tâm của toàn bộ công tác kế toán
của doanh nghiệp nó đã cung cấp kịp thời những thông tin cần thiết về chi phí
sản xuất và tính giá thành sản phẩm giúp cho các nhà quản lý phân tích đánh giá
tình hình thực hiện các định mức chi phí và dự toán chi phí; tình hình sử dụng
phẩm. Đó là đòi hỏi khách quan và tất yếu của bất kỳ doanh nghiệp sản xuất
nào. Làm được điều này mới có thể đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động và
phát triển được trong nền kinh tế thị trường hiện nay.
1.5. Phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm:
1.5.1. Phân loại chi phí sản xuất:
6
SV: Hoàng Kim Oanh - Kế toán Kiểm toán 503412
Chuyên đề tốt nghiệp
Chi phí sản xuất kinh doanh có rất nhiều loại, nhiều khoản, khác nhau cả
về nội dung, tính chất, công dụng và vai trò, vị trí… Để thuận lợi cho công tác
quản lý và hạch toán cần thiết phải tiến hành phân loại chi phí sản xuất.
Phân loại chi phí sản xuất là việc sắp xếp chi phí sản xuất vào từng loại,
từng nhóm khác nhau theo những đặc trưng nhất định.
Có nhiều cách phân loại chi phí khác nhau mỗi cách phân loại đều đáp
ứng ít hay nhiều mục đích khác nhau vì thế chúng cùng đồng thời tồn tại và bổ
sung cho nhau. Dưới đây là một số cách phân loại chủ yếu được sử dụng phổ
biến.
- Phân loại theo yếu tố chi phí:
+ Yếu tố chi phí nguyên liệu, vật liệu: bao gồm toàn bộ giá trị nguyên, vật
liệu chính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ … sử dụng vào sản
xuất kinh doanh ( loại trừ giá trị vật liệu dùng không hết nhập kho và phế liệu
thu hồi).
+ Yếu tố chi phí nhiên liệu, động lực sử dụng vào quá trình sản xuất kinh
doanh trong kỳ( trừ số dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi)
+ Yếu tố chi phí tiền lương và các khoản phụ cấp lương: phản ánh tổng số
tiền lương và phụ cấp mang tính chất lương phải trả cho toàn bộ công nhân, viên
chức.
+ Yếu tố chi phí bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn: Phản
ánh phần BHXH, BHYT, KPCĐ trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lương
và phụ cấp lương phải trả cho công nhân viên.
quan đến quản trị kinh doanh và quản lý hành chính trong doanh nghiệp.
Cách phân loại này là cơ sở để tập hợp chi phí sản xuất theo từng khoản
mục phí. Đồng thời là cơ sở để kiểm tra tình hình thực hiện định mức chi phí và
tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và kế hoạch hạ giá thành.
1.5.2. Phân loại giá thành:
Để đáp ứng các yêu cầu của quản lý, hạch toán và kế hoạch hoá giá thành
cũng như yêu cầu xây dựng giá cả hàng hoá, giá thành được xem xét dưới nhiều
góc độ, nhiều phạm vi tính toán khác nhau. Dưới đây là một số cách phân loại
giá thành:
- Theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá thành:
+ Giá thành kế hoạch: Giá thành kế hoạch được xác định trước khi bước
vào kinh doanh trên cơ sở giá thành thực tế kỳ trước và các định mức, các dự
toán chi phí của kỳ kế hoạch.
+ Giá thành định mức: Cũng như giá thành kế hoach, giá thành định mức
cũng được xác định trước khi bắt đầu sản xuất sản phẩm. Tuy nhiên khác với giá
8
SV: Hoàng Kim Oanh - Kế toán Kiểm toán 503412
Chuyên đề tốt nghiệp
thành kế hoạch được xây dựng trên cơ sở các định mức bình quân tiên tiến và
không biến đổi trong suốt cả kỳ kế hoạch, giá thành định mức lại được xây dựng
trên cơ sở các định mức chi phí hiện hành tại từng thời điểm nhất định trong kỳ
kế hoạch ( thường là ngày đầu tháng ) nên giá thành định mức luôn thay đổi phù
hợp với thay đổi của các định mức chi phí trong quá trình sản xuất sản phẩm.
+ Giá thành thực tế: Giá thành thực tế là chỉ tiêu được xác định sau khi
kết thúc quá trình sản xuất sản phẩm trên cơ sở các chi phí phát sinh trong quá
trình sản xuất sản phẩm.
Cách phân loại này có tác dụng trong việc quản lý và giám sát chi phí, xác
định được nguyên nhân vượt hay hụt định mức chi phí trong kỳ hạch toán. Từ
đó, điều chỉnh kế hoạch hoặc định mức chi phí cho phù hợp.
- Theo phạm vi phát sinh chi phí:
SV: Hoàng Kim Oanh - Kế toán Kiểm toán 503412
Chuyên đề tốt nghiệp
- Toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất của doanh nghiệp.
- Từng giai đoạn, quy trình công nghệ riêng biệt, từng phân xưởng, tổ, đội
sản xuất. Từng nhóm sản phẩm cùng loại, từng mặt hàng, từng sản phẩm, từng
bộ phận.
- Từng công trình, hạng mục công trình, từng phân xưởng sản xuất, đội
sản xuất.
1.6.1.2. Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất:
Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất là một phương pháp hay hệ thống
các phương pháp được sử dụng để tập hợp và phân loại chi phí sản xuất trong
phạm vi giới hạn của đối tượng hạch toán chi phí.
Mỗi đối tượng hạch toán chi phí sản xuất thích ứng với một phương pháp
hạch toán chi phí nên có nhiều phương pháp hạch toán chi phí khác
nhau( phương pháp trực tiếp, phương pháp tỷ lệ, phương pháp loại trừ giá trị sản
phẩm phụ, phương pháp liên hợp ….)
Thông thường, các doanh nghiệp sử dụng hai phương pháp chủ yếu sau:
- Phương pháp hạch toán chi phí trực tiếp: (còn gọi là phương pháp giản đơn)
Theo phương pháp này thì những chi phí có liên quan trực tiếp đến từng
đối tượng hạch toán chi phí nào sẽ ghi trực tiếp cho đối tượng đó.
Phương pháp ghi trực tiếp đòi hỏi phải tổ chức công tác hạch toán ban đầu
chặt chẽ, tỷ mỷ, đúng đối tượng chịu chi phí. Phương pháp này đảm bảo cho
việc tập hợp chi phí theo từng đối tượng một cách chính xác, cung cấp số liệu
chính xác cho kế toán quản trị tính giá thành từng sản phẩm, từng loại dịch vụ,
tăng cường công tác kiểm tra chi phí theo các đối tượng.
Tuy nhiên phương pháp này được áp dụng trong các doanh nghiệp thuộc
loại hình sản xuất giản đơn, số lượng mặt hàng ít, sản xuất với khối lượng lớn và
chu kỳ sản xuất ngắn….
- Phương pháp hạch toán chi phí gián tiếp:
Theo phương pháp này thì những chi phí sản xuất liên quan đến nhiều đối
- Yêu cầu quản lý và cung cấp thông tin trong doanh nghiệp.
- Đặc điểm sử dụng thành phẩm hoặc nửa thành phẩm của đơn vị.
- Khả năng, trình độ của nhân viên kinh tế nói chung và nhân viên kế toán
nói riêng.
* Kỳ tính giá thành: là khoảng thời gian cần thiết tiến hành tổng hợp chi
phí sản xuất để tính tổng giá thành và giá thành đơn vị kết quả hoàn thành.
11
SV: Hoàng Kim Oanh - Kế toán Kiểm toán 503412
Chuyên đề tốt nghiệp
Thông thường kỳ tính giá thành có thể là hàng tháng, hàng quý, năm và được
chọn trùng với kỳ báo cáo kế toán.
* Đơn vị tính giá thành: là đơn vị được thừa nhận trong nền kinh tế quốc
dân và thường được sử dụng phổ biến nhất. Đơn vị tính giá thành trong thực tế
cần phải thống nhất với đơn vị tính giá thành đã ghi trong kế hoạch giá thành
sản phẩm của doanh nghiệp.
1.6.2.2 Phương pháp tính giá thành sản phẩm:
Phương pháp tính giá thành là một phương pháp hoặc hệ thống phương
pháp được sử dụng để tính giá thành của đơn vị sản phẩm.
Do đặc điểm về tổ chức sản xuất và quy trình công nghệ của mỗi loại hình
doanh nghiệp khác nhau nên có nhiều phương pháp tính giá thành khác nhau.Về
cơ bản phương pháp tính giá thành bao gồm:
* Phương pháp tính giá thành giản đơn:
- Điều kiện áp dụng: Phương pháp này được áp dụng ở doanh nghiệp chỉ
sản xuất một số ít mặt hàng với khối lượng lớn, chu kỳ sản xuất ngắn, sản phẩm
dở dang không có hoặc có không đáng kể
Theo phương pháp này giá thành sản phẩm được tính bằng cách:
Tổng giá thành
sản phẩm hoàn
thành
=
sản phẩm chính được tính như sau:
Tổng giá thành
SP chính
=
CPSXDD
đầu kỳ
+
CPPS
trong kỳ
-
CPSXDD
cuối kỳ
-
CPSX sản
phẩm phụ
Chi phí sản xuất sản phẩm phụ cũng được tính riêng theo từng khoản mục
bằng cách lấy tỷ trọng chi phí sản xuất sản phẩm phụ trong tổng chi phí sản xuất
của cả quá trình công nghệ nhân với từng khoản mục tương ứng.
Tỷ trọng chi phí sản xuất
sản phẩm phụ
=
Chi phí sản xuất sản phẩm phụ
Tổng chi phí sản xuất
Để đơn giản và giảm bớt khối lượng tính toán, chi phí sản xuất sản phẩm
phụ có thể được tính trừ vào khoản chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
* Phương pháp tính giá thành theo hệ số:
- Điều kiện áp dụng: Phương pháp này áp dụng trong trường hợp trên
cùng một quy trình công nghệ sản xuất với cùng một loại vật tư, lao động, máy
móc, thiết bị sản xuất… nhưng thu được đồng thời nhiều sản phẩm khác nhau và
chi phí không hạch toán riêng cho từng loại sản phẩm được mà phải hạch toán
dang đầu kỳ
+
Tổng chi phí
sản xuất phát
sinh trong kỳ
-
Giá trị sản
phẩm dở dang
cuối kỳ
* Tính giá thành theo phương pháp tỉ lệ:
- Điều kiện áp dụng: Phương pháp này áp dụng trong trường hợp trên
cùng một quy trình công nghệ sản xuất thu được một nhóm sản phẩm cùng loại
với những chủ loại, phẩm cấp, quy cách khác nhau. Chi phí sản xuất các sản
phẩm này không có quan hệ tương ứng tỷ lệ hoặc không thể quy đổi theo hệ số.
- Đặc điểm:
+ Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là toàn bộ quy trình công nghệ sản
xuất sản phẩm của từng nhóm sản phẩm. Đối tượng tính giá thành là từng quy
cách kích cỡ sản phẩm hoàn thành trong nhóm sản phẩm.
+ Chọn tiêu chuẩn phân bổ để tính tỷ lệ phân bổ giá thành thực tế cho
từng quy cách trong nhóm sản phẩm. Tiêu thức có thể chọn là giá thành kế
hoạch hay giá thành định mức của sản phẩm tính theo sản lượng thực tế.
+ Tổng tiêu chuẩn phân bổ:
Tổng tiêu chuẩn
phân bổ
=
Tổng sản lượng thực tế
sản phẩm quy cách i
*
Tiêu chuẩn phân bổ của
sản phẩm quy cách i
Bên Có: -- Giá trị vật liệu xuất dùng không hết.
-- Kết chuyển chi phí vật liệu trực tiếp.
Số dư : Tài khoản 621 cuối kỳ không có số dư.
- TK 622: “ Chi phí nhân công trực tiếp’’ là những khoản thù lao phải trả
cho công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm, trực tiếp thực hiện các lao vụ, dịch
vụ như tiền lương chính, lương phụ và các khoản phụ cấp có tính chất lương.
Ngoài ra chi phí nhân công trực tiếp còn bao gồm các khoản đóng góp cho các
quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ do chủ sử dụng lao động chịu và được tính vào chi
phí kinh doanh theo một tỷ lệ nhất định với số tiền lương phát sinh của công
nhân trực tiếp sản xuất.
+ Kết cấu:
Bên Nợ: Tập hợp chi phí nhân công trực tiếp sản xuất sản phẩm thực hiện
lao vụ, dịch vụ.
15
SV: Hoàng Kim Oanh - Kế toán Kiểm toán 503412
Chuyên đề tốt nghiệp
Bên Có: Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vào tài khoản tính giá thành.
Số dư: Tài khoản 622 cuối kỳ không có số dư.
- TK 627: “ Chi phí sản xuất chung’’, mở chi tiết theo từng phân xưởng,
bộ phận sản xuất, dịch vụ.
+ Kết cấu:
Bên Nợ: -- Tập hợp chi phí sản xuất chung thực tế phát sinh.
Bên Có: -- Các khoản ghi giảm chi phí sản xuất chung.
-- Kết chuyển( hay phân bổ) chi phí sản xuất chung.
Số dư : Tài khoản 627 cuối kỳ không có số dư.
- TK 154: “ Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang” được mở chi tiết theo
từng ngành sản xuất, từng nơi phát sinh chi phí hay từng loại sản phẩm, nhóm
sản phẩm, chi tiết sản phẩm, từng loại lao vụ, dịch vụ…TK này còn phản ánh
chi phí liên quan đến các hoạt động kinh doanh phụ, thuê ngoài, gia công, tự
chế. Đối với các doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp KKĐK
TK 335, 214 TK 627 TK 157
KC, PB chi phí sản Zsp hoàn thành
Xuất chung gửi bán
CP điện, nước
KHTSCĐ
TK 632
Zsp hoàn thành
Bán ngay
Sơ đồ hạch toán chi phí sản xuất theo phương pháp kê khai thường xuyên
2.3 Kế toán chi phí sản xuất theo phương pháp kiểm kê định kỳ:
Kết chuyển chi phí SX dở dang cuối kỳ
TK 611 TK 154 TK 631 TK 632
KC chi phí sản xuất dở dang
đầu kỳ Giá thành Sp hoàn thành
trong kỳ
TK 621
Chi phí NVL trực tiếp TK138,811,611
KC, PB chi phí NVL cuối kỳ
Phế liệu SP hỏng thu hồi,
TK 334, 338 TK 622 Bắt bồi thường
17
SV: Hoàng Kim Oanh - Kế toán Kiểm toán 503412
Chuyên đề tốt nghiệp
Chi phí nhân công KC, PB chi phí nhân công
Trực tiếp cuối kỳ
TK 214 TK 627
Chi phí khấu hao KC, PB chi phí sản xuất
TSCĐ chung cuối kỳ
TK 111,112,331
nên áp dụng để tính các chi phí chế biến còn chi phí nguyên vật liệu chính phải
xác định theo số thực tế đã dùng.
Giá trị vật liệu
chính nằm
trong SPDD
=
Số lượng SPDD cuối kỳ (ko quy đổi)
*
Toàn bộ
giá trị
NVL
chính đã
xuất
Số lượngTP+ Số lượng SPDD (ko quy
đổi)
Chi phí chế biến
nằm trong
SPDD (theo
từng loại)
=
Số lượng SPDD cuối kỳ (ko quy đổi)
*
Tổng chi
phí chế
biến từng
loại
Số lượng TP+ Số lượng SPDD quy đổi ra
thành phẩm
2.4.3 Xác định giá trị sản phẩm dở dang theo 50% chi phí chế biến:
Để đơn giản cho việc tính toán, đối với những loại sản phẩm mà chi phí
2.5.1 Phương pháp tính giá thành giản đơn (còn gọi là phương pháp trực tiếp).
- Điều kiện áp dụng: Phương pháp này được áp dụng ở doanh nghiệp chỉ sản
xuất một số ít mặt hàng với khối lượng lớn, chu kỳ sản xuất ngắn, sản phẩm dở
dang không có hoặc có không đáng kể
Theo phương pháp này giá thành sản phẩm được tính bằng cách:
Tổng giá thành
sản phẩm hoàn
thành
=
Giá trị sản phẩm
dở dang đầu kỳ
+
Chi phí phát
sinh trong kỳ
-
Giá trị sản
phẩm dở dang
cuối kỳ
Giá thành đơn vị sản phẩm =
Tổng giá thành thực tế
Số lượng sản phẩm hoàn thành
- Ưu điểm: tính toán ngắn gọn, không đòi hỏi trình độ cao.
2.5.2 Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng.
- Điều kiện áp dụng: áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm đơn
chiếc hoặc hàng loạt nhỏ theo đơn đặt hàng của khách hàng, chuyên thực hiện
gia công….các đơn đặt hàng được khách hàng đặt mua trước.
- Đặc điểm:
+ Đối với các doanh nghiệp sản xuất theo các đơn đặt hàng của khách
hàng, kế toán tiến hành tập hợp chi phí sản xuất theo từng đơn., không kể số
lượng sản phẩm của đơn đặt hàng nhiều hay ít, quy trình công nghệ sản xuất sản
+ Ưu điểm: Công việc tính giá thành đơn giản, không phải tính toán đến
chi phí sản xuất dở dang
+ Nhược điểm: Số lượng bảng biểu nhiều vì một đơn đặt hàng có thể có
nhiều bộ phận sản xuất thực hiện, nếu thực hiện trong thời gian dài tính chi phí
sẽ khó khăn.
2.5.3. Phương pháp tính giá thành theo hệ số.
- Điều kiện áp dụng: Phương pháp này áp dụng trong trường hợp trên
cùng một quy trình công nghệ sản xuất với cùng một loại vật tư, lao động, máy
móc, thiết bị sản xuất… nhưng thu được đồng thời nhiều sản phẩm khác nhau và
chi phí không hạch toán riêng cho từng loại sản phẩm được mà phải hạch toán
chung cho cả quá trình sản xuất.
- Đặc điểm:
+ Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là toàn bộ quy trình công nghệ sản
xuất hoặc nhóm sản phẩm. Đối tượng tính giá thành là từng loại sản phẩm riêng biệt.
21
SV: Hoàng Kim Oanh - Kế toán Kiểm toán 503412
Chuyên đề tốt nghiệp
+ Kế toán căn cứ vào hệ số quy đổi để quy các loại sản phẩm về sản phẩm
gốc, từ đó, dựa vào tổng chi phí liên quan đến giá thành các loại sản phẩm đã tập
hợp để tính ra giá thành sản phẩm gốc và giá thành từng loại sản phẩm.
Giá thành đơn
vị sản phẩm gốc
=
Tổng giá thành sản xuất của các loại sản phẩm
Tổng số sản phẩm gốc quy đổi
Giá thành đơn
vị sản phẩm i
=
Giá thành đơn vị
hoạch hay giá thành định mức của sản phẩm tính theo sản lượng thực tế.
+ Tổng tiêu chuẩn phân bổ:
Tổng tiêu chuẩn
phân bổ
=
Tổng sản lượng thực tế
sản phẩm quy cách i
*
Tiêu chuẩn phân bổ của
sản phẩm quy cách i
+ Tỷ lệ giá thành theo từng khoản mục:
Tỷ lệ giá thành( theo khoản mục) = (Dđk +PS – Dck)
22
SV: Hoàng Kim Oanh - Kế toán Kiểm toán 503412
Chuyên đề tốt nghiệp
Tổng tiêu chuẩn phân bổ
+ Giá thành thực tế từng quy cách sản phẩm:
Tổng giá thành từng
quy cách
=
Tổng tiêu chuân phân bổ
từng quy cách
* Tỷ lệ giá thành
Giá thành đơn vị thực tế
quy cách i
=
Tổng giá thành thực tế quy cách i
Sản lượng sản phẩm quy cách i
2.5.5 Phương pháp loại trừ sản phẩm phụ.
- Điều kiện áp dụng: Phương pháp này áp dụng đối với những doanh
sản phẩm phụ
=
Chi phí sản xuất sản phẩm phụ
Tổng chi phí sản xuất
Để đơn giản và giảm bớt khối lượng tính toán, chi phí sản xuất sản phẩm
phụ có thể được tính trừ vào khoản chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
PHẦN 2
23
SV: Hoàng Kim Oanh - Kế toán Kiểm toán 503412
Chuyên đề tốt nghiệp
THỰC TRẠNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT
VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM Ở CÔNG TY CẤP NƯỚC YÊN BÁI
1. Khái quát chung về công ty Cấp nước Yên Bái.
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty cấp nước Yên Bái
1.1.1 Đặc điểm chung của công ty.
- Tên công ty: Công ty cấp nước Yên Bái.
- Giám đốc: Nguyễn Văn Hậu.
- Địa chỉ: 197 đường Nguyễn Phúc - Thành phố Yên Bái – Tỉnh Yên Bái.
- Số điện thoại: 029- 862147
- Số Fax: 029 - 862147
- Mã số thuế: 5200119386.
- Số tài khoản: 431101000021 tại Ngân hàng Nông Nghiệp Phát triển Nông
Thôn – Thành phố Yên Bái.
1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của công ty.
Kể từ khi thành lập đến nay công cấp nước đã có thời gian hoạt động hơn
nửa thế kỷ,tiền thân là 1 trạm bơm nước có công suất 300m3/ngày đêm do Pháp
xây dựng phục vụ cho các công sở trên địa bàn .
Tháng 10 năm 1962 được sửa chữa, xây dựng lại với tên gọi “ Nhà máy
nước Yên Bái " có công suất là 2.400m3/ngày đêm.Với năng lực công xuất hạn
chế như vậy nên nhà máy chỉ cung cấp đủ nước phục sản xuất cho nhà máy
Với lực lượng lao động hơn 70 người (trong đó nhân viên quản lý là 17
người) được đào tạo cơ bản , có trình độ quản lý và trình độ chuyên môn vững
vàng, có dây chuyền sản xuất khá hiện đại. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Công
ty, tập thể CNVC luôn đoàn kết nâng cao tinh thần làm chủ doanh nghiệp, khắc
phục khó khăn hoàn thành nhiệm vụ, liên tục trong nhiều năm vừa qua đơn vị
đựơc UBND Tỉnh Yên Bái, Bộ xây dựng tặng bằng khen.
1.1.3 Nhiệm vụ của công ty Cấp nước Yên Bái.
Nhiệm vụ chính của công ty Cấp nước Yên Bái sản xuất nước và tiêu thụ
nước cho nhân dân Thành phố Yên Bái và thị trấn Yên Bình (gọi là sản xuất
chính).
Ngoài ra Công ty Cấp nước Yên Bái còn xây dựng và lắp đặt hệ thống
đường ống cung cấp nước cho các hộ dân cư, các cơ quan, các doanh nghiệp sản
25
SV: Hoàng Kim Oanh - Kế toán Kiểm toán 503412