LỜI MỞ ĐẦU
Xã hội ngày càng phát triển, con người được coi là yếu tố quyết định đến sự
tồn tại và phát triển của doanh nghiệp; là nhân tố hạt nhân của tổ chức, quyết định
sự thành công hay thất bại của tổ chức, làm cho tổ chức vận hành và phát triển.
Ngày nay một tổ chức tồn tại và phát triển không chỉ bởi sự quyết định của vốn,
công nghệ, hay thiết bị mà nó phụ thuộc rất nhiều vào sự lãnh đạo, tổ chức của con
người. Chính vì vậy, quản lí nguồn nhân lực là một hoạt động quan trọng trong tổ
chức. Hiện nay trong các tổ chức, việc tạo động lực làm việc cho nhân viên luôn
được các nhà quản trị chú trọng nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong công
việc. Tuy nhiên, công tác này vẫn còn gặp nhiều khó khăn phụ thuộc vào văn hóa
làm việc của từng doanh nghiệp.
Là một tập đoàn lớn hàng đầu cả nước trong lĩnh vực dầu khí, trải qua hơn
nửa thế kỉ, Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam (PVN) đã đi lên và phát triển
mạnh mẽ trong nền kinh tế, có nhiều đóng góp quan trọng cho sự phát triển của đất
nước. Do đặc thù của ngành, người lao động luôn phải làm việc trong môi trường
độc hại và điều kiện khó khăn, sức ép công việc là rất lớn… Do đó, người lao động
rất dễ rơi vào trạng thái căng thẳng, chán nản, mất đi động lực làm việc. Chính vì
vậy, công tác tạo động lực cho người lao động lại càng trở nên cần thiết đối với
doanh nghiệp. Xuất phát từ yêu cầu lý luận và thực tiễn trên nhóm 1 đã lựa chọn đề
tài: “Liên hệ thực tiễn công tác tạo động lực làm việc cho nguồn lao động tại tập
đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam PVN” cho bài thảo luận lần này.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG
1.1.
Khái niệm và vai trò của tạo động lực lao động:
1.1.1. Khái niệm:
a. Động lực là gì?
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về động lực lao động, nhưng theo giáo
trình quản trị nhân lực của PGS.TS.Nguyễn Ngọc Quân và ThS Nguyễn Vân
doanh.
Khi người lao động có động lực thì người lao động cảm thấy hiểu rõ và
yêu thích công việc. Ngoài ra họ còn cảm thấy được sự quan tâm của công ty
dành cho họ và sẽ gắn bó với công ty ở hiện tại của mình.
b. Đối với doanh nghiệp
Tạo động lực là một hoạt động lớn và có ý nghĩa vô cùng quan trọng
trong công tác quản lý, nó có tác động đến việc khiến khích lao động làm việc
hăng say tích cực hơn, giúp công ty khai thác tối đa khả năng tiềm tàng của
người lao động và sử dụng hiệu quả nhất nguồn nhân lực của mình, nâng cao
năng suất lao động, làm cho công ty hoạt động hiệu quả, thúc đẩy sản xuất ngày
càng phát triển.
Một chính sách tạo động lực tốt sẽ giúp công ty có một đội ngũ lao động
giỏi, trung thành, hạn chế tối đa việc chảy máu chất xám, từ đó giảm được tối
thiểu chi phí phải tuyển dụng, đào tạo lại thường xuyên. Ngoài ra, nó còn thu
hút cho công ty thu hút được nhiều lao động có tay nghề, trình độ chuyên môn
cao, từ đó góp phần nâng cao uy tín công ty.
Việc tạo động lực thường xuyên sẽ làm cải thiện các mối quan hệ giữa
người lao động với nhau trong công ty, và giữa người lao động với công ty, tạo
bầu không khí làm việc thoải mái, thân thiện góp phần xây dựng văn hóa công
ty lành mạnh tốt đẹp.
c. Đối với xã hội:
Một trong những mục tiêu chiến lược của sự phát triển kinh tế - xã hội
bền vững là con người, bởi tất cả mọi của cải vật chất và tinh thần của xã hội
đều con người tạo ra, trong đó lao động đóng vai trò trực tiếp sản xuất ra của cải
vật chất đó. Để tăng năng suất lao động của cá nhân cũng như của công ty con
người phải có động lực lao động để thực hiện. Khi năng suất lao động tăng sẽ
làm của cải vật chất xã hội ngày càng nhiều và do vậy nền kinh tế - xã hội có sự
phát triển. Kinh tế - xã hội tăng trưởng sẽ giúp con người có điều kiện thỏa mãn
nhu cầu của mình ngày càng đa dạng, phong phú hơn. Điều này cho thấy động
lực lao động đã gián tiếp xây dựng xã hội phát triển dựa trên sự phát triển của
Các nhóm này tác động rất nhiều đến người lao động, nó có thể là nhân tố tích
cực tác động đến người lao động làm họ tăng năng suất và hiệu quả lao động
nhưng nó cũng có thể là nhân tố làm cho người lao động chán nản không muốn
làm việc. Vậy các nhà quản lý cần phải biết được các nhóm phi chính thức này
để tìm ra phương thức tác động đến người lao động hiệu quả nhất.
Nhu cầu được tôn trọng
Nhu cầu này thường xuất hiện khi con người đã đạt được những mục tiêu
nhất định, nó thường gắn với các động cơ liên quan đến uy tín và quyền lực.
Nhu cầu tự khẳng định mình
Trong doanh nghiệp nhu cầu này được thể hiện chính là việc người lao
động muốn làm việc theo chuyên môn, nghiệp vụ, sở trường của mình và ở mức
cao hơn đấy chính là mong muốn được làm mọi việc theo ý thích của bản thân
mình. Lúc này nhu cầu làm việc của người lao động chỉ với mục đích là họ sẽ
được thể hiện mình, áp dụng những gì mà họ đã biết, đã trải qua vào công việc
hay nói đúng hơn là người ta sẽ cho những người khác biết “tầm cao” của mình
qua công việc.
Trong hệ thống nhu cầu này Maslow đã sắp xếp theo thứ tự từ thấp đến
cao về tầm quan trọng nhưng trong những điều kiện xã hội cụ thể thì thứ tự này
có thể sẽ bị đảo lộn đi và nhưng nhu cầu nào đã được thoả mãn thì nó sẽ không
còn tác dụng tạo động lực nữa.
1.2.2. Thuyết ERG của Alderfer
Clayton Alderfer đã tiến hành sắp xếp lại nghiên cứu của Maslow và đưa
ra kết luận của mình. Ông cho rằng: hành động của con người bắt nguồn từ nhu
cầu – cũng giống như các nhà nghiên cứu khác – song ông cho rằng con người
cùng một lúc theo đuổi việc thỏa mãn ba nhu cầu cơ bản: nhu cầu tồn tại, nhu
cầu quan hệ và nhu cầu phát triển.
Nhu cầu tồn tại (Existence needs) bao gồm những đòi hỏi vật chất tối cần
thiết cho sự tồn tại của con người, nhóm nhu cầu này có nội dung giống như
thứ tốt hơn.
Nhu cầu về quyền lực là sự mong muốn có một sự tác động ảnh hưởng
kiểm soát người khác. Các cá nhân có điểm số này cao thường thích nắm trọng
trách, cố gắng ảnh hưởng đến người khác, thích những tình huống cạnh tranh
và thường hướng vào địa vị.
Có mối quan hệ nhu cầu về thành tích và kết quả công việc. Những cá
nhân có nhu cầu thành tích cao thường ưa thích những công việc có trách
nhiệm mức độ dủi do vừa phải. Khi mà đặc điểm này phổ biến những người có
thành tích cao thường có động lực mạnh mẽ. Hai là, một người có nhu cầu
thành tích cao không nhất thiết phải là 1 nhà quản lý tốt đặc biệt trong tổ chức.
Ba là, nhu cầu hòa nhập và quyền lực có liên quan đến sự thành công trong
quản lý.
1.2.4. Thuyết kỳ vọng của Victor-Vroom
Học thuyết này được V.Vroom xây dựng dựa trên một số yếu tố tạo động
lực trong lao động như: tính hấp dẫn của công việc, mối liên hệ giữa kết quả và
phần thưởng, mối liên hệ giữa sự nỗ lực quyết tâm với kết quả lao động của họ.
V.Vroom đã đặt mối quan hệ giữa các yếu tố tạo động lực cho người lao động
trong một tương quan so sánh với nhau, vì vậy để vận dụng lý thuyết này vào
trong quá trình quản lý đòi hỏi nhà quản trị phải có trình độ nhất định.
Khi con người nỗ lực làm việc họ sẽ mong đợi một kết quả tốt đẹp cùng
với một phần thưởng xứng đáng. Nếu phần thưởng phù hợp với nguyện vọng
của họ thì nó sẽ có tác động tạo ra động lực lớn hơn trong quá trình làm việc
tiếp theo.
Kỳ vọng của người lao động có tác dụng tạo động lực rất lớn cho người
lao động, nhưng để tạo được kỳ vọng cho người lao động thì phải có phương
tiện và điều kiện để thực hiện nó. Những phương tiện này chính là các chính
sách, cơ chế quản lý, điều kiện làm việc… mà doanh nghiệp đảm bảo cho
người lao động. Đặc biệt doanh nghiệp khi thiết kế công việc cho người lao
kết quả thu thập được tiến hành phân loại nhu cầu của người lao động theo các
nhóm đối tượng từ đó có thể thiết kế các biện pháp phù hợp nhằm thỏa mãn
nhu cầu của từng nhóm đối tượng.
1.3.2. Phân loại nhu cầu của người lao động
Maslow khẳng định rằng nếu tất cả những nhu cầu của một con nguời
đều không đựoc thỏa mãn vào một thời điểm cụ thể thì thỏa mãn những nhu
cầu trội nhất sẽ thúc ép mạnh nhất những nhu cầu xuất hiện trước tiên phải
được thỏa mãn trước khi nhu cầu cao cấp hơn xuất hiện. Vì vậy ta có thể phân
loại nhu cầu của người lao động từ thấp đến cao.
Những nhu cầu sinh lý: Những nhu cầu sinh lý sẽ chi phối khi chúng không
được thỏa mãn và không một nhu cầu nào khác có thể là cơ sở của động cơ
Những nhu cầu an toàn: Khi những nhu cầu sinh lý đã được đáp ứng đầy đủ
thì những nhu cầu cao cấp hơn tiếp theo sẽ trở nên quan trọng. Những nhu
cầu an toàn như được bảo vệ khỏi bị xâm hại thân thể ốm đau bệnh tật thảm
họa kinh tế và những điều bất ngờ. Theo quan điểm quản trị thì những nhu
cầu an toàn thể hiện ra ở sự cố gắng của công nhân viên, đảm bảo có việc
làm, làm và có các phụ cấp.
Những nhu cầu xã hội: Những nhu cầu này liên quan đến bản chất xã hội
của con người và nhu cầu về tình bạn của họ. Ở đây hệ thống thứ bậc bắt
đầu từ những nhu cầu vật chất hay tiêu chuẩn vật chất của hai nhu cầu trên.
Tình trạng không thỏa mãn nhu cầu ở cấp này có thể tác động đến trạng thái
tinh thần của cá nhân đó.
Các nhu cầu được tôn trọng: Nhu cầu ý thức rõ được tầm quan trọng đối với
người khác (lòng tự trọng) cũng như sự quý trọng thực sự của những người
khác đều thuộc loại này. Sự tôn trọng từ phía những người khác cũng phải
được cảm nhận là xác thực và xứng đáng. Việc thỏa mãn những nhu cầu này
sẽ dẫn đến sự tự tin và uy tín
Các nhu cầu tự thể hiện bản thân: Maslow định nghĩa những loại nhu cầu
này là lòng mong muốn trở nên lớn hơn bản thân mình, trở thành mọi thứ
mà mình có thể trở thành điều đó là cá nhân sẽ thể hiện đầy đủ mọi tài năng
Tạo động lực thông qua tiền lương
Bản chất của tiền lương là tiền công là giá cả sức lao động, nó biểu hiện
bằng tiền của giá trị sức lao động. Tiền công, tiền lương trở thành động lực khi
nó đáp ứng đủ nhu cầu vật chất cho người lao động, tạo cho họ sự yên tâm về
khoản thu nhập của mình, việc chi trả lương cũng phải đảm bảo quy tắc trong
chi trả tiền lương:
Đảm bảo nguyên tắc chi trả lương ngang nhau cho những lao động như
nhau
Đảm bảo quy tắc tốc độ tăng năng suất lao động nhanh hơn tốc độ tăng
tiền lương
Đảm bỏ mối quan hệ hợp lí về tiền lương giữa nhưng người lao động
khác nhau trong nền kinh tế.
Khi mức sống của người lao động còn thấp thì việc nâng cao vai trò của
tiền lương sẽ đáp ứng nhu cầu thiết yếu nhất của người lao động đó là
nhu cầu vật chất.
Tạo động lực qua tiền thưởng
Tiền thưởng là khoản tiền doanh nghiệp trả cho người lao động do họ có
những thành tích và đóng góp vượt trên mức độ mà chức trách quy định. Tiền
thưởng cũng làm thỏa mãn một phần nhu cầu về vật chất của người lao động.
Ngoài ra nó còn tác động tới tinh thần của bản thân và gia đình ở mức độ cao
hơn. Vì thế tiền thưởng là một biện pháp tạo động lực hiệu quả.
Tạo động lực qua cổ phần
Cổ phần là biện pháp tạo động lực nhằm làm cho người lao động gắn bó
lâu dài với doanh nghiệp cũng như nâng cao tinh thần trách nhiệm của họ đối
với doanh nghiệp. Các doanh nghiệp thường sử dụng biện pháp này dưới dạng
quyền ưu tiên mua cổ phần và chia cổ phần cho người lao động.
Tạo động lực qua phụ cấp
Phụ cấp là khoản tiền được trả thêm cho người lao động khi họ nhận
tăng thêm một số nhiệm vụ khác nhau mà một nhân viên thực hiện mà không
làm tăng thêm độ phức tạp của bất kì công việc nào.
Tạo động lực qua môi trường làm việc
Tạo dựng không khí làm việc thân thiện, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng
tin tưởng lẫn nhau. Điều này đòi hỏi phải có sự quan tâm của ban lãnh đạo tổ
chức doanh nghiệp, sự tham gia nhiệt tình của mọi thành viên trong tổ chức
doanh nghiệp và những người đứng đầu tổ chức doanh nghiệp phải là những
người gương mẫu, tiên phong đi đầu trong việc tạo dựng một không khí làm
việc tốt đẹp.
Thái độ của nhà quản trị đối với người lao động
Cách hành xử của nhà quản trị trong các tình huống nhạy cảm như: hiếu,
hỷ hoặc thái dộ đối với người tốt người lập thành tích, người sai lầm có hành vi
tiêu cực... luôn được người lao động quan tâm chú ý và có sự liên hệ rất nhanh.
Từ đó tạo nên văn hóa quan tâm, đùm bọc lẫn nhau trong các thành viên của tổ
chức doanh nghiệp.
1.3.3.4. Xác định chi phí triển khai chương trình tạo động lực
Chi phí được xác định tùy thuộc vào mục tiêu chương trình, đối tượng tạo
động lực, các biện pháp tạo động lực và ngân sách cho tạo động lực của tổ
chức, doanh nghiệp,…
1.3.3. Triển khai chương trình tạo động lực làm việc cho người lao động
Mục đích: Triển khai chương trình tạo động lực việc làm cho người lao động
nhằm thực hiện mục tiêu của chương trình tạo động lực việc làm việc cho người
lao động đã xác định và là kết quả của việc tổ chức và phối hợp của các bộ phận
Nội dung: Việc triển khai chương trình tạo động lực cho người lao động cần
thực hiện đúng theo lịch trình đã xác định. Thông thường bộ phận nhân sự sẽ là
đầu mối xây dựng và ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện phân công
công việc và tổ chức các chương trình tạo động lực. Bộ phận kế toán chịu trách
nhiệm cung cấp tài chính theo phê duyệt và các bộ phận có đối tượng tạo động
cầu mới xuất hiện sẽ đóng vai trò này.
Giá trị cá nhân
Giá trị cá nhân ở đây có thể hiểu là trình độ, hình ảnh của người đó trong
tổ chức hay xã hội. Tuỳ theo quan điểm giá trị khác nhau của mỗi cá nhân mà
họ sẽ có những hành vi khác nhau, khi người lao động ở những vị trí khác nhau
trong tổ chức thì thang bậc giá trị cá nhân của họ cũng thay đổi dù nhiều hay ít
Đặc điểm tính cách
Tính cách con người là sự kết hợp các thuộc tính tâm lý cơ bản và bền
vững của con người. Nó được biểu thị thành thái độ, hành vi của con người đối
với bản thân, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và đối với cả xã hội nói chung.
Như vậy tính cách không phải là do di truyền mà nó chính là hiệu quả
tác động của sự giáo dục, rèn luyện của bản thân và sự tác động gián tiếp của
môi trường mà người đó được sống và làm việc trong đó. Các nhà quản trị khi
biết được tính cách của mỗi người lao động trong doanh nghiệp mình thì nó sẽ
là cơ sở để họ tìm ra cách đối xử và sử dụng tốt hơn.
Tính cách gồm hai đặc điểm cơ bản là đạo đức và ý chí:
Về đạo đức: Đó chính là tính đồng loại, lòng vị tha hay tính ích kỷ, tính
trung thực hay dối trá, cẩn thận hay cẩu thả, chăm chỉ hay lười biếng…
Về ý chí: Đó là tính cương quyết hay nhu nhược, dám chịu trách nhiệm
hay đùn đẩy trách nhiệm, có tính độc lập hay phụ thuộc…
Khả năng, năng lực của mỗi người.
Khả năng hay còn gọi là năng khiếu là những thuộc tính cá nhân giúp
con người có thể lĩnh hội một công việc, một kỹ năng hay một loại kiến thức
nào đó được dễ dàng và khi họ được hoạt động ở lĩnh vực đó thì khả năng của
họ sẽ được phát huy tối đa, kết quả thu được sẽ cao hơn những người khác.
Năng lực vừa là yếu tố di truyền vừa là kết quả của sự rèn luyện. Năng
lực là cơ sở để tạo ra khả năng của con người. Năng lực được thực hiện và
trưởng thành chủ yếu trong thực tế. Trong các loại năng lực của con người thì
quan trọng nhất là năng lực tổ chức và năng lực chuyên môn. Người lao động
cầu của họ sẽ là sự tự do trong công việc, muốn được đi nhiều…vì vậy nhà
quản lý phải dựa vào đặc điểm của mỗi cá nhân để thiết kế lên một công việc
phù hợp nhất.
Khả năng thăng tiến trong công việc
Thăng tiến là quá trình một người lao động được chuyển lên một vị trí
cao hơn trong doanh nghiệp, việc này thường được đi kèm với việc lợi ích vật
chất của người lao động sẽ được tăng lên đồng thời cái tôi của họ cũng được
thăng hoa
Như vậy thăng tiến cũng là một nhu cầu thiết thực của người lao động vì
sự thăng tiến tạo cơ hội cho sự phát triển cá nhân, tăng địa vị, uy tín cũng như
quyền lực của người lao động.
Chính sách về sự thăng tiến có ý nghĩa trong việc hoàn thiện cá nhân
người lao động đồng thời đối với doanh nghiệp nó là cơ sở để giữ gìn và phát
huy lao động giỏi và thu hút lao động khác đến với doanh nghiệp.
Quan hệ trong công việc
Đây chính là nhu cầu xã hội của người lao động trong quá trình làm
việc. Môi trường làm việc trong doanh nghiệp luôn được các cá nhân trong
doanh nghiệp quan tâm vì môi trường làm việc là yếu tố chủ yếu liên quan đến
sự thuận tiện cá nhân và nó cũng là nhân tố quan trọng giúp họ hoàn thành tốt
nhiệm vụ của mình.
Nhu cầu quan hệ cũng là một phần của nhu cầu tự trọng mà muốn thỏa
mãn được nó thì các nhà quản trị phải thỏa mãn nó từ bên ngoài, và nhu cầu
thể hiện rõ nhất khi người lao động tồn tại trong một tổ chức.
b. Yếu tố thuộc về tổ chức
Chính sách quản lý doanh nghiệp
Chính sách quản lý của doanh nghiệp cần nhiều biện pháp khác nhau vì
một chính sách quản lý của doanh nghiệp tác động đến thái độ hành vi của
người lao động. Việc quản trị sẽ có hiệu quả hơn khi các nhà quản trị biết cách
Ngày 9-9-1977, Chính phủ ra Quyết định số 251/CP thành lập Công ty Dầu
mỏ và Khí đốt Việt Nam, gọi tắt là Petrovietnam, trực thuộc Tổng cục Dầu mỏ và
khí đốt Việt Nam.
Trong năm 1990, đồng thời với việc sáp nhập Tổng cục Dầu mỏ và Khí đốt
Việt Nam vào Bộ Công nghiệp nặng, ngày 6-7-1990, Chính phủ ra Quyết định số
250-HĐBT về việc thành lập Tổng công ty Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam trực
thuộc Bộ Công nghiệp nặng.
Ngày 14-4-1992, Chính phủ ra Quyết định số 125-HĐBT về việc đặt Tổng
công ty Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng.
Ngày 29-5-1995, Chính phủ ban hành Nghị định số 37-CP về tổ chức Tổng
công ty Dầu Khí Việt Nam và Quyết định số 330/TTg về việc thành lập Tổng công
ty Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam có tên giao dịch quốc tế là Vietnam Oil and Gas
Corporation, viết tắt là Petrovietnam.
Ngày 9-3-2006, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển
ngành Dầu khí Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2025.
Ngày 29-8-2006, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số
199/2006/QĐ-TTg thành lập Công ty mẹ - Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, tên giao
dịch quốc tế là Vietnam Oil and Gas Group gọi tắt là Petrovietnam, viết tắt là
PVN. Tại Quyết định số 198/2006/QĐ-TTg Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án
thành lập Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, tên giao dịch quốc tế là Vietnam
National Oil and Gas Group.
Tháng 7 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định chuyển tư cách
pháp nhân của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam thành Công ty trách nhiệm hữu hạn
một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu.
2.1.2. Các đặc điểm kinh tế kỹ thuật chủ yếu của công ty
2.1.2.1. Đặc điểm sản phẩm và thị trường
Tìm kiếm, thăm dò và khai thác
Đây là hoạt động cốt lõi của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) được triển
các sản phẩm khí.
Công nghiệp điện
Đầu tư xây dựng các nhà máy điện là đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng năng
lượng, đáp ứng nhu cầu điện năng ngày càng cao để phát triển kinh tế. Tập đoàn
Dầu khí Việt Nam (PVN) đã và đang đẩy mạnh đầu tư vào lĩnh vực sản xuất điện
và nhanh chóng trở thành nhà sản xuất điện lớn thứ 2 của Việt Nam. Năm 2007,
Tập đoàn đã thành lập Tổng Công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam (PV Power) và
các Ban Quản lý dự án (QLDA) để quản lý đầu tư xây dựng và vận hành các Dự án
điện theo nhiệm vụ Chính phủ giao.
Dịch vụ dầu khí
Mục tiêu phát triển của ngành dầu khí khẳng định, công tác dịch vụ đóng vai
trò quan trọng ở cả ba khâu: thượng nguồn, trung nguồn, hạ nguồn. Nghĩa là công
tác dịch vụ phải có mặt và tham gia vào tất cả các khâu tìm kiếm, thăm dò, khai
thác, chế biến, vận chuyển, tàng trữ và phân phối của ngành Dầu khí.
Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã từng bước xây dựng và phát triển lĩnh vực
dịch vụ dầu khí đồng bộ với tất cả loại hình dịch vụ như: Dịch vụ kỹ thuật dầu khí,
tài chính, bảo hiểm, vận chuyển dầu khí, tư vấn hỗ trợ sản xuất, khoa học đào
tạo…
2.1.2.2. Một số hoạt động quản trị
Đào tạo, phát triển nhân lực
PVN đã thực hiện 3 giải pháp đột phá: Đột phá về khoa học công nghệ, đột
phá về cơ chế quản lý, đột phá về phát triển nguồn nhân lực, trong đó lấy đột phá
phát triển nguồn nhân lực là trọng tâm. Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
đáp ứng nhu cầu phát triển, PVN đã triển khai chiến lược đào tạo cụ thể trong giai
đoạn 2016 - 2020. Các giải pháp chủ yếu là tăng cường đào tạo chuyên sâu ngắn
hạn và dài hạn (trình độ thạc sĩ, tiến sĩ) với nhiều hình thức khác nhau; chú trọng
đào tạo chuyên gia ở các lĩnh vực chuyên môn; tập trung đào tạo thạc sĩ chuyên sâu
ở các đơn vị sản xuất kinh doanh, đào tạo tiến sĩ ở các đơn vị nghiên cứu khoa
học…
Ngày 19/08/2009, tại Quyết định số 2496/QĐ - DKVN, Hội đồng quản trị
chính trị quan trọng, là trách nhiệm, tình cảm của những người lao động dầu khí
đối với cộng đồng, với xã hội. Đây cũng chính là một trong những đặc trưng văn
hoá của một doanh nghiệp Nhà nước đầu tầu, trụ cột của nền kinh tế. An sinh xã
hội thể hiện tính nhân văn, bổn phận của con người, của xã hội đối với cộng đồng
và góp phần để xây dựng một xã hội hài hòa, văn minh.
Công tác an sinh xã hội là một trong những nội dung quan trọng trong chiến
lược phát triển của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, đây cũng là một yêu cầu
bức thiết của quá trình phát triển nhanh và bền vững của toàn xã hội.
Thi đua khen thưởng
Tập đoàn đã khen thưởng, tôn vinh người lao động với nhiều hình thức
phong phú như Doanh nhân Dầu khí tiêu biểu, lao động Dầu khí tiêu biểu, Doanh
nhân trẻ Dầu khí… Những con số khen thưởng tuy chưa phản ánh hết được bức
tranh toàn cảnh về kết quả thi đua của toàn ngành, nhưng đã có tác dụng to lớn
trong việc động viên, cổ vũ phong trào thi đua yêu nước trong toàn Tập đoàn.
2.1.3. Tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty giai
đoạn hiện nay
Tổng sản lượng khai thác quy dầu tám tháng đầu năm đạt 17,12 triệu tấn,
vượt 0,1% so với kế hoạch 8 tháng và bằng 66,3% kế hoạch năm. Trong đó, sản
lượng khai thác dầu đạt 10,49 triệu tấn, sản lượng khai thác khí đạt 6,63 tỷ m 3. Sản
xuất điện 8 tháng đầu năm đạt 14,29 tỷ kWh. Các chỉ tiêu sản xuất khác Tập đoàn
cũng hoàn thành vượt mức kế hoạch đề ra. Cụ thể, sản xuất đạm đạt 1,18 triệu tấn,
vượt 10,3% kế hoạch 8 tháng; sản xuất xăng dầu toàn Tập đoàn đạt 3,82 triệu tấn,
vượt 19,8% kế hoạch 8 tháng.
Các chỉ tiêu tài chính của Tập đoàn (tổng doanh thu, nộp ngân sách nhà
nước) đều hoàn thành vượt mức kế hoạch đề ra và cao hơn so với cùng kỳ năm
2016. Tổng doanh thu toàn Tập đoàn 8 tháng đạt 319,6 nghìn tỷ đồng. Trong 8
tháng đầu năm, Tập đoàn Dầu khí đã nộp ngân sách Nhà nước ước đạt 60,2 nghìn
tỷ đồng, vượt 19% so với kế hoạch 8 tháng.
hiện diện và khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên thực tế, góp phần bảo vệ
vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển Đông
2.2. Nhân sự của tập đoàn dầu khí Việt Nam
2.2.1. Số lượng lao động
Bảng 1: Số lượng lao động của PVN đến năm 2012
Nguồn:Tổng cục Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam
Năm 1961, khi thành lập, Đoàn thăm dò dầu lửa 36 chỉ có 261 người, đến
năm 1975 khi ngành dầu khí chính thức được thành lập (Tổng cục Dầu mỏ và Khí
đốt Việt Nam) có khoảng 2.000 người, đến năm 2001 đã có 15.000, năm 2005 có
21.000, năm 2009 có 35.000, năm 2010 có 44.000 và đến 31/12/2012 là 60.000
người. Theo số liệu thống kê thì lao động bình quân tăng 1000 người/năm giai
đoạn 2001-2006 và 8000 người/năm cho gia đoạn 2006-2012. Mặc dù sang các
năm 2012 đến nay do việc tái cơ cấu các Tập đoàn kinh tế nói chung cũng như Tập
đoàn Dầu khí (PVN) nói riêng (chỉ tập trung đầu tư vào các ngành sản xuất kinh
doanh chính) nên tốc độ tăng lao động bình quân đã giảm, tuy nhiên có rút xuống
mức 5000 người/năm thì cũng có thể thấy lao động toàn ngành dầu khí hiện nay
vào khoảng xấp xỉ 70.000 người.
2.2.2. Cơ cấu trình độ
Trình độ
Số người
Tỷ lệ (%)
Trên đại học
Đại học
Lao động dầu khí là lao động nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm. Đa số hoạt
động dầu khí diễn ra trên giàn khoan biển, nhà máy lọc hóa dầu, các công trình xây
lắp chân đế giàn khoan, nhà máy chế biến dầu khí … là những nơi thường xuyên
tiềm ẩn các rủi ro cao, điều kiện lao động khắc nghiệt, nên số lao động nữ chiếm tỷ
lệ thấp, khoảng 20% trong tổng số lao động dầu khí. Phần lớn lao động nữ tham
gia lao động gián tiếp, chiếm khoảng 35% -37% tổng số lao động gián tiếp. Trong
số lao động trực tiếp, nữ chỉ chiếm 8-10%. Tuy nhiên, chỉ vài năm trở lại đây, tỷ lệ
lao động nữ trong Tập đoàn đã gia tăng đột biến, nếu như năm 2012, bình quân cứ
04 lao động nam có 01 lao động nữ thì đến năm 2016, bình quân 03 lao động nam
có 01 lao động nữ.
2.2.4. Cơ cấu ngành nghề
Ngành nghề của đội ngũ lao động hết sức đa dạng, với hàng trăm ngành
nghề khác nhau. Các ngành nghề liên quan trực tiếp đến hoạt động dầu khí như địa
chất, địa vật lý, khoan, khai thác, lọc hóa dầu, vận chuyển và tàng trữ dầu khí, chế
biến, kinh doanh các sản phẩm dầu khí vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất. Tuy nhiên, tỷ
trọng này đang có xu hướng giảm đi trong những năm gần đây từ 17,2% năm 2006
xuống còn dưới 10% năm 2011 do có sự thay đổi và gia tăng mạnh mẽ của nhóm
ngành kỹ thuật, dịch vụ đặc biệt trong lĩnh vực cơ khí, điện - điện tử, kinh tế - tài
chính... do sự phát triển mạnh của các hoạt động thuộc khâu sau, khối dịch vụ dầu
khí, tài chính, bảo hiểm…
2.3. Thực trạng công tác tạo động lực cho người lao động tại PVN
2.3.1. Xác định nhu cầu của người lao động
Nhu cầu của con người là rất đa dạng và không giống nhau trong từng
hoàn cảnh cụ thể, do đó, đòi hỏi nhà quản lý phải có kỹ năng, kinh nghiệm trong
công tác tạo động lực để có thể tìm hiểu nhu cầu của người lao động, từ đó có
định hướng vào sự thoả mãn nhu cầu đó của họ để chính sách tạo động lực đạt
được kết quả cao nhất.
Tại PVN chưa có hoạt động chính thức nào tiến hành xác định nhu cầu của