VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ DIỆU HƯƠNG
ĐỔI MỚI QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG
HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC XÃ HỘI:
TRƯỜNG HỢP VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT
NAM
Ngành
: Quản lý kinh tế
Mã số
: 9.34.04.10
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS.TS. Vũ Hùng Cường
2. PGS.TS. Nguyễn Trọng Thản
Hà Nội, năm 2018
iii
LỜI CAM ĐOAN
cho hoạt động khoa học ......................................................................................10
1.3. Nhóm các công trình bàn về quản lý sử dụng nguồn tài chính
cho hoạt động khoa học ......................................................................................13
1.4. Nhóm các công trình bàn về đổi mới cơ chế hoạt động,
cơ chế quản lý tài chính trong các tổ chức Khoa học và Công nghệ .................15
1.5. Kết quả nghiên cứu và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu ................17
1.5.1. Kết quả nghiên cứu đạt được ......................................................................17
1.5.2. Hạn chế và vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu ......................................18
1.5.3. Khung phân tích của luận án ......................................................................19
CHƯƠNG II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ
TÀI CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC XÃ HỘI ..........................................
22
2.1. Một số lý luận cơ bản về hoạt động Khoa học xã hội ........................................22
2.1.1. Khái niệm về hoạt động Khoa học xã hội...................................................22
2.1.2. Đặc thù của Khoa học xã hội ......................................................................22
2.2. Quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội ..........................................27
2.2.1. Khái niệm, đặc điểm quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội .27
2.2.2. Nội dung quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội ....................32
2.2.3. Công cụ quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội .....................43
2.2.4. Các chỉ tiêu, tiêu chí đánh giá quản lý tài chính
trong hoạt động Khoa học xã hội................................................................45
2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính
iii
trong hoạt động Khoa học xã hội .......................................................................47
iii
3.4.3. Phân tích nhân tố EFA ..............................................................................116
3.4.4. Kiểm định thang đo bằng phương pháp
phân tích nhân tố khẳng định CFA ...........................................................117
3.4.5. Phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM .............................................118
3.4.6. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính
trong hoạt động Khoa học xã hội thời gian qua........................................120
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3....................................................................................................... 127
CHƯƠNG IV. MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI QUẢN LÝ TÀI CHÍNH
TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC XÃ HỘI ...............................................................
128
4.1. Bối cảnh và những cơ hội, thách thức đổi mới quản lý tài chính
trong hoạt động Khoa học xã hội .....................................................................128
4.1.1. Bối cảnh ....................................................................................................128
iii
4.1.2. Cơ hội, thách thức .....................................................................................131
iii
4.2. Quan điểm, định hướng đổi mới quản lý tài chính
trong hoạt động Khoa học xã hội .....................................................................134
4.2.1. Quan điểm .................................................................................................134
4.2.2. Định hướng và yêu cầu đổi mới ...............................................................135
4.3. Một số giải pháp đổi mới quản lý tài chính
trong hoạt động Khoa học xã hội .....................................................................137
4.3.1. Nhóm giải pháp tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách quản lý tài chính
trong hoạt động Khoa học xã hội của cơ quan quản lý Nhà nước............137
NĐ
Nghị định 115
Nghị định 16
Nghị định 54
NLTC
NSNN
OECD
QLTC
Thông tư 27
Thông tư 44
Thông tư 55
Thông tư 93
USD
VNĐ
WTO
XH
XHCN
Chi tiêu nội bộ
Doanh nghiệp
Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)
Khoa học và Công nghệ
Khoa học công nghệ
Khoa học tự nhiên
Khoa học xã hội
Khoa học xã hội và Nhân văn
Nghiên cứu và Phát triển
Nghiên cứu khoa học
Nghị định
Nghị định 115/2005/NĐ-CP
3.9
3.10
3.11
3.12
3.13
3.14
3.15
3.16
3.17
3.18
DANH MỤC CÁC BẢNG
Nội dung
Trang
Chi cho NC&PT theo lĩnh vực nghiên cứu năm 2013
70
Đầu tư tài chính cho các Chương trình KH&CN cấp Nhà nước
72
giai đoạn 2006-2015
Bình quân kinh phí sự nghiệp khoa học từ nguồn NSNN của
73
Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam và Viện Hàn lâm KHXH Việt
Nam giai đoạn 2006-2018
Quy mô kinh phí bình quân cho một đề tài nghiên cứu khoa học
74
cấp Nhà nước theo lĩnh vực nghiên cứu giai đoạn 2011-2015
Tổng hợp nguồn thu của Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam giai
89
đoạn 2011-2017
Tỷ lệ nguồn thu từ NSNN giữa số kế hoạch và số phân bổ của
116
Ma trận xoay của các thang đo
117
Kết quả kiểm định mối quan hệ nhân quả giữa các khái niệm
119
trong mô hình lý thuyết chính thức
v
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH
Sơ đồ
Nội dung
Trang
1.1
Khung phân tích của luận án
20
2.1
Mô hình quản lý tài chính của Viện Hàn lâm
KHXH Việt Nam
30
Cơ cấu chi cho NC&PT theo lĩnh vực nghiên cứu năm 2013
71
3.2
Kết quả phân tích nhân tố CFA
118
3.3
Kết quả phân tích nhân tố các thang đo
119
3.3
86
Hình
vi
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và kinh tế tri thức, sự phát
triển của mọi quốc gia dựa trên thành tựu của khoa học công nghệ là một đòi hỏi tất
yếu. Ở Việt Nam, Khoa học và Công nghệ (KH&CN) được xác định là “quốc sách
nên khó đa dạng được các nguồn thu - là một trong những điều kiện đảm bảo tính tự
chủ về tài chính của tổ chức KH&CN hoạt động trong lĩnh vực KHXH.
Trong thời gian qua, cơ chế quản lý Nhà nước về tài chính trong hoạt động
KHXH đã có những cải tiến đáng kể, về cả mức độ đầu tư của Nhà nước và các cơ
chế, công cụ quản lý tài chính cũng đang được từng bước hoàn thiện thông qua việc
ban hành các văn bản quy định về quản lý tài chính theo hướng tăng thêm quyền tự
chủ cho các tổ chức KH&CN, cho các nhà nghiên cứu, các văn bản ban hành sát với
thực tế hơn, điều này bước đầu đã thu được những kết quả nhất định. Tuy nhiên,
trên thực tế triển khai còn nhiều hạn chế như việc triển khai các cơ chế chính sách
còn chậm; Nguồn lực NSNN cấp cho hoạt động KHXH còn hạn chế, cơ chế phân
bổ NSNN cho hoạt động KHXH còn dàn trải, cào bằng, chưa có trọng tâm, trọng
điểm, chưa triển khai theo hình thức đấu thầu đề tài mà vẫn dựa vào hình thức giao
theo kế hoạch; Cơ chế giao quản lý tài sản công cho tổ chức KH&CN để hợp tác
liên kết còn nhiều chồng chéo, khó triển khai trong thực tế, khả năng huy động
nguồn lực ngoài NSNN bị hạn chế do đặc thù của lĩnh vực nghiên cứu; Các quy
định về định mức và thủ tục thanh toán còn chưa sát thực tiễn, còn gây nhiều phiền
hà nhất là trong việc thực hiện chủ trương khoán chi. Đặc biệt, việc hành chính hóa
trong quản lý tài chính của hoạt động khoa học đang là một rào cản lớn ảnh hưởng
đến tính chủ động của nhà khoa học và tính sáng tạo của hoạt động khoa học. Tất cả
các hạn chế cơ bản trên đang cản trở việc phát huy tính tự chủ về tài chính và nâng
cao hiệu quả quản lý tài chính tại đơn vị.
Xét về tổng thể, để đảm bảo thực sự tự chủ về tài chính của các tổ chức
KH&CN hoạt động trong lĩnh vực KHXH, cần có đổi mới đồng bộ và toàn diện cả
về nội dung và công cụ quản lý tài chính. Việc đổi mới và hoàn thiện quản lý tài
chính, nếu làm tốt, sẽ là một khâu đột phá trong việc đổi mới quản lý hoạt động
KHXH. Yêu cầu tự chủ về tài chính là một trong những yêu cầu cấp thiết và quan
trọng để nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, cơ sở hạ tầng, chất lượng của
các công trình nghiên cứu khoa học v.v… Giải quyết được những bất cập trong mô
hình quản lý tài chính sẽ giúp các tổ chức KH&CN hoạt động trong lĩnh vực KHXH
phá vỡ được vòng tròn luẩn quẩn về chất lượng nghiên cứu chưa tương xứng với
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Các vấn đề lý luận và thực tiễn quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học
xã hội, bao gồm quản lý Nhà nước về tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội và
quản lý tài chính tại tổ chức Khoa học và Công nghệ hoạt động trong lĩnh vực Khoa
học xã hội.
Trong đó:
- Chủ thể quản lý nhà nước về tài chính trong hoạt động KHXH được giới
3
hạn ở hai bộ chuyên ngành là Bộ Khoa học& Công nghệ và Bộ Tài chính, là cơ
quan quản lý và ban hành cơ chế chính sách chung cho hoạt động KH&CN.
- Chủ thể là đối tượng quản lý tài chính đồng thời là cơ quan ban hành các
văn bản quy định cụ thể hóa cơ chế chính sách của Nhà nước và thực hiện QLTC là
Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung:
+ Quản lý nhà nước về tài chính trong hoạt động KHXH bao gồm quản lý
phân bổ và sử dụng nguồn NSNN cho hoạt động KHXH, trong đó luận án chỉ tập
trung vào chủ thể quản lý nhà nước và công cụ quản lý về mặt cơ chế chính sách;
nguồn tài chính cho hoạt động KHXH trong luận án chỉ giới hạn là nguồn NSNN.
+ Quản lý tài chính tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam bao gồm quản lý huy
động, phân bổ và sử dụng (quản lý thu, quản lý chi) tài chính tại Viện Hàn lâm
KHXH Việt Nam, do đặc thù của hoạt động KHXH chủ yếu được đầu tư từ NSNN
nên trong quản lý thu luận án chỉ tập trung phân tích hoạt động nguồn thu để xác
định mức độ tự chủ, mà không đi sâu vào phân tích quản lý nguồn thu và trong
nguồn thu cũng không bao gồm chi đầu tư phát triển.
- Phạm vi không gian: Để so sánh làm rõ bức tranh thực trạng đầu tư cho
KHXH trong mối tương quan với KHCN, Luận án tập trung vào hai Chương trình
trọng điểm cấp nhà nước (KC, KX). Trong phân tích thực trạng quản lý tài chính
(3) Phương pháp điều tra xã hội học
Phương pháp điều tra xã hội học được sử dụng để xác định các nhóm nhân tố
ảnh hưởng tới quản lý tài chính tại các tổ chức Khoa học và Công nghệ hoạt động
trong lĩnh vực Khoa học xã hội ở Việt Nam trong chương 3.
Đối tượng khảo sát trong luận án là những nhà quản lý, kế toán trưởng và cá
nhân một số nhà khoa học là các chủ nhiệm đề tài, dự án nghiên cứu trong các tổ
chức KH&CN trực thuộc Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam nhằm tìm hiểu khó khăn
và thuận lợi trong quá trình sử dụng ngân sách nhà nước cho hoạt động nghiên cứu
trong thời gian qua; mặt được và chưa được trong quá trình sử dụng ngân sách, tìm
hiểu nguyên nhân của những tồn tại, cũng như các biện pháp can thiệp, cải thiện tình
hình khi đang đổi mới mạnh mẽ trong quản lý hoạt động KH&CN trong đó đặc biệt
là hướng đến quản lý tài chính theo đầu ra và nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách
nhiệm cho các tổ chức KH&CN.
Cỡ mẫu được sử dụng trong nghiên cứu là 151. Phương pháp chọn mẫu trong
luận án là chọn mẫu thuận tiện, một trong các hình thức chọn mẫu phi xác suất.
Mẫu được gửi và nhận online trên trình duyệt website tới những đối tượng có chủ
đích cho từng đơn vị. Theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện, đối tượng được chọn
5
những phần tử (đối tượng nghiên cứu) có thể tiếp cận được (Nguyễn Đình Thọ và
Nguyễn Thị Mai Trang, 2009) [44].
4.2. Phương pháp phân tích dữ liệu
(1) Phân tích thống kê mô tả
Luận án sử dụng phương pháp phân tích thống kê mô tả nhằm phân tích, đánh
giá thực trạng quản lý tài chính tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam ở chương
3.
(2) Phân tích nhân tố
Dựa trên tổng quan tài liệu và kinh nghiệm quốc tế về quản lý tài chính,
thang đo được sử dụng cho khảo sát đánh giá các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý tài
luận án đề xuất một số giải pháp đổi mới QLTC trong hoạt động Khoa học xã hội,
chỉ ra được một số tồn tại, hạn chế, cùng với tổng hợp kinh nghiệm thực tiễn làm
căn cứ và cơ sở khoa học đề xuất một số giải pháp đổi mới quản lý tài chính trong
hoạt động Khoa học xã hội.
- Về mặt chính sách, từ kết quả nghiên cứu, luận án đề xuất một số giải pháp
góp phần đổi mới cơ chế chính sách quản lý nhà nước về tài chính trong hoạt động
Khoa học xã hội ở nước ta thời gian tới.
- Về mặt học thuật, luận án là tài liệu tham khảo cho các cơ quan QLNN, tổ
chức KH&CN, cơ sở đào tạo và những người quan tâm đến chủ đề quản lý tài chính
trong hoạt động Khoa học xã hội.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Về lý luận: Cung cấp cơ sở khoa học nhằm đổi mới lý luận về quản lý tài
chính trong hoạt động Khoa học xã hội đáp ứng được yêu cầu của tình hình mới.
- Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận án có thể áp dụng trong đổi mới
quản lý nhà nước về tài chính đối với các tổ chức KH&CN hoạt động trong lĩnh vực
Khoa học xã hội nhằm nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, phát huy được
tiềm năng thế mạnh của mỗi tổ chức.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo luận án
gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến quản lý tài chính
trong hoạt động Khoa học xã hội
Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý tài chính trong
hoạt động Khoa học xã hội
Chương 3: Thực trạng quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội
Chương 4: Một số giải pháp đổi mới quản lý tài chính trong hoạt động Khoa
học xã hội
7
8
chính thức; (3) đánh giá độc lập thẩm định; (4) lựa chọn và ngân sách của dự án; (5)
thực hiện dự án; (6) điều chỉnh dự án; (7) hoạt động cơ sở; và (8) đánh giá dự án.
9
Các tác giả nhấn mạnh vai trò của các quá trình lập và điều hành ngân sách (liên kết
ở giai đoạn thích hợp để mở rộng nguồn lực ngân sách) có khả năng mang lại hiệu
quả lớn nhất cho các quyết định đầu tư công, là giải pháp cơ bản nhằm cải cách
những thiếu sót trong chi tiêu đầu tư công, hướng tới hoàn thiện quản lý chi đầu tư
từ NSNN. Tuy nhiên các tác giả không đưa ra một phương pháp cụ thể cho quá
trình đánh giá hay quản lý tổ chức thực hiện, mà chỉ đưa ra những khung định
hướng để đánh giá các giai đoạn chính của quá trình thực hiện đầu tư công.
Nghiên cứu của Streeck và Mertens [70], đã đề cập đến cơ cấu chi đầu tư
công trong điều kiện ngân sách hạn chế, thông qua khảo sát thực tế đầu tư công của
ba nước: Mỹ, Đức và Thụy Điển từ năm 1981 đến năm 2007. Chi đầu tư công của
các quốc gia này xu hướng tăng cao trong cả giai đoạn 1981-2007 và chủ yếu tăng
đầu tư về giáo dục, nghiên cứu và phát triển, hỗ trợ cho gia đình, chính sách thị
trường lao động. Các tác giả đánh giá năng lực của Chính phủ trong điều kiện thắt
lưng buộc bụng tài chính để chuyển các nguồn lực tài chính vốn đã hạn hẹp sang tài
trợ cho cho các chương trình định hướng tương lai nhằm thực hiện mục tiêu xã hội
công bằng và hiệu quả hơn. Những dữ liệu tại Đức, Thụy Điển và Mỹ trong những
năm 1981-2007 là cơ sở để để khám phá những động lực cho chính sách chi tiêu với
sự kỳ vọng rằng những nỗ lực củng cố mục tiêu công bằng và hiệu quả hơn sẽ được
thực hiện trong thập kỷ tới.
Ở trong nước, việc nghiên cứu về tài chính công mới được chú ý trong hai
thập niên đầu thế kỷ XXI với hàng loạt các công trình nghiên cứu, điển hình với
nghiệp KH&CN còn dàn trải làm cho hiệu quả sử dụng vốn chưa cao. Nghiên cứu
chỉ ra những bất cập cả về phương thức đầu tư tài chính. Tuy nhiên, nghiên cứu chưa
đưa ra được kiến nghị gì mới mà vẫn chỉ là những đề xuất mang tính định hướng
chung. Bên cạnh đó, tổ chức khoa học và công nghệ trong trường đại học không phải
là mô hình tổ chức khoa học và công nghệ có tính phổ quát, đại diện cao, có những
đặc thù hạn chế do nhiệm vụ chính của tổ chức là đào tạo chứ không phải nghiên
cứu khoa
học.
Nghiên cứu của nhóm tác giả Phạm Văn Đức, Nguyễn Đình Hòa [25], đã chỉ
ra những bất cập trong đầu tư cho KHXH so với nguồn đầu tư cho KH&CN, nghiên
cứu chỉ ra những đặc thù của KHXH và đề xuất những hạn chế trong đầu tư cho
nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng trong khoa học xã hội thời gian qua.
Nghiên cứu chỉ đưa ra những định hướng căn bản liên quan đến quản lí nhà nước,
chưa đề cập đến quản lí tài chính.
11
Nghiên cứu của tác giả Đỗ Diệu Hương [31], chỉ rõ thực trạng đầu tư tài chính
cho hoạt động Khoa học và công nghệ ở nước ta giai đoạn 2006-2010 còn thấp, đặc
biệt là đầu tư tài chính cho hoạt động KHXH do nguồn đầu tư còn hạn chế, hầu như
100% là từ NSNN. Dựa trên so sánh tỷ trọng đầu tư tài chính cho hai đơn vị hàng
đầu là Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam và Viện Hàn lâm Khoa học Công nghệ Việt
Nam nghiên cứu cho thấy việc đánh giá chưa thỏa đáng và đúng với giá trị về vai trò
của KHXH. Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp về cơ chế phân bổ ngân sách cho
hoạt động KHXH như: Đổi mới cơ chế phân bổ, giao dự toán; hướng đến giao dự
toán theo đầu ra của sản phẩm khoa học; khuyến khích và tạo điều kiện để nâng cao
tính tự chủ cho tổ chức khoa học và công nghệ cũng như cá nhân các chủ nhiệm đề
tài. Với luận văn thạc sĩ nên nghiên cứu này mới chỉ tập trung vào đánh giá cơ chế
phân bổ ngân sách cho KHXH, chưa có đánh giá sâu và tầm bao quát cao hơn cả về
lý luận và thực tiễn đối với mô hình tổ chức khoa học và công nghệ nên cần tiếp tục
vai trò quan trọng của KHXH đối với sự nghiệp phát triển đất nước, để nâng cao
hiệu quả hoạt động trong KHXH cần có những đổi mới căn bản, từ đó đưa ra 8
khuyến nghị trong đó có khuyến nghị về sửa đổi, bổ sung những quy định liên quan
đến cơ chế tài chính và đầu tư cho KHXH. Tuy nhiên, nghiên cứu chưa đề cập đến
quản lí tài chính trong hoạt động KHXH.
Nghiên cứu của Nguyễn Mậu Trung [50], qua nghiên cứu của mình đã tổng
kết lại các nguồn vốn cơ bản từ NSNN cho KH&CN, thực trạng sử dụng vốn từ
NSNN, một số cơ chế tạo vốn đầu tư cho KH&CN trong các doanh nghiệp và nêu
ra một số giải pháp để tăng cường hiệu quả hoạt động KH&CN… Bài viết đã đưa
một số trường hợp cu thể như: ngân sách nhà nước bố trí cho KH&CN 2% tổng chi
ngân sách, nhưng việc phân bổ tồn tại nhiều bất cập, ách tắc dẫn đến tỷ lê thực chi
cho KH&CN thấp, việc giải ngân chậm, thậm chí tồn không tiêu hết; Hoạt động
KH&CN vẫn hình thức và không hiệu quả, với trên 1200 tổ chức KH&CN, nhưng
các tổ chức KH&CN và các nhà khoa học chủ yếu nghiên cứu KH&CN theo sự chỉ
đạo của nhà nước, dùng kinh phí của nhà nước và nộp sản phẩm cho nhà nước để
hưởng tiền lương, tiền công; Bên cạnh đó nhà nước cho phép hình thành các quỹ để
hỗ trợ đầu tư cho KH&CN, ưu đãi về thuế đối với hoạt động KH&CN; ra chủ
trương chuyển đổi về tổ chức và hoạt động trong KH&CN (theo Nghị định
115/2005/NĐ-CP). Tác giả đã đề xuất một số giải pháp: (1) Nâng cao nhận thức cho
toàn dân; (2) Có quy chế phân bổ và sử dụng đúng đủ và triệt để kinh phí được phân
bổ; (3) Có chính sách khuyến khích chuyển đổi các tổ chức KH&CN sang tự chủ, tự
chịu trách nhiệm; (4) Mở rộng xã hội hóa thu hút các nguồn vốn ngoài ngân sách
cho hoạt động KH&CN; (5) Tổ chức kiểm điểm thực hiện nghi quyết TW 2 và kết
quả thực hiện luật KH&CN cũng như các văn bản khác liên quan.
Nghiên cứu của Hồ Thị Hải Yến [57], phân tích thực trạng cơ chế tài chính
đối với hoạt động KH&CN trong các trường đại học Việt Nam và chỉ ra những hạn
chế của cơ chế tài chính đối với hoạt động KH&CN, bao gồm: (1) Nguồn tài chính
đầu tư cho KH&CN đầu tư từ NSNN còn thấp; (2) Cơ cấu đầu tư từ NSNN cho các
lĩnh vực KH&CN còn chưa toàn diện, thể hiện là chưa chú ý đến đầu tư cho nghiên
14
quan trọng nhất là đổi mới đồng bộ cách thức tổ chức quản lý hoạt động KH&CN
trong đó có đổi mới trong cơ chế quản lý tài chính, từ việc ưu tiên nguồn lực, nâng
cao hiệu quả đầu tư ngân sách nhà nước cho KH&CN, có giải pháp huy động các
nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước đến việc cải thiện khung hành lang pháp lý, hệ
15