TÀI LIỆU THAM KHẢO hỏi đáp về 82 BIA TIẾN sĩ tại văn MIẾU QUỐC tử GIÁM hà nội - Pdf 52

HỎI

ĐÁP VỀ
82
BIA TIẾN


VĂM
MIẾU
QUỐC
TỬ
GIÁM
Câu hỏi 1: Mục đích chính của việc dựng bia, khắc tên những người đỗ Tiến sĩ là gì?





NỘI

Trả lời:
Nhân tài có vai trò đặc biệt đối với quốc gia, do đó các triều đại phong kiến Việt Nam đều hết mực coi trọng, ngoài việc ban
ơn ưu đãi còn có những hình thức tôn vinh, đề cao.
Đến đời Lê Thánh Tông, không chỉ quan tâm đến tổ chức thi cử, trọng dụng nhân tài mà vua còn nghĩ thêm cách đề cao, lưu
danh họ trong sử sách. Tháng 4 năm Giáp Thìn (5-1484) cuốn Đăng khoa lục đầu tiên trong lịch sử nước ta, thống kê danh sách
những người đỗ đạt đã được hoàn thành và in ấn, phát cho nho sinh đang theo học tại Quốc Tử Giám. Ân huệ cho các Tiến sĩ
như thế tưởng nghĩ đã hết mức long trọng, chu đáo; nhưng chưa dừng ở đó, Lê Thánh Tông biết rằng Đăng khoa lục dù được in,
phát nhưng cũng chỉ trong một giới hạn nhất định, phần nhiều lại xếp trên các giá sách mà thôi, do đó không có tác dụng rộng rãi
đến đông đảo mọi người trong xã hội. Vì lẽ đó, ông đã cho thực hiện thêm một phương thức tôn vinh độc đáo để lưu danh, đề
cao nhân tài mà các sách Đăng khoa lục không đáp ứng được, đây cũng là điều mà trước đó trong lịch sử Việt Nam chưa từng có
tiền lệ. Đó là việc cho dựng bia đá, khắc tên những người thi đỗ Tiến sĩ, mở đầu cho một công việc tuyệt vời mà đời sau coi đó

Tiến sĩ khoa Nhâm Tuất - 1502).
9) "Đăng khoa thì có sách chép, đề danh thì có bia là cốt để lưu tiếng thơm trong sử sách, làm rạng rỡ sự nghiệp đến muôn
đời" (Bia Tiến sĩ khoa Tân Mùi - 1511).
10) "Cho dựng đá đề danh người thi đỗ… để bổ sung thiếu sót và để kịp thời biểu dương khuyến khích" (Bia Tiến sĩ khoa
Giáp Tuất - 1514).
11) "Đăng khoa phải có sách chép, đề danh phải có bia ký, để ghi công danh tới muôn đời và để rạng tỏ sự nghiệp đến ức vạn
năm" (Bia Tiến sĩ khoa ất Sửu - 1565).


12) "Đề danh vào bia đá để ghi lại sự kiện lớn, khiến người đời sau sẽ trông vào đó mà bắt chước vậy" (Bia Tiến sĩ khoa Đinh
Sửu - 1577).
13) "Tạc đá khắc bia để truyền lại khuôn mẫu cho đời sau, chép họ ghi tên để cho hậu thế xem đọc. Trên để tuyên dương
tiếng thơm của người trung nghĩa đời trước, dưới để cảm hoá kẻ sĩ hào kiệt đương thời; mà ý khen ngợi khuyên răn gửi cả vào
trong đó" (Bia Tiến sĩ khoa Canh Thìn - 1580).
14) "Sai quan Bộ Công khắc đá đề danh, từ thần soạn bài ký dựng ở cửa nhà Thái học để khuyến khích kẻ sĩ trong nước...
Đem các khoa thi trước sau khắc vào đá tốt, vừa là để biểu dương danh thơm đức tốt, vừa là để khuyến khích kẻ trung thần"
(Bia Tiến sĩ khoa Quý Mùi - 1583).
15) "Sai Bộ Công khắc đá cứng dựng ở nhà Thái học để soi tỏ cho đời sau, lưu truyền đến vô cùng... Cho khắc sâu chữ lớn đề
họ tên những người thi đỗ các khoa, sừng sững dựng bia cao đối diện với trường Giám để làm thịnh điển cho thánh triều, cũng là
để cho sĩ tử vinh hạnh trông vào" (Bia Tiến sĩ khoa Kỷ Sửu - 1589).
16) "Đề tên dựng đá có bài ký khắc bia, là cốt để làm gương soi làm rùa bói cho trăm đời, làm quy trình phép tắc cho muôn
thuở… Bia đá này dựng lên giúp ích được rất nhiều: người thiện có thể xem để được khuyến khích, kẻ ác có thể lấy đó làm răn,
tỏ ý khen chê đối với việc trước, để lại khuyên răn cho đời sau, trau dồi danh tiết sĩ phu cả trăm ngàn năm, mệnh mạch nước nhà
vững bền muôn vạn thuở" (Bia Tiến sĩ khoa Nhâm Thìn - 1592).
17) "Khắc họ tên lên đá cứng để khích lệ các nho thần…. Bia đá này dựng lên chính là trụ đá của danh giáo, là sự khuyến
khích người hiền, răn chừng kẻ bất thiện" (Bia Tiến sĩ khoa ất Mùi - 1595).
18) "Các khoa Chế khoa, Tiến sĩ, chọn được rất nhiều nhân tài, nếu không dựng bia đề danh thì sao đủ tô điểm cho cuộc thái
bình?" (Bia Tiến sĩ khoa Mậu Tuất - 1598).
19) "Khắc vào bia đá tốt để biểu dương tiếng thơm đức sáng còn tiềm ẩn của người trước và để khuyến khích cho đời sau…
Bia đá này dựng lên vừa là để khích lệ kẻ sĩ cho đến trăm ngàn đời sau, vừa là để bồi đắp nền tảng ức muôn năm của nước nhà,


40) "Tô điểm nhân văn, hăng hái biểu dương nêu gương sáng, sai dựng bia đá cao ngất, từ xa trông vào họ tên sáng rệt để lại
cho đời sau chiêm ngưỡng" (Bia Tiến sĩ khoa Canh Thân - 1680).
41) "Quy chế khắc đá đề danh, tức là phát triển thêm điều trước chưa có, tỏ sự khen thưởng đến vô cùng" (Bia Tiến sĩ khoa ất
Sửu - 1685).
42) "Người đỗ đạt đã có sách ghi, đề danh có bia đá, chính là để mở rộng giáo hóa tựa diều bay... Cho nên bia đá này dựng
lên chính là trong sự biểu dương khen ngợi có ngụ ý khuyên răn, khích lệ lòng liêm sỉ đối với muôn ngàn đời, vì muốn bậc bề
tôi văn học lưu lại danh thơm tiếng tốt" (Bia Tiến sĩ khoa Mậu Thìn - 1688).
43) "Cho tạc đá khắc bia trước nhà Quốc học, cả nghi thức và lễ văn thật là đầy đủ. Rạng rỡ tinh hoa văn trị, chấn tác chí khí
học trò, bồi đắp phong hóa ức muôn năm,… Sai khắc bia những khoa còn thiếu để rạng tỏ sự tốt đẹp của đời, khuyến khích lớp
hậu học hăng hái vươn lên" (Bia Tiến sĩ khoa Tân Mùi - 1691).
44) "Chính những người ấy tô điểm cho nền trị bình, làm rạng rỡ cho chế độ của vương triều. Cũng chính họ đã giúp vua
giúp nước, cứu đời yên dân. Cho nên đề họ tên những vị ấy để tỏ rõ cho đời sau biết, trong sự đề cao biểu dương chẳng phải
không có ngụ ý khuyên răn… Việc khắc đá đề danh chính để biểu dương việc lớn của Nho khoa, làm vẻ vang đời trước, để lại
quy mô tốt cho đời sau… Bia đá này dựng lên, chẳng những chỉ làm rạng rỡ cho người đương thời được đề danh lên đá mà còn
để khuyến khích, khuyên răn người đời sau trông vào" (Bia Tiến sĩ khoa Giáp Tuất - 1694).
45) "Bia đá lại dựng, trường học sửa sang, trên để dõi lòng sùng thượng của tổ tông, dưới để dấy chí hăng say của sĩ tử" (Bia
Tiến sĩ khoa Đinh Sửu - 1697).
46) "Có sách Đăng khoa lục và quy chế khắc bia đề danh, lo cho đủ những việc đời xưa còn thiếu, làm cho hết những việc
đời trước chưa kịp làm, ý đẹp cầu hiền thực xưa nay mới thấy một lần. Cho nên hiền sĩ đua nhau giúp nước, bổ nhậm đầy triều,
điển chương hiệu lệnh nghiêm minh, nền thiện chính rạng rỡ vậy" (Bia Tiến sĩ khoa Quý Mùi - 1703).
47) "Sai Bộ Công tạc đá, từ thần soạn bài ký khắc bia để nêu ý trọng văn, tỏ rõ quy mô lớn lao đương thời" (Bia Tiến sĩ khoa
Bính Tuất - 1706).
48) "Bia cao dựng lên, họ tên ngời sáng, vừa là nêu việc lớn của Nho khoa, vừa là để cho sĩ tử vinh hạnh trông vào. Làm như
thế là để bồi bổ sĩ phong, phù trì thế giáo" (Bia Tiến sĩ khoa Canh Dần - 1710).
49) "Đăng khoa có sách, đề danh khắc đá có bia, là cốt để ngợi khen khích lệ, lễ nghi văn vật thật là đầy đủ" (Bia Tiến sĩ khoa
Nhâm Thìn - 1712).


50) "Còn việc khắc đá đề danh để truyền lâu dài thì từ xưa chưa có, nay định thành nếp cho đời sau. Làm như thế là để khích

tiếng thơm muôn thủa" (Bia Tiến sĩ khoa Đinh Sửu - 1757).
60) "Từ xưa những bề tôi có công lao to lớn thường được chạm tên lên chuông đồng, khắc vào bia đá để tỏ ý ca ngợi khuyến
khích. Nay các vị tân khoa vừa mới bước chân vào đường sĩ hoạn, chưa có gì đáng chép, cũng được ghi tên họ dựng trước nhà
Thái học, đó là để biểu dương khích lệ" (Bia Tiến sĩ khoa Quý Mùi - 1763).
Như vậy là đã rõ, suốt ba thế kỷ những tấm bia được dựng lên là nhằm biểu dương khoa cử, biểu dương các nho sĩ hiển đạt
và khích lệ việc học hành thi cử. Có thể nói những tấm bia Tiến sĩ ấy, đã có thời kỳ làm nức lòng phấn chí biết bao sĩ tử đang
miệt mài kinh sử, đua tranh trên đường bút nghiên và hiện nay còn lại như dấu vết của một quá khứ thịnh đạt của nền giáo dục,
thi cử phong kiến. Không chỉ vậy, ý nghĩa động viên, khuyến khích đó còn có tác dụng đến cả các thế hệ hôm nay và mai sau,
những người đã, đang và sẽ không ngừng tiếp thu tri thức, rèn mài trí tuệ để cống hiến, góp phần vào sự giàu mạnh của dân tộc,
sự hùng cường của Tổ quốc.
Câu hỏi 2: Vì sao Lê Thánh Tông lại chọn khoa thi năm Nhâm Tuất (1442) làm mốc khởi đầu việc dựng bia đề danh các
vị đỗ Tiến sĩ?
Trả lời:
Trải 10 năm nằm gai nếm mật, vượt qua bao hiểm nguy, gian khó, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo đã thành
công, đất nước thoát khỏi ách đô hộ tàn bạo của giặc Minh. Một triều đại mới được thành lập nhờ biết quy tụ sử dụng những
người tài đức trong chiến tranh giành độc lập dân tộc và trong xây dựng kiến thiết đất nước.
Lê Thái Tổ (Lê Lợi) chính là nhân vật kiệt xuất mở đầu triều đại này, một triều đại có những thành tựu lớn trên mọi mặt chính
trị, xã hội, giáo dục, quân sự, lập pháp… và là triều đại tồn tại lâu nhất trong lịch sử Việt Nam với hơn 300 năm nắm vương
quyền.


Để tuyển chọn nhân tài và củng cố bộ máy cai trị, ngoài việc lập lại trường Quốc Tử Giám tại Kinh đô Thăng Long, nhà Lê
còn quan tâm đến việc cầu hiền bằng cách tiến cử, bên cạnh đó đặt ra các khoa thi. Dưới thời Lê Thái Tổ, mặc dù còn bộn bề
công việc nhằm ổn định xã hội, khắc phục hậu quả nặng nề của 20 năm dưới ách đô hộ tàn bạo của giặc Minh xâm lược, nhưng
vua đã cho mở ngay các khoa thi để lựa chọn nhân tài như khoa Minh Kinh tổ chức năm Kỷ Dậu (1429), khoa Hoành Từ mở
năm Tân Hợi (1431)...
Tuy nhiên khi ban chiếu lệnh dựng bia đề tên những người thi đỗ Tiến sĩ, vua Lê Thánh Tông lại không lấy khoa thi đầu tiên
của triều Lê tổ chức dưới thời Lê Thái Tổ làm mốc mà lại chọn khoa thi năm Nhâm Tuất (1442) đời Lê Thái Tông. Đó là vì
những khoa thi đời Lê Thái Tổ tuy danh nghĩa là đại khoa nhưng do chưa khôi phục các khoa thi Hương nên việc tuyển lựa
không qua cấp trung khoa (tức thi Hương) mà thí sinh được chọn từ Hương cống, Hương tiến do các trường thi cấp khu vực trực

đời Lê Thánh Tông, làm quan trải các chức Thượng thư Bộ Lại, Thượng thư Bộ Hình, Thượng thư Bộ Lễ kiêm Đô Ngự sử.
Năm Giáp Thìn (1484) Quách Đình Bảo được vua Lê Thánh Tông giao chỉ huy trông nom toàn bộ công việc dựng bia Tiến sĩ
đầu tiên ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám, gồm 10 bia khắc tên các Tiến sĩ từ khoa Nhâm Tuất (1442) đến khoa Giáp Thìn (1484).
Sách sử không ghi cụ thể việc vua xuống chiếu lệnh nói về việc dựng bia từ ngày tháng nào nhưng cho biết là đến ngày 15
tháng 8 năm Giáp Thìn (tức 4-9-1484) loạt bia Tiến sĩ đầu tiên đã được dựng trong khu vườn trước cửa Đại Thành.
Để phục vụ cho việc thực hiện nội dung các bia Tiến sĩ, quan Thượng thư Bộ Lễ Quách Đình Bảo còn phải phụ trách thống
kê, sưu tầm tiểu sử cùng các thông tin liên quan đến các vị thi đỗ Tiến sĩ được khắc tên trên bia đá; ngoài ra ông còn đề xuất đổi
tên các học vị thuộc bảng Tam khôi. Sự kiện này được Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại như sau:
"Ngày 15, dựng bia đề tên các tiến sĩ với bài ký từ khoa Nhâm Tuất năm Đại Bảo thứ 3 triều Thái Tông trở đi. Vua cho là từ
năm Đại Bảo thứ 3 triều Thái Tông đến giờ, việc dựng bia, đề tên tiến sĩ các khoa vẫn chưa làm được, sai Lễ bộ Thượng thư
Quách Đình Bảo biên rõ họ tên, thứ bậc các tiến sĩ từ khoa Nhâm Tuất năm Đại Bảo thứ 3 triều Thái Tông, khoa Mậu Thìn năm
Thái Hòa thứ 6 triều Nhân Tông, khoa Quý Mùi năm Quang Thuận thứ 4, khoa Bính Tuất năm thứ 7, khoa Kỷ Sửu năm thứ 10,
khoa Nhâm Thìn năm Hồng Đức thứ 3, khoa ất Mùi năm thứ 6, khoa Mậu Tuất năm thứ 9, khoa Tân Sửu năm
thứ 12 đến khoa Giáp Thìn năm nay, khắc vào bia đá. Quách Đình Bảo nhân xin đổi Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa thành
Tiến sĩ cập đệ, Chánh bảng thành Tiến sĩ xuất thân, Phụ bảng thành đồng Tiến sĩ xuất thân để hợp với quy chế ngày nay. Vua y
tờ tâu, sai Công bộ khởi công dựng tạc bia".
Ngay trên bài ký của tấm bia đề danh Tiến sĩ đầu tiên được dựng, ghi tên họ những người đỗ khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại
Bảo năm thứ 3 (1442) cũng có đoạn cho biết:
"Xét
các
khoa
thi
Tiến

từ
năm
Đại
Bảo
thứ
3

Thăng Long, chủ trương khuyến khích sản xuất buôn bán để kinh đô phồn thịnh. Theo ông, kinh đô là gốc của bốn phương, tiền
của trao đổi buôn bán tất phải cho lưu thông đủ dùng, không nên để thiếu thốn và những người nguyên có hàng chợ, cửa hiệu đã
biên chế vào thuế ngạch thì cho được cư trú. Ông chủ trương sách học phải đến với học quan, sách thuốc phải đến với y quan…
ai chiếm đoạt làm của riêng thì phải trị tội.
Ông còn nhiều lần được tín nhiệm giao trọng trách giám thí, đốc quyền các khoa thi Hội, lựa chọn cho triều đình nhiều hiền
tài. Khi ông về hưu lại mở trường dạy học, đào tạo những nhân tài cho đất nước.
Có thể nói, là người được triều đình tín nhiệm, trọng dụng, Quách Đình Bảo đã đem hết tài năng và sức lực ra cống hiến cho
vương triều nhà Lê; đời sau đánh giá ông là một trong 18 vị đại thần nổi danh thời cực thịnh dưới triều Lê Thánh Tông.
Câu hỏi 4: Các bia Tiến sĩ ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám được dựng vào những khoảng thời gian nào?
Trả lời:
Hiện nay tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám chỉ còn 82 bia Tiến sĩ, ít hơn nhiều so với con số thực tế từng tồn tại, lý do là trải qua
nhiều biến động xã hội có những tấm bia bị hư hỏng, thất lạc hoặc bị tàn phá mất. Số còn lại may mắn được các thế hệ người
dân đất Thăng Long trân trọng gìn giữ từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII (1484-1779) và cho đến ngày nay. Chính văn bia đã mách
bảo để chúng ta tự hào về nền văn hiến lâu đời, giàu bản sắc của mình.
Dựa trên số bia hiện còn và những ghi chép của sách sử, chúng ta biết những tấm bia Tiến sĩ được dựng lên, vào thời gian
nào. Về cơ bản có thể thấy, không phải cứ sau khi kết thúc một khoa thi, triều đình cho dựng ngay bia đề danh những người đỗ
Tiến sĩ khoa thi đó mà có những khoa không dựng bia, có khoa dựng bia sau đó một thời gian ngắn hoặc cũng có bia phải mấy
chục năm sau mới được truy dựng.
1) Bia được dựng theo đợt với số lượng lớn, gồm có:
- Đợt đầu tiên: Không thấy sử sách ghi chép vua Lê Thánh Tông xuống chiếu ra lệnh dựng bia Tiến sĩ từ ngày tháng năm nào,
chỉ biết rằng công việc đó được hoàn thành vào giữa tháng 8 năm Giáp Thìn (1484) niên hiệu Hồng Đức thứ 15 với loạt bia Tiến


sĩ đầu tiên gồm 10 tấm bia đề tên những người thi đỗ Tiến sĩ các khoa: Nhâm Tuất (1442), Mậu Thìn (1448), Quý Mùi (1463),
Bính Tuất (1466), Kỷ Sửu (1469), Nhâm Thìn (1472), ất Mùi (1475), Mậu Tuất (1478), Tân Sửu (1481) và Giáp Thìn (1484).
Trong số 10 tấm bia đó, có 3 tấm đã bị mất là bia Tiến sĩ các khoa Kỷ Sửu (1469), Nhâm Thìn (1472) và Giáp Thìn (1484).
- Đợt thứ 2: Sau khi bị họ Mạc cướp ngôi vào năm Đinh Hợi (1527), được sự ủng hộ của nhiều đại thần cũ, con cháu họ Lê
đã tập hợp lực lượng lập lên nhà Lê Trung Hưng. Thời gian đầu mặc dù có tổ chức một số khoa thi nhưng chưa khôi phục được
Thăng Long nên việc dựng bia ghi danh những người đỗ đạt không được tiến hành theo lệ, sau đó vì tập trung xây dựng và củng
cố chính quyền cũng như đánh dẹp tàn dư họ Mạc nên nhà Lê Trung Hưng cũng chưa lập lại lệ dựng bia.

- Đợt thứ 3: Sau đợt dựng bia năm Quý Tỵ (1653), bẵng đi một thời gian dài việc dựng bia Tiến sĩ lại bị gián đoạn, không rõ
nguyên nhân vì đâu, tuy nhiên trong một số bài ký trên các tấm bia dựng sau này có cho biết dường như triều đình muốn để đến
một lúc nào đó sẽ dựng luôn cả thể. Trên tấm bia khoa Bính Thân (1656) viết: "Duy việc dựng đá đề danh còn thiếu, việc khuếch
trương tạo dựng tất có ý đợi đến ngày nay vậy. Kính nghĩ: Hoàng thượng bệ hạ kế thừa nghiệp lớn, tôn trọng đạo Nho. Thực nhờ
[Đại nguyên súy Tổng quốc chính Thượng sư An vương] một lòng phò vua, công lớn kính giúp, tôn sùng đạo thánh, đích thân
tới cửa hiền, xem xét những tấm bia Tiến sĩ cũ, chạnh lòng muốn khôi phục lệ xưa. Bèn sai thợ khởi dựng hết những tấm bia còn
thiếu, cả thảy 21 bia, khoa Bính Thân là khoa thứ nhất truy dựng".
Trên một số tấm bia cho biết rõ hơn: "Nhưng việc khắc đá đề danh chưa tiến hành ngay là có ý đợi để sau này khuếch trương
sự tốt đẹp ấy" (bia khoa Tân Sửu - 1661); "Các khoa trước từ năm Bính Thân đến nay chưa cho dựng bia, có lẽ là muốn chờ thời
làm luôn một thể vậy" (bia khoa Đinh Mùi - 1667); "Việc khắc đá đề danh chưa kịp cử hành, đó là vì các khoa từ năm Bính
Thân tới nay vẫn chưa dựng bia là muốn đợi thời làm luôn một thể" (bia khoa Quý Hợi - 1683)…
Đợt dựng bia lần này tất cả có 21 tấm được tiến hành và hoàn thiện trong năm Đinh Dậu (1717) gồm những bia đề tên người
thi đỗ Tiến sĩ các khoa: Bính Thân (1656), Kỷ Hợi (1659), Tân Sửu (1661), Giáp Thìn (1664), Đinh Mùi (1667), Canh Tuất
(1670), Quý Sửu (1673), Bính Thìn (1676), Canh Thân (1680), Quý Hợi (1683), ất Sửu (1685), Mậu Thìn (1688), Tân Mùi
(1691), Giáp Tuất (1694), Đinh Sửu (1697), Canh Thìn (1700), Quý Mùi (1703), Bính Tuất (1706), Canh Dần (1710), Nhâm Thìn
(1712), ất Mùi (1715).
Các bia dựng đợt này, đến nay vẫn còn đầy đủ, không bị mất mát hay thất lạc tấm nào.
2)
Các
bia
được
dựng
ngay
trong
năm
khoa
thi
được
tổ chức:
- Khoa Đinh Mùi (1487): Ngày mồng 7 tháng 4 thi Đình; ngày 4 tháng 5 công bố tên người thi đỗ thì đến ngày 15 tháng 8 bia đã

- Khoa Mậu Dần (1518): Bia dựng ngày 5 tháng Giêng năm Bính Thân (1536).
- Khoa Mậu Tuất (1718): Bia dựng ngày 17 tháng 11 năm Tân Sửu (1721).


- Khoa Tân Sửu (1721): Bia dựng ngày 22 tháng 10 năm Giáp Thìn (1724).
- Khoa Giáp Thìn (1724): Bia dựng ngày 13 tháng 8 năm Bính Ngọ (1726).
- Khoa Đinh Mùi (1727): Bia dựng ngày 26 tháng 8 năm Quý Sửu (1733).
- Khoa Tân Hợi (1731): Bia dựng tiết Gia Bình (tức tháng Chạp) năm Nhâm Tý (1732).
- Khoa Quý Sửu (1733): Bia dựng ngày 19 tháng 12 năm Giáp Dần (1734).
- Khoa Bính Thìn (1736): Bia dựng tháng 3 năm Mậu Ngọ (1738).
- Khoa Kỷ Mùi (1739): Bia dựng ngày 4 tháng 10 năm Giáp Tý (1744).
- Khoa Quý Hợi (1743): Bia dựng ngày 12 tháng 10 năm Giáp Tý (1744).
- Khoa Bính Dần (1746): Bia dựng ngày 16 tháng 9 năm Đinh Mão (1747).
- Khoa Nhâm Thân (1752): Bia dựng tháng 2 năm Quý Dậu (1753).
- Khoa Giáp Tuất (1754): Bia dựng tháng trọng hạ (tháng 6) năm Bính Tý (1756).
- Khoa ất Mùi (1775): Bia dựng ngày đầu tháng tiết trọng đông (tháng 11) năm Bính Thân (1776).
- Khoa Mậu Tuất (1778): Bia dựng ngày đầu tháng mùa xuân năm Canh Tý (1780).
- Khoa Kỷ Hợi (1779): Bia dựng ngày tốt, tháng giữa đông, năm Canh Tý (1780).
Câu hỏi 5: Trong lịch sử, có tất cả bao nhiêu bia Tiến sĩ được dựng ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám?
Trả lời:
Thật khó có câu trả lời chính xác vì nếu theo đúng lệ dựng bia, lấy khoa thi năm Nhâm Tuất (1442) đời Lê Thái Tông là khoa
đầu tiên được chọn dựng bia cho đến khoa thi cuối cùng được tổ chức ở Thăng Long diễn ra năm Đinh Mùi (1787) đời Lê Chiêu
Thống, nếu tính ra có tới 121 khoa thi Đình, còn nếu chỉ tính các khoa thi Tiến sĩ thì có 117 khoa. Trong đó nhà Lê tổ chức 99
khoa, nhà Mạc tổ chức 22 khoa, số người đỗ Tiến sĩ là 2.260 người (tính cả 121 khoa). Như vậy phải có đủ 117 tấm bia Tiến sĩ
nếu tính theo khoa thi Tiến sĩ hoặc 121 bia nếu tính theo các khoa thi Đình.
Số lượng bia hiện thiếu là điều chắc chắn nhưng số lượng thực là bao nhiêu thì vẫn là một ẩn số, những tấm bia thiếu là do bị
mất, thất lạc, bị phá hủy… vì lý do gì, nguyên nhân vì sao thì không ai giải thích được. Thực tế rất khó xác định có bao nhiêu bia
Tiến sĩ được dựng vì ghi chép của sách sử không đầy đủ, chỉ biết rằng có những khoa thi vì lý do chính trị, biến động xã hội,



dựng thời Lê Trung Hưng.
Số lượng bia bị mất mát, thất lạc là 9 tấm, gồm 8 tấm thời Lê Sơ và 1 tấm thời Lê Trung Hưng.
Xét theo các thông tin nói trên, có thể tạm đoán định rằng trong lịch sử đã có 91 tấm bia Tiến sĩ được dựng ở Văn Miếu Quốc Tử Giám, hiện còn giữ được 82 tấm.
Câu hỏi 6: Bia Tiến sĩ ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám có những bố cục như thế nào?
Trả lời:
82 tấm bia tiến sĩ tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám không chỉ là nơi mà người đời thấy được những giá trị tinh thần, giá trị lịch
sử, đạo đức, giáo dục… mà mỗi tấm bia còn là một công trình nghệ thuật điêu khắc tuyệt tác. Qua bố cục, hình dáng, kiểu cách
chúng ta có thể đi sâu vào tìm hiểu nghệ thuật điêu khắc đá của người xưa từ đó rút ra những tinh hoa của nghệ thuật dân tộc để
có thể áp dụng sáng tạo vào các công trình hiện đại.
Trên mỗi tấm bia đều ghi rõ niên đại, thời gian bia được dựng, nhờ đó mà các nhà nghiên cứu biết được đặc điểm, phong
cách nghệ thuật của từng thời kỳ và có thể dựa vào đó, lấy bia Tiến sĩ làm bản mẫu để phục dựng, xác định niên đại cho nhiều di
tích bị tàn phá hoặc không ghi rõ ngày tháng.
Xét theo bố cục, bia Tiến sĩ ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám bao gồm hai phần là thân bia và bệ bia:
1) Thân bia là một phiến đá lớn, phần giữa mặt bia là nội dung bài văn ký cho biết thời gian tổ chức khoa thi, ca ngợi công
đức các đời vua chúa đối với sự nghiệp giáo dục, tuyển chọn và sử dụng nhân tài; tên họ, quê quán những người đỗ Tiến sĩ và
các thông tin khác có liên quan đến kỳ thi đó…
Trang trí bổ trợ cho nội dung chính của tấm bia là trán bia và diềm bia với những nét chạm khắc theo đề tài cơ bản là giống
nhau suốt chiều dài lịch sử, chỉ khác về chi tiết.


- Trán bia là hình cong hai mặt chạm khắc lưỡng long (rồng) chầu nhật nguyệt hoặc lưỡng phượng chầu "mặt nguyệt". Thời
Lê là hình mặt trời có tia, thời Mạc là một vòng tròn ngoài có thêm 1, 2, 3 vòng đồng tâm biểu thị cho hình tượng mặt trăng (mặt
nguyệt), trên các bia thời Lê Trung Hưng về sau là hình mặt trời có nhiều tia sắc nhọn trông như ngọn lửa thiêng thiêu cháy mọi
tà ma bảo vệ trong sạch, yên lành nơi đền miếu và làm sáng tỏ văn phong, đạo đức tốt đẹp.
- Diềm bia tùy theo từng thời mà đề tài điêu khắc có thể là hoa lá, dây uốn, chim thú, có khi cả hình người, cảnh sinh hoạt
hoặc đánh trống…
2) Bệ bia cũng được điêu khắc chu đáo, tỉ mỉ với nét chủ đạo là một khối đá lớn dày mang hình dáng con rùa, một trong "Tứ
linh" (Long, Ly, Quy, Phượng) thể hiện sự thiêng liêng cao quý với ý tưởng một xã hội ổn định phát triển trường tồn. Ngoài ra,
bia với bệ là khối đá hình rùa không chỉ tạo cảm giác cân đối, vững chắc, uy nghi mà còn biểu thị cho sự tôn trọng hiền tài mãi
mãi, vai trò quan trọng của hiền tài trong việc xây dựng một xã hội kỷ cương, một đất nước vững mạnh.

Câu hỏi 8: Cho biết những đặc điểm tiêu biểu của nghệ thuật chạm khắc thể hiện trên các bia Tiến sĩ?
Trả lời:
Bia Tiến sĩ được khắc, dựng trong các thời điểm khác nhau, do đó ở mỗi giai đoạn nhất định nó lại mang phong cách nghệ
thuật của giai đoạn đó với đường nét, quan niệm thẩm mỹ cũng như chịu ảnh hưởng của quan điểm chính trị, lý luận triết học và
tôn giáo.
Dựa trên những đặc điểm nổi bật thể hiện trên mặt 82 bia còn tồn tại đến ngày nay, chúng ta phân biệt được các loại bia so
với những bia còn lại và về cơ bản có thể chia làm 3 loại bia theo thứ tự thời gian.
1) Bia loại 1: Bao gồm 14 tấm được dựng trong vòng 52 năm (cuối thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XVI) tính từ năm Giáp Thìn
(1484) niên hiệu Hồng Đức thứ 15 đời Lê Thánh Tông tới năm Bính Thân (1536) niên hiệu Đại Chính thứ 7 đời Mạc Thái Tông
(Mạc Đăng Doanh).


Đây là những bia Tiến sĩ được dựng trong thời kỳ đầu nên vẫn có những nét mang phong cách nghệ thuật truyền thống thời
Lý - Trần, mặt khác bấy giờ là thời kỳ chế độ phong kiến tập quyền đang trên đà phát triển, nền giáo dục, khoa cử được các triều
đại rất quan tâm, chú trọng và đã dần đi vào nề nếp, quy củ. Tuy nhiên việc dựng bia (nhất là những tấm bia đầu tiên) là việc
chưa có tiền lệ trước đó, nên về mặt nghệ thuật điêu khắc mặc dù có những nét mới nhưng các bia này vẫn mang đặc điểm giống
với các bia thời Lý - Trần. Cụ thể:
- Về kích thước: Bia loại 1 có kích thước nhỏ hơn hai loại bia dựng sau này, chiều cao trung bình của các bia loại này khoảng
từ 1,50m đến 1,55m; rộng từ 1m đến 1,1m; dày từ 0,15m đến 0,18m. Trán bia hẹp và dẹt.
- Về hoa văn, đường nét chạm khắc trên bia: Đơn giản, không cầu kỳ, trán bia không chạm hình rồng, phượng mà chỉ có hoa
lá, mây lửa và mặt nguyệt. Phần diềm bia là các họa tiết trang trí bằng những hình dây hoa lá quanh diềm bia theo đường ngoằn
ngoèo liên tục không đứt quãng, chen hình hoa cúc, hoa sen, hình bánh xe, đồng tiền… Đó là những đề tài thường thấy trong
nghệ thuật trang trí thời Lý - Trần.
- Về đế bia hình rùa: Rùa làm đế bia thể hiện nghệ thuật khắc đá tinh xảo, công phu trong đường nét, trong ý tưởng vươn lên
trông rất sinh động. Đầu rùa vươn cao, mũi dài có dáng như mỏ chim, miệng rộng có 2 răng nanh, mắt to và lồi; một số rùa còn
được khắc lông mày, mép có nhiều tua. Mai rùa nhẵn trơn, sống lưng có gờ nhỏ; đuôi cũng nhỏ được vắt ngược lên. Chân rùa có
5 ngón bám vào thân nhưng được khắc đơn giản, mang tính tượng trưng. Hình dáng đế bia hình rùa nhìn chung giống đế bia thời
Trần.
2)
Bia

bia
Tiến

dựng
trong
giai
đoạn
này có hình dáng cao to hơn, nghệ thuật trang trí trên trán và diềm bia phong phú, tinh tế hơn trong đường khắc và bố cục.
- Về kích thước: Bia loại 2 có kích thước lớn, trung bình cao từ 1,55m đến 1,70m; rộng từ 1m đến 1,25m và dày từ 0,20m tới
0,30m. Trán bia cong vòng gần giống hình bán nguyệt.


- Về hoa văn, đường nét chạm khắc trên bia: Nghệ thuật trang trí trên trán bia và diềm bia phong phú, đa dạng trong đường
nét và bố cục. Trán bia thường chạm hai hình rồng chầu mặt nguyệt thuộc nhiều loại khác nhau, có loại hình rồng đầy đủ được
chạm tỉ mỉ từ phần đầu, thân, đuôi, vẩy, mắt mũi, râu bờm, móng vuốt theo phong cách tả thực; nhưng cũng có khi là hình rồng
chỉ mang tính tượng trưng. Bên cạnh đó, ngoài hình rồng, có bia được thay bằng đôi chim phượng hoặc đôi long mã đã cho thấy
sự phong phú về nội dung cũng như hình thức thể hiện. Đặc điểm chung cho các loại bia này đều chạm mây lửa vút nhọn như
ngọn lửa.
Đề tài hoa lá vẫn chiếm nhiều trên mặt bia nhưng không đơn giản như bia loại 1 mà bia loại 2 có nhiều hình, nhiều loại, theo
phong cách tả thực nên đường nét lá, cành, nụ, bông hoa được bố cục khá chặt, trên bia còn xuất hiện các loài chim thú và cả
hình người.
- Về đế bia hình rùa: Rùa đế bia của loại 2 được tạc đơn giản nhưng khoẻ mạnh, đầu rùa bẹp, sống mũi cao, mắt trơn, chân
rùa không ngón, không móng, chỉ mang ý nghĩa tượng trưng.
3) Bia loại 3: Bao gồm 43 tấm được dựng chủ yếu vào năm Đinh Dậu (1717) niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 13 đời Lê Dụ Tông và
rải rác sau các khoa thi cho tới năm Canh Tý (1780).
Bia loại 3 được dựng trong điều kiện chế độ phong kiến triều Lê bước vào giai đoạn khủng hoảng, dần dần đi tới con đường
suy tàn, nền kinh tế sa sút, lòng người ly tán nên mặc dù được dựng với số lượng lớn nhưng về mặt trang trí không mấy sáng
tạo, đa phần rập khuôn theo mẫu cung đình.
- Về kích thước: Bia loại 3 có kích thước lớn hơn bia của thời kỳ trước đó, trung bình cao từ 1,70m đến 1,90m; rộng từ 1,20m
đến 1,30m; dày từ 0,20m đến 0,25m. Đặc biệt là những bia được dựng vào giai đoạn cuối của triều Lê, thời vua Lê Hiển Tông,

vững yên như đặt trên bàn thạch.
Kính Tông Huệ hoàng đế nối truyền, tư chất hòa hợp trời đất, nắm vận thái bình hưng thịnh. Lại nhờ có Thành Tổ Triết
vương uyên thâm thánh học, kính giúp hoàng gia, chiếu lệ 3 năm một lần, mở 7 khoa thi cho hiền sĩ thăng tiến. Nhân tài nối
nhau xuất hiện, đều trở thành bậc danh thần của bản triều, không chỉ để dùng cho một thời, mà còn hữu dụng cho cả ngày nay
nữa.


Đến nay Hoàng thượng bệ hạ đảm đương mệnh lớn, vỗ về muôn dân, đức sáng như đế Thuấn, cửa lớn rộng mở như thành nhà
Chu. Chính nhờ [Đại nguyên súy Thống quốc chính Sư phụ Thanh vương] định yên xã tắc, trọng triều đình, lập kỷ cương, sửa
pháp độ, là muốn cho cơ nghiệp được lâu dài, lưu lại mưu lành cho con cháu. Vương thượng giao trọn quyền cho [Nguyên súy
Chưởng quốc chính Tây Định vương] thống suất trăm quan, sắp đặt mọi việc, định đặt chế độ, thu góp anh hiền. Khoa cử ngày
một khuếch trương, nhân tài nối nhau xuất hiện; bậc đức vọng làm trụ đá miếu đường, người tài danh làm cột rường điện các,
đưa sinh dân lên chỗ tươi sáng thịnh giàu, thu vũ trụ vào chốn thái bình an lạc. Mênh mông thay văn giáo chấn hưng, rực rỡ thay
Nho phong mở rộng. Đó là thời nhân văn sáng rệt, giáo hóa tốt lành. Cảm nghĩ quốc triều từ khi khôi phục tới nay, các khoa thi
Chế khoa, Tiến sĩ trước đây cùng là khoa này, là sự kiện lớn đã rầm rộ lúc đương thời, mà danh thơm mãi mãi còn lưu truyền
đến đời sau nữa. Bèn sai quan Bộ Công khắc đá đề danh dựng ở cửa trường Thái học, xuống sắc chỉ sai bọn thần soạn bài ký để
truyền lại lâu dài.
Bọn thần kính vâng lời ngọc, mừng cho hàng Tư văn Nho sĩ nước nhà, chúc mừng cho thiên hạ nước nhà, không dám viện cớ
quê mùa thô vụng mà chối từ, bèn kính cẩn cúi đầu rập đầu mà dâng lời rằng:
Trời đất gặp vận thái hòa, thì bậc chân nho xuất hiện. Chân nho xuất hiện thì thế đạo hanh thông. Thiên hạ không thể một
ngày không có công lao cống hiến của các Nho sĩ. Bậc minh chúa cũng không thể một ngày không trọng học vấn của Nho gia.
Nghĩ thánh triều trong buổi trời đất thái hòa hanh thuận, chính là lúc nho học gặp thời. Tổ tông sùng Nho thì được thánh hiền
phù trợ, thế là mưu tính sâu xa cho đạo Nho. Liệt thánh sùng Nho, thì Tiến sĩ được biểu dương, đó lại là từ đạo Nho mà phát huy
lên nữa. Từ thời Trung Hưng về sau, đạo Nho vẫn được sùng thượng hơn trước, nhưng việc khắc đá dựng bia ở Quốc Tử Giám
thì chưa kịp cử hành.
Nay Thánh thượng để lòng mưu trị, hiếu học sùng Nho, vun trồng gốc đạo, trên nối chí tổ tông, dưới mở mang tinh hoa đạo
học. Nhận thấy rằng những Tiến sĩ đỗ đạt các thứ bậc trong khoa này, đức hạnh ngôn ngữ đều ưu, chính sự văn chương đều tốt,
cần phải biểu dương, khắc họ tên lên đá cứng để khích lệ các nho thần. Quan tâm đến Nho thuật như thế thật là hết lòng vậy. Thế
thì sinh vào đời thánh minh, làm kẻ sĩ ở đời thánh minh, phải nên ghi lòng báo đáp thế nào?
Hãy nhìn vào khoa này xem: Có người nghĩa cha con đồng lòng, đạo vua tôi đồng đức, nguyện giúp vua cho được như


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status