Đề tài nghiên cứu: Văn miếu quốc tử giám - Pdf 21

Văn miếu Quốc Tử Giám Huế- lịch sử và hiện trạng
Đề tài nghiên cứu: Văn miếu
Đề tài nghiên cứu: Văn miếu
quốc tử giám
quốc tử giám
SVTH: Phạm Bá Tuân
1
1
Văn miếu Quốc Tử Giám Huế- lịch sử và hiện trạng
MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài :
Quốc Tử Giám của thời phong kiến, chúng ta luôn xem là sản phẩm sáng
tạo của nền nho học Trung Hoa. Ở Việt Nam, cách đây gần 10 thế kỷ Quốc Tử
Giám đã được thành lập vào đầu triều Lý. Các triều đại về sau vẫn kế tục và
quan tâm nhiều hơn về ngôi trường này. Tuy nhiên, cho tới nay diện mạo một
Quốc Tử Giám như thế nào thì chỉ đến cố đô Huế người ta mới có thể “tận mục
sở thị”. Đó chính là lý do để Quốc Tử Giám Huế trở thành một công trình kiến
trúc lịch sử độc hiếm ở nước ta.
Trải qua bao thời kỳ lịch sử, chế độ phong kiến sụp đổ, sự xâm lược của
thực dân phương Tây,… Quốc Tử Giám vẫn giữ được nét đặc trưng rất riêng
của một “trường Đại học”, một trung tâm giáo dục phong kiến triều Nguyễn.
Nếu ai đã từng đến Huế, đến với sông Hương, núi Ngự Bình thơ mộng mà chưa
bước chân vào Quốc Tử Giám Huế, người ấy đã quên đi một chân chứng lịch
sử về một nền giáo dục trung – cận đại của nước nhà. Còn những ai chưa một
lần đến với Huế mộng, Huế mơ và có ý nghĩ sẽ một lần ghé Huế thì hãy vào
Quốc Tử Giám Huế, nơi gợi lại cảnh đèn sách, học hành truyền thống của tổ
tiên. Quốc Tử Giám Huế với bao điều bí ẩn của lịch sử. Các sử gia tại Huế đã
SVTH: Phạm Bá Tuân
2
2

B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 : CHÍNH SÁCH VĂN HÓA GIÁO DỤC
DƯỚI TRIỀU NGUYỄN
1.1 Không gian văn hóa Huế
Xứ Thuận Hóa được diễn rộng ra từ nam đèo Ngang đến bắc sông Thu
Bồn, một dải đất mênh mông quá ư là rộng – Nay hẹp lại, nói gọn hơn về một
xứ Huế sâu lắng, đẹp và thơ. Theo một số nhà nghiên cứu văn hóa lịch sử, chữ
Huế âm Huế trong ngôn ngữ Chàm có nghĩa là thơm, hương thơm, được gắn
với con sông thơm chảy qua giữa lòng thành phố. Cuộc địa Huế xa xưa vốn chỉ
là mảnh đất biên viễn, từng là tiền phương của Đàng Ngoài khi chúa Trịnh vượt
sông Gianh, rồi lại là hậu phương của Đàng Trong khi chúa Nguyễn tiến xuống
sông Tiền, sông Hậu. Dưới thời Pháp thuộc, theo thiết chế đô thị Tây phương
Huế trở thành thị xã; rồi lên thành phố đô thị loại 3, sau là đô thị loại 2; mới
đây vào ngày 03 tháng 08 năm 2004, tỉnh ủy Thừa Thiên Huế ra nghị quyết
nâng cấp đô thị, giao cho ủy ban nhân dân tỉnh hoàn chỉnh hồ sơ trình chính
phủ, đưa Huế vượt lên tầm vóc của thành phố loại 01 trực thuộc tỉnh và trở
thành hiện thực vào ngày 24 tháng 8 năm 2005 bằng quyết định số 209 của Thủ
tướng Chính phủ. Điều này hoàn toàn hợp lý khi Huế đã ở vào vị trí tương
đồng, bởi có những mặt vượt xa qua các thành phố loại 01 khác. Vị thế ấy, mà
từ lâu đã khiến cho nhiều người Việt Nam vẫn xem Huế là một trong sáu thành
phố lớn của đất nước.
Huế là thành phố có nhiều sông ngòi, chùa chiền, am điện với nhiều loại
hình lễ hội dân gian. Huế có cảng cổ Thanh Hà, phố cổ Bao Vinh thời các chúa;
lại có khu phố cổ Gia Hội, Chi Lăng thời các vua. Phố xưa ấy là phố buôn với
những dãy phố chạy dài theo sông Hương thường gọi là các hàng. Là thành phố
nhưng bản chất Huế gần thôn quê, có nhiều phủ đệ, nhà thờ xen giữa những
SVTH: Phạm Bá Tuân
4
4
Văn miếu Quốc Tử Giám Huế- lịch sử và hiện trạng

Các vua nhà Nguyễn
Các vua nhà Nguyễn:
:
Miếu hiệu
Miếu hiệu
Thụy hiệu
Thụy hiệu Tên Năm
Niên hiệu
Niên hiệu Lăng
Thế Tổ Cao Hoàng Đế Nguyễn Phúc Ánh
1802
1802-
1820
1820
嘉隆
Gia Long
Gia Long
Thiên Thọ
Lăng
Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế Nguyễn Phúc Đảm
1820
1820-
1841
1841
明命
Minh
Minh

育德
Dục Đức
Dục Đức
An Lăng
An Lăng
Nguyễn Phúc Hồng Dật
1883
1883
協和
Hiệp Hòa
Hiệp Hòa
Giản Tông Nghị Hoàng Đế Nguyễn Phúc Ưng Đăng
1883
1883-
1884
1884
建福
Kiến Phúc
Kiến Phúc
Nguyễn Phúc Ưng Lịch
1884
1884-
1885
1885
咸宜
Hàm Nghi
Hàm Nghi
Cảnh
Tông
Thuần Hoàng Đế Nguyễn Phúc Ưng Kỷ

Hoằng
Tông
Tuyên Hoàng Đế Nguyễn Phúc Bửu Đảo
1916
1916-
1925
1925
啟定
Khải Định
Khải Định
Ứng Lăng
Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy
1926
1926-
1945
1945
保大
Bảo Đại
Bảo Đại
SVTH: Phạm Bá Tuân
6
6
Văn miếu Quốc Tử Giám Huế- lịch sử và hiện trạng
Vua Gia Long (
1762
1762-
1820
1820) là con trai thứ ba của
Nguyễn Phúc Luân
Nguyễn Phúc Luân, lên

năm
1847
1847, vì không có con nên nuôi 3 người cháu. Cả ba sau đều lên làm vua:
Dục Đức, Đồng Khánh và Kiến Phúc.
Vua Dục Đức (
1852
1852-
1883
1883) là con trai trưởng (con nuôi) của vua Tự Đức,
lên ngôi ngày 20 tháng 7 năm
1883
1883 nhưng 3 ngày sau bị
Nguyễn Văn Tường
Nguyễn Văn Tường và
Tôn Thất Thuyết
Tôn Thất Thuyết truất phế rồi giết chết, có 11 con trai và 8 con gái. Dục Đức,
vì ở trên ngôi có 3 ngày, không có thời giờ chọn niên hiệu; Dục Đức là tên của
dinh thự của vị vua này. Miếu hiệu và thụy hiệu về sau mới được tôn xưng.
Vua Hiệp Hòa (
1847
1847-
1883
1883) là con trai thứ 29 của vua Thiệu Trị (tức là em
của vua Tự Đức), lên ngôi ngày 30 tháng 7 năm
1883
1883 nhưng 4 tháng sau bị
Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết giết chết, không có con.
Vua Kiến Phúc (
1869
1869-

Đức, lên ngôi năm
1885
1885 nhưng sau 3 năm thì bị bệnh rồi chết, có 6 con trai và
3 con gái.
Vua Thành Thái (
1879
1879-
1955
1955) là con trai thứ bảy của vua Dục Đức (người
làm vua chỉ trong 3 ngày), lên ngôi năm
1889
1889 nhưng bị Pháp truất phế vào năm
1907
1907 vì chống lại họ, có 16 con trai và nhiều con gái. Vào năm 1916 vua Thành
Thái (cùng con là vua Duy Tân) bị Pháp đày sang đảo Réunion, nhưng được
đón trở lại Việt Nam vào năm
1947
1947.
Vua Duy Tân (
1899
1899-
1945
1945) là con trai thứ năm của vua Thành Thái, lên
ngôi năm 1907 nhưng chỉ lo việc chống Pháp nên bị họ truất phế và đày sang
đảo
Réunion
Réunion (cùng với cha là vua Thành Thái) vào năm
1916
1916, có 3 con trai và
1 con gái.

trưởng, giao nhiệm vụ thành lập
nội các
nội các vào ngày 17 tháng 4 và đặt quốc hiệu

Đế quốc Việt Nam
Đế quốc Việt Nam. Vua Bảo Đại thoái vị ngày 30 tháng 8 năm
1945
1945 và giữ
chức "Cố vấn tối cao" cho chính phủ
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới thành
lập, nhưng chẳng bao lâu lại từ chức đi sống tại các nước ngoài. Bảo Đại trở lại
Việt Nam
Việt Nam với chức vụ Quốc trưởng
Quốc gia Việt Nam
Quốc gia Việt Nam vào năm
1948
1948 nhưng
lại bị mất quyền sau một cuộc trưng cầu dân ý trong năm
1956
1956.
SVTH: Phạm Bá Tuân
8
8
Văn miếu Quốc Tử Giám Huế- lịch sử và hiện trạng
1.3 Những tư tưởng văn hóa, chính sách giáo dục của triều Nguyễn
* Tư tưởng văn hóa:
* Tư tưởng văn hóa:
Giáo dục là bộ phận quan trọng nhất làm nên cái gọi là sự di truyền xã hội.
Trong đời sống sinh học ngoài sự di truyền qua cơ chế mã hóa vào bên trong cơ

kỷ liên tục biến động về tổ chức và cơ cấu quyền lực chính trị, kể từ sau thời
điểm giành lại được độc lập (938), nhu cầu xây dựng một xã hội có bản sắc
riêng về mọi phương diện và khẳng định cho được sự độc lập, ổn định lâu dài
cả về lãnh thổ lẫn ý thức quốc gia đã tất yếu làm nảy sinh một loại hoạt động ở
quy mô nhà nước về giáo dục và đào tạo.
Văn Miếu và Quốc tử giám là hai “cơ quan” khác nhau tuy có quan hệ mật
thiết với nhau. Chính vì có mối quan hệ mật thiết, lại được tạo lập nên gần như
đồng thời và có vị trí ngay bên cạnh nhau làm thành một quần thể kiến trúc liên
hoàn nên không chỉ trong cách định vị dân gian mà cả trong sự hình dung của
giới quan chức, của các bậc “cao khoa hiển hoạn” nữa, không phải chỉ đối với
người ngày nay mà cả đối với người đương thời, khi những “cơ quan” này còn
thực thi đúng chức năng của chúng, dường như đó chỉ là “một địa chỉ”.
Triều Nguyễn đã để lại cho lịch sử một di sản văn hóa khổng lồ. Riêng số
sách do triều Nguyễn viết ra trong 2/3 thế kỷ XIX còn nhiều hơn toàn bộ số
sách của 300 năm trước đó gộp lại.
* Chính sách giáo dục:
Về quy trình và chương trình giảng dạy vào những thập niên đầu thế kỷ
XIX tại Quốc Tử Giám, Nội các triều Nguyễn cho biết khái quát như sau:
“Hằng năm cứ đầu xuân sau ngày khai ấn một ngày thì Quốc Tử Giám khai
giảng. Cuối năm sau ngày xếp ấn một ngày thì nghỉ giảng. Đến ngày khai giảng
thì đặt bài vị Tiên sư [Khổng T] ở Di Luân Đường, quan Quốc Tử Giám đem
học trò làm lễ yết cáo… Quan Quốc Tử Giám làm lễ yết cáo xong, vẫn mặc áo
mũ ngồi bày hàng ở giảng đường, các sinh viên đều mặc áo đội khăn cùng lạy.
Làm lễ xong thì lên trường nghe giảng”.
“Chương trình dạy học thì chia theo ngày lẽ ngày chẵn, trước giảng kinh
truyện, sau giảng sách tử, sử, tính lý. Tháng nào cũng cứ các ngày mồng 3,
SVTH: Phạm Bá Tuân
10
10
Văn miếu Quốc Tử Giám Huế- lịch sử và hiện trạng

Văn miếu Quốc Tử Giám Huế- lịch sử và hiện trạng
- Về Tôn sinh: Trong thời gian đầu, hàng ngày họ nghe giảng kinh, truyện,
rồi học lịch sử. Sau đó một thời gian, tùy theo khả năng chuyên môn và trình độ
học vấn, họ được chia làm ba hạng. Hạng thứ nhất là những người chuyên trị
một sách kinh, hoặc một sách truyện, hặc một sách sử. Hạng thứ hai là những
người sinh viên kiêm trị một sách kinh và một sách sử, hoặc một sách truyện,
hoặc một sách sử. Hạng thứ ba là những Tôn sinh mới vào học, mỗi buổi sáng
lên lớp hỏi han ý nghĩa từng chữ từng câu, rồi sau đó mới nghe giảng sách. Dù
thuộc hạng nào, họ cũng phải hiểu rõ ý nghĩa từng chữ từng câu, rồi sau đó
“mới tiện họp nhau cùng học”. Hằng tháng, họ phải trải qua hai lần kiểm tra
vào ngày mồng 3 và ngày 18. Các quan Tế tửu và Tư nghiệp cùng họp mặt để
xét hỏi họ về những nội dung đã học trong tháng. Ai trả lời “mạch lạc thông
suốt, nghĩa lí rõ ràng, thì ghi tên làm trạng chăm học. Nếu tên nào không thuộc
đọc được chữ và câu,không thông hiểu nghĩa lí, thì đánh roi để làm răn…”
- Về Ấm sinh : Hằng ngày, các Ấm sinh nghe giảng về kinh truyện và sử
theo quy đinh ngày chẵn ngày lẻ. Người nào tự tiện vắng mặt 5 ngày thì bị
đánh roi “để quở trách”;nếu bỏ học 10 ngày thì bị ngưng ấp học bổng 1
tháng.”Mỗi tháng 6 kì làm văn,không bỏ thiếu kỳ nào, văn lí hơi thông thoát là
hạng chăm học; nếu chỉ làm văn 1,2 kỳ, thì đánh roi quở trách. Rồi đến cuối
năm hội tất cả các Ấm sinh chua qua hội đồng xét, đem hạch 1 lần để sự tiện
ích thế nào”.
Sau khi đọc những lời đề nghị vừa nêu, vua Tự Đức nói ràng nên phân
biệt độ tuổi và thời gian học tập tại trường Giám của Tôn sinh và Ấm sinh để
định mức kiểm tra bài vở. Nhà vua “chuẩn bị cho người nào tuổi từ 20 trở lên,
đã học trường Giám đầy 3 năm, có thể làm đủ thể văn 4 kỳ mà dự được ưu bình
luôn, đều tâu lên để thưởg. Nếu chưa làm được…, đều đuổi về; còn ngoài ra
theo như lời bàn mà thi hành”
Về tuổi tác và thời lượng học tập của sinh viên trường Giám, họ không
hoàn toàn giống nhau. Chẳng hạn như vào năm 1829, khi một số Ấm sinh (bấy
SVTH: Phạm Bá Tuân

(thuộc hệ 9 hoàng phái ), 7. Đinh Nho Khôn (người Hà Tĩnh ), 8. Ưng Mạnh
SVTH: Phạm Bá Tuân
13
13
Văn miếu Quốc Tử Giám Huế- lịch sử và hiện trạng
(người thuộc Nguyễn Phước tộc ), 9. Cao Hữu Đàn (người Thừa Thiên ), 10.
Đoàn Đình Chi (người Hải Dương ), 11.Nguyễn Khoa Nghi ( người Thừa
Thiên ), 12. Phạm Nghĩ (người Hà Tĩnh ), 13. Nguyễn Thụ (người Quảng Trị ),
14.Từ Bộ Tư (người Hà Đông ).
- 10 người đậu Tú tài: 1. Lê Mai Đỉnh, Hồ Đắc Cư, Nguyễn Trong Đảng,
Phạm Loan, Lê Thích Thảng, Nguyễn Sử, Tào Ngọc Mai, Đặng Văn Cửu, Tôn
Thất Quang, Thái Văn Chánh.
Vì bấy giờ 24 sinh viên ấy đều học ở trường Giám tại Kinh đô, cho nên,
họ đều ứng thí tại trường thi Thừa Thiên. Ở Trường Thừa Thiên, khoa thi
Hương này (Ất Mão, 1915 ) có tất cả là 32 người đậu Cử nhân, trong đó, riêng
sinh viên Quấc Tử Giám chiếm đến 14 người, đạt được môt tỉ lệ khá cao.
Một nguồn tư liệu khác cho biết rằng “từ năm 1918, sau khi thành lập Hội
đồng hỗn hợp quản lí nhà trường, vua Khải Định cho soạn thỏa một chương
trình mới để dạy sinh viên Quấc Tử Giám. Theo đó thì những môn học có tính
cách từ chương, điển lệ dần dần bị loại bỏ và thay thế bằng những môn học như
Toán, Lí, Hóa, Vạn vật…Cũng từ năm 1918 bỏ thi chữ nho trên toàn cõi Việt
Nam thì một số nhũng giáo quan có tân học được bổ đến Quấc Tử Giám để
đảm nhiệm các môn như Pháp văn và Viêt văn… Nhà trường cũng chia chương
trình thành 3 niên khóa, có các kì nghỉ hè, nghỉ lễ đường hoàng”. Bấy giờ,
muốn thi vào Quấc Tử Giám, chỉ cần 2 điều kiện : một là phải có vưn bàng
Tiểu học ( Primaire ) và hai là phải có trình độ cở bản về chữ Hán. Và tất nhiên
là phải trải qua một khì thi nhập học gồm 2 giai đoạn : thi viết ( écrit ), rồi thi
vấn đáp ( oral ).
Phần thi viết gồm các môn : 1 bài “dictée” (viết chính tả ), 1 bài luận Pháp
văn, 1 bài toán Pháp, 1 bài lý Hóa, 1 bài vạn vật, 1 bài luận bằng chữ Hán, 1 bài

Quận Công) hạch đỗ bằng này vào ngày tháng sáu năm 1931 theo Dương lịch,
có bản sao đầy đủ đính kèm ở sau, để xin dự vào hạng Tôn sinh. Bộ chiếu theo
SVTH: Phạm Bá Tuân
15
15
Văn miếu Quốc Tử Giám Huế- lịch sử và hiện trạng
lời xin, xét thấy hợp lệ, nên cấp giấy Chứng nhận để tiện dụng. Nay cấp giấy
Chứng nhận.
Trên đây là giấy chứng nhận. Tôn sinh Bửu Kế thi hành.
Ngày 18 tháng 2 năm Bảo Đại thứ 7 (tức là ngày 24 – 3 – 1932; đóng dấu:
Lễ Bộ chi ấn).
Văn bản 2: Bộ Quốc dân giáo dục cấp cho Giám sinh Bửu Kế văn bằng
thi đậu cuối khóa do Hội đồng Quốc Tử Giám tổ chức.
Phiên âm: Quốc dân Giáo dục Bộ vi bằng cấp sự. Tư tiếp Quốc Tử Giám
đệ trình bổn niên Hội đồng thiêu hạch thủ trúng danh sách cọng tam thập danh,
gian hữu Bửu Kế (Lạc Biên Quận Công phòng tằng tôn, sinh ư Tây nhất thiên
cửu bách thập tam niên nhị nguyệt sơ nhị nhật) dự tại trúng hạng đệ tam danh.
Kinh phụng chỉ chuẩn, lục tuân tại án, trừ án quán sức tuân ngoại, hợp hành
bằng cấp chấp chiếu. Tu chí bằng cấp giả.
Hữu bằng cấp, Giám sinh thiêu trúng Bửu Kế chấp chiếu.
Bảo Đại cửu niên ngũ nguyệt thập nhị nhật.
Dịch nghĩa: Bộ Quốc dân Giáo dục cấp giấy Chứng nhận. Nay tiếp đẹ
trình của Quốc Tử Giám viết rằng năm nay Hội đồng tuyển hạch lấy đỗ danh
sách tất cả 30 tên, trong đó có Bửu Kế (tằng tôn của phòng Lạc Biên Quận
Công; sinh ngày 2 – 2 – 1913 theo Dương lịch) trúng tuyển thứ ba thuộc bảng
hai. Đã được Chỉ chuẩn thuận và ghi chép vào hồ sơ. Ngoài ra, sức cho bằng
cấp hợp lệ cho tiện dụng. Cho nên ban bằng cấp vậy.
Trên đây là bằng cấp. Giám sinh trúng tuyển Bửu Kế thi hành (Đóng dấu:
Giáo dục).
Ngày 12 tháng 5 năm Bảo Đại thứ 9 (tức là ngày 23 – 6 – 1934; đóng

những việc ích quốc lợi dân nói chung. Cũng giống như bao triều đại trước đó
tại Trung Hoa và Việt Nam, triều đình nhà Nguyễn trong ngót thế kỷ XIX đã
lấy những tư tưởng Nho giáo làm khuôn vàng thước ngọc. Tứ thư, Ngũ kinh
vẫn là sách gối đầu giường của bao thế hệ sinh viên đương thời. Việc xây dựng
SVTH: Phạm Bá Tuân
17
17
Văn miếu Quốc Tử Giám Huế- lịch sử và hiện trạng
và mở mang Văn miếu sát bên Quốc Tử Giám vào năm 1808 càng cho thấy rõ
khuynh hướng sùng thượng nền triết học tu tề trị bình của đạo Khổng.
Nhưng với cuộc cách mạng kỹ nghệ bấy giờ đang diễn ra trên thế giới,
nhất là tại các nước Âu Mỹ, lối học “ tầm chương trích cú”, “chi hồ giả dã”…
ngày càng bộc lộ nhược điểm của nó. Chính vua Minh Mạng đã nhận ra được
sự yếu kém và lỗi thời của lối văn cử nghiệp trong nền giáo dục nước nhà ngay
từ năm 1823 và bảo các đình thần nên cải cách dần đi. Nhà vua nói rằng:
“Văn cử nghiệp làm lầm người ta đã lâu. Trẫm cho rằng chương vẫn
không nhất định. Nay văn cử nghiệp chỉ sâu nệ sáo cũ, lên mặt với nhau, đứng
riêng pha phái, nhân phẩm lấy đấy làm cao thấp, khoa trường lấy đấy làm đỗ
hỏng, học hành như thế, lạ gì nhân tài mỗi ngày một kém. Nhưng tập tục theo
nhau, khó mà thay đổi. Vài năm nay nên bàn thay đổi”.
Hơn nữa thế kỷ sau, vua Tự Đức lại càng ý thức được điều đó khi cho rằng
đám sĩ tử đang đắm đuối trong “mạt nghệ từ chương” và thơ văn phù phiếm;
nền giáo dục đào tạo thiếu thực dụng và vô bổ ấy cần phải được “cải cách ngay
đi”. Vào năm 1879, nhà vua đã nói với các sĩ tử khi họ tham gia kỳ thi Đình
trong “Ân khoa Kỷ Mão”:
“Ôi! Học là để đem dùng vào việc, há nên chuộng những lời phù phiếm…
Nhưng sao lại nay lần mai lữa, đắm đuối vào mạt nghệ từ chương, mà không
chịu lo nghĩ mưu kế giúp vua cứu dân, như thế thì sự học đối với sự làm, việc
chọn lấy đối với việc dùng, đều trái ngược nhau, và đó không phải là sự Trẫm
thường mong muốn. Trẫm vẫn muốn cải cách ngay đi, nhưng lại e trái với ý

ghi tên tuổi trên bia đá dựng Văn Miếu triều Nguyễn. Trong số đó, có những
nhân vật nổi tiếng như Phan Thúc Trực, Nguyễn Khuyến, Đào Nguyên Phổ,
Ngô Đức Kế. Ngôi trường lịch sử này cũng là nơi từng góp phần nuôi dưỡng và
hun đúc tinh thần yêu nước cao cả của Phan Bội Châu trong một thời gian kể từ
khi ông nhập Giám vào năm 1903.
Nhìn chung, Văn miếu Quốc Tử Giám Hà Nội và Văn miếu Quốc Tử
Giám mặc dù có một số điểm dị biệt về lịch sử hình thành, quá trình hoạt động,
diện mạo kiến trúc và cải tổ giáo dục, nhưng vẫn có một số mẫu chung về mục
SVTH: Phạm Bá Tuân
19
19
Văn miếu Quốc Tử Giám Huế- lịch sử và hiện trạng
tiêu đào tạo ngay từ đầu, và trên thực tế đã sản sinh không ít tài năng hữu dụng
và danh nhân cho đất nước mà hiện nay chúng ta còn đọc được trên bia đá cũng
như trong sử sách. Riêng Văn miếu Quốc Tử Giám ở miền núi Ngự sông
Hương là chứng tích cụ thể nhất về một thời kỳ cực thịnh của lịch sử giáo dục
nho học và của sự sùng thượng tư tưởng tư tưởng Khổng Mạnh của Việt Nam,
nhưng sau đó, nền học thuật ấy lâm dần vào giai đoạn suy tàn, vì không đáp
ứng kịp nhưng yêu cầu thực dụng của thời đại mới.
Tuy nhiên, các công trình kiến trúc ấy vẫn luôn luôn là những chứng tích
sống động và có giá trị đặc biệt về một thời kỳ trong lịch sử giáo dục và trong
kho tàng di sản văn hóa của nước nhà.
1.4 Những dấu ấn các trường học quốc gia trước triều Nguyễn
1.4.1 Trường học thời Hậu Lê
Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, lần đầu tiên thời vua Lý Nhân Tông,
tháng 8 năm Canh Tuất (1070), làm văn miếu, đắp tượng Khổng tử, Hoàng thái
tử đến để học. Tháng 4 năm Bính Thìn, Anh Vũ chiêu thắng 1 (1076) lập nhà
Quốc Tử Giám, tuyển trong các quan văn lấy những người “cao” văn bổ vào
đó. Tháng 6 năm Quý Sửu (1253), lập Quốc học viện, tô tượng KHổng Tử, Chu
Công và Á Thánh, vẽ tượng 72 người hầu để thờ. Quốc Tử Giám có khi còn gọi

các chúa Nguyễn còn “tận dụng” được nhân tài ngoài Bắc vào theo mình nhưng
rồi thế hệ ấy qua đi. Do nhu cầu cấp thiết của nền hành chính từ trung ương đến
địa phương, các chúa kế tiếp không thể không quan tâm đến giáo dục – nơi đào
tạo những nhân tài giúp sức tại chỗ.
Văn miếu của xứ Đàng Trong được hình thành từ đó, ở khoảng gần bên
cạnh phủ chính. Tuy sử không nói gì tới trường học nhưng chúa Nguyễn đã mở
ngay bên cạnh Văn Miếu, chí ít cũng dạy các con chúa và các con em quý tộc,
quan lại. Vã lại, muốn thành lập chính quyền riêng họ Nguyễn không thể không
lo đào tạo cho mình những con người “có học” để giúp việc, nếu không thì
những người như Nguyễn Hữu Hào, Nguyễn Khoa Chiêm, Nguyễn Cư Trinh
chẳng hạn thành đạt và phát triển do đâu ? Có thể nhận thấy hoàn cảnh lịch sử
lúc bấy giờ, họ Nguyễn không thể không mở trường học, phát triển giáo dục.
SVTH: Phạm Bá Tuân
21
21
Văn miếu Quốc Tử Giám Huế- lịch sử và hiện trạng
Về sau, năm 1776 Lê Quý Đôn có kể lại mình từng lên “học cung” nhà Nguyễn
xem lễ và giảng học luận văn. Đó là trường học nhà nươc Đàng Trong còn
trong dân gian do nhu cầu sử dụng đến chữ nghĩa như làm đơn, khai trình, gia
phả… nên các lớp học tại gia cùng với quy mô mọc lên khắp nơi. Từ những lớp
học đó đã sản sinh ra những con người ưu tú như Dương Văn An…
Sau thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên, phủ chính dời đi đổi lại nhiều lần từ
Phúc An vào Kim Long (1636), xuống Phú Xuân (1687), ra Bác Vọng (1712),
rồi lại vào Phú Xuân (1738) nhưng ta chỉ thấy sách Đại Nam Thực Lục tiền ghi
Văn Miếu đóng tại xã Triều Sơn (huyện Quảng Điền) từ năm 1691 mãi đến
năm 1766 Nguyễn Phúc Thuần mới dời vào làng Lương Quán, đến năm 1770
thì chuyển qua Long Hồ. Văn Miếu Long Hồ nay còn vết tích chiếc cổng vòm.
Có thể nhà học hay học cung cũng tọa lạc bên cạnh văn miếu, năm 1776
Quế đường Lê Quý Đôn vào làm hiệp trấn Thuận Hóa, từng đến đó xem lễ và
giảng luận trước các học trò và kể lại trong bài tựa sách Phủ biên tạp lục:

2.1 Lịch sử hình thành
Quốc Tử Giám ở Huế, nay là Bảo tàng lịch sử Thừa Thiên Huế, là di tích
trường đại học duy nhất thời phong kiến còn tồn tại ở Việt Nam. Đây là một di
tích lịch sử, văn hóa có giá trị cao. Ngày 11 tháng 12 năm 1993, Quốc Tử Giám
cùng với hệ thống di tích cung đình triều Nguyễn đã được ghi tên vào danh
mục Di sản thế giới.
Quốc Tử Giám trước đây thuộc địa phận làng An Bình, giáp với làng Long
Hồ Hạ, huyện Hương Trà, thành phố Huế là trường Ðại học quốc gia ngày xưa do
triều đình mở ra để đào tạo nhân tài. Ở nước ta, Quốc Tử Giám đầu tiên đã được
thành lập vào năm 1076 tại Kinh đô Thăng Long dưới thời Lý . Ngay từ đầu nó đã
có tên gọi là Quốc Tử Giám và từ đó về sau nó vẫn giữ nguyên vị trí ở kinh đô
Thăng Long, trong khuôn viên Văn Miếu Hà Nội ngày nay.
Đến đầu triều Nguyễn, sau khi thống nhất đất nước, vua Gia Long đã
quyết định xây dựng kinh đô tại Huế. Năm 1803 , vua Gia Long xây dựng Đốc
Học Đường – đây được xem là trường quốc học đầu tiên được xây dựng dưới
triều Nguyễn. Trường được xây tại địa phận An Ninh Thượng, huyện Hương
Trà, cách kinh thành Huế chừng 5 km về phía Tây, trường nằm cạnh Văn Miếu,
mặt hướng ra sông Hương .
2.2 Kiến trúc
Thời Gia Long, qui mô kiến trúc của trường còn nhỏ, chỉ gồm một tòa
chính ở giữa và hai dãy nhà hai bên, dùng làm chỗ để quan Chánh, Phó Đốc
Học giảng dạy.
Dưới thời Minh Mạng (1820 – 1840), do nhu cầu giáo dục và đào tạo ngày
càng cao, cho nên cơ sở vật chất của trường được xây dựng thêm ngày càng
SVTH: Phạm Bá Tuân
24
24
Văn miếu Quốc Tử Giám Huế- lịch sử và hiện trạng
nhiều. Vào tháng 2 năm Minh Mạng nguyên niên, tức là tháng 3 – 1820, trong
khi bàn định về quy trình giáo dục và đào tạo ở Quốc tử giám, nhà vua nói với

Trích đoạn Hiện trạng Văn miếu Quốc Tử Giám Một số đề xuất giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn miếu Quốc Tử Giám
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status