Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn và hiệu quả can thiệp truyền thông nâng cao kiến thức và thái độ nuôi con bằng sữa mẹ cho các bà mẹ có con 0-25 tháng tuổi (FULL TEXT) - Pdf 52

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG

ĐẶNG CẨM TÚ

THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH
NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ CỦA CÁC BÀ MẸ CÓ CON 0 - 25
THÁNG TUỔI TẠI 3 TỈNH HÀ NAM, QUẢNG BÌNH, LÀO CAI
VÀ HIỆU QUẢ MỘT SỐ BIỆN PHÁP CAN THIỆP, 2013-2015

LUẬN ÁN TIẾN SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG

HÀ NỘI - 2018


22

ĐẶT VẤN ĐỀ
Nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) là phương pháp nuôi dưỡng trẻ tự
nhiên mang lại lợi ích tối ưu nhất cho sự sống còn, lớn lên và phát triển của
trẻ. Cho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh, bú mẹ hoàn toàn trong 6
tháng đầu, tiếp tục cho ăn bổ sung hợp lý và duy trì bú sữa mẹ đến 24 tháng
tuổi bảo đảm sự tăng trưởng và phát triển thể chất, tinh th ần và trí tuệ của trẻ
[1]. Nuôi con bằng sữa mẹ là biện pháp can thiệp có hiệu quả nhất trong
giảm tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cho trẻ. Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn
góp phần quan trọng giảm tỷ lệ mắc viêm phổi và tiêu chảy là 2 nguyên

thành công nhất định. Theo báo cáo của Save the Children năm 2013 trong 10
năm (2000 - 2010), tỷ lệ BMHT trong 6 tháng tăng hơn 20% ở 27 quốc gia.
Một số quốc gia có tỷ lệ bú mẹ hoàn toàn tăng nhanh như ở Sri Lanka tăng
từ 17% (1993) lên 76% (2007); Campuchia từ 12% (2000) lên 74% (2010);
Ghana từ 7% (1993) lên 63% (2008). Trong khi đó một số nước bao gồm cả
Việt Nam, tỷ lệ BMHT trong 6 tháng đầu hầu như không cải thiện [93]. Với
hiện trạng đó, nhiều chính sách và can thiệp hỗ trợ cho bà mẹ ở nước ta đã
được xây dựng và thực hiện nhằm tăng tỷ lệ NCBSM như: Chiến lược Quốc
gia Dinh dưỡng giai đoạn 2011 – 2020 [49]. Chiến lược Dân số và sức khoẻ
sinh sản giai đoạn 2011 – 2020 [48], các quy định về quảng cáo các sản phẩm
sữa cho trẻ dưới 12 tháng tuổi theo Nghị định số 21/2006/NĐ- CP của Chính
phủ và Luật quảng cáo số 16/2012/QH13 của Quốc hội [47]. Luật lao động
sửa đổi số 10/2012/QH13 cho phép lao động nữ được nghỉ 6 tháng sau khi
sinh nhằm khuyến khích và tăng tỷ lệ NCBSMHT [17].
Để góp phần cải thiện thực hành cho trẻ bú sớm và BMHT, đồng thời
chuyển tải các chính sách, hướng dẫn vào thực tế chúng tôi thực hiện đề tài
“Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn và hiệu quả can thiệp
truyền thông nâng cao kiến thức và thái độ nuôi con bằng sữa mẹ cho các
bà mẹ có con 0-25 tháng tuổi tại 3 tỉnh: Hà Nam, Lào Cai, Quảng Bình,
năm 2012-2015”.


MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1. Mô tả kiến thức, thái độ và thực hành về nuôi con bằng sữa mẹ của
phụ nữ có con từ 0 - 25 tháng tuổi tại tỉnh Hà Nam, Lào Cai và Quảng Bình
năm 2012.
2. Đánh giá hiệu quả của biện pháp can thiệp truyền thông giáo dục sức
khoẻ đối với kiến thức, thái độ về nuôi con bằng sữa mẹ của các phụ nữ
có con dưới 2 tuổi tại tỉnh Hà Nam, Lào Cai và Quảng Bình từ năm 2013
đến 2015.

1.2. Thành phần cơ bản của sữa mẹ
Sữa mẹ là thức ăn tự nhiên, lý tưởng nhất phù hơp với trẻ nhỏ. Sữa mẹ
có đủ Protein, Lipid, Vitamin và Khoáng chất với tỷ lệ thích hợp và dễ
hấp thu đáp ứng với từng giai đoạn phát triển của trẻ. Sữa mẹ còn chữa các
chất miễn dịch, kháng thể giúp trẻ chống các bệnh nhiễm khuẩn, dị ứng, suy
dinh dưỡng béo phì và một số bệnh tật khác [171].
Thành phần Protein, lipid, glucid trong sữa mẹ
Lượng protein trong sữa mẹ ít hơn sữa động vật nhưng lại có đủ các
axit amin cần thiết với tỷ lệ cân đối đồng thời lại dễ hấp thu. Protein của
sữa mẹ gồm nhiều casein kết cầu mềm dễ hấp thụ hơn so với sữa động
vật. Thành phần Lipid trong sữa mẹ gồm nhiều acid béo cần thiết chuỗi
dài, không no dễ hấp thu cho trẻ. Đặc biệt, sữa mẹ có nhiều acid béo đóng vai
trò quan trọng trong việc phát triển và hoàn thiện hệ thần kinh ở trẻ nhỏ
như DHA và ARA là 2 loại axit không có trong bất kỳ loại sữa động vật
nào. Lipid trong sữa mẹ cung cấp khoảng một nửa lượng Kalo cho trẻ
bú mẹ. Glucid trong sữa mẹ chủ yếu là đường lactose, hàm lượng 7g/10ml
[171].
Thành phần Vitamin và muối khoáng
Vitamin trong sữa mẹ có đủ cho trẻ trong 4-6 tháng đầu nếu bà mẹ
được ăn uống đầy đủ, ngoại trừ Vitamin D là vitamin do cơ thể tự tổng hợp
khi tiếp xúc với ánh sáng mặt trời. Về thành phần muối khoáng thì lượng F
e và ZinC trong sữa mẹ tuy ít nhưng có hoạt tính cao, dễ hấp thụ nên vẫn
đáp ứng được nhu cầu của trẻ [171].
Các yếu tố miễn dịch
Sữa mẹ được ví như như “liều vác xin đầu tiên” cho trẻ vì có chất thúc
đẩy hoàn thiện hệ thống miễn dịch ở trẻ sơ sinh, đặc biệt là trẻ đẻ non.
Sữa mẹ chứa nhiều globulin miễn dịch tạo kháng thể và các chất bảo vệ
cơ thể chống lại các bệnh nhiễm khuẩn bằng cách bọc niêm mạc ruột,
bạch cầu,




khác. Sữa cuối có màu trắng hơn so với sữa đầu vì chứa nhiều chất béo hơn
và cung cấp nhiều năng lượng cho trẻ. Vì vậy, trong mỗi bữa bú cần cho trẻ
bú hết từng bên vú một để trẻ nhận được đủ các chất đạm, dinh dưỡng ở sữa
đầu và nhiều chất béo ở sữa cuối.
1.4. Lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ
Nuôi con bằng sữa mẹ là một biện pháp tự nhiên, kinh tế và hiệu quả
bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em. Kinh nghiệm thực tế và kết qủa của nhiều
nghiên cứu trên thế giới đã khẳng định các lợi ích của NCBSM đối với
sự lớn lên và phát triển toàn diện của trẻ; giảm nguy cơ bệnh tật cho mẹ và
lợi ích kinh tế cho cộng đồng.
1.4.1. Lợi ích đối với trẻ
Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất bảo đảm cho sự sống còn và phát triển tối
ưu cho trẻ em mà không có một loại thức ăn nào có thể thay thế được. Sữa
mẹ có đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết và dễ cho trẻ tiêu hoá, hấp thu.
Cùng với sự lớn lên của trẻ, sữa mẹ thay đổi số lượng để đ áp ứng nhu
cầu thay đổi đó kể cả số lượng sản xuất trong ngày và cho từng bữa bú.
Một số thành phần trong sữa mẹ cũng thay đổi để đ áp ứng phù hợp với nhu
cầu phát triển của trẻ.
Cùng với lợi ích về dinh dưỡng, sữa mẹ có chứa các chất miễn dịch
giúp trẻ bảo vệ cơ thể chống lại các bệnh nhiễm khuẩn, giảm tỷ lệ mắc bệnh,
tử vong. Nuôi con bằng sữa mẹ là một trong những thực hành có lợi nhất mà
bà mẹ có thể thực hiện để giảm nguy cơ nhiễm khuẩn cho con mình. Tổ
chức Y tế thế giới đã đưa các bằng chứng khẳng định là trẻ được bú mẹ
ít phải đến bệnh viện hơn hoặc ít phải uống thuốc, giảm nguy cơ lây nhiễm
và mắc các bệnh như tiêu chảy, viêm phổi, hen suyễn, nhiễm trùng tai,
nhiễm khuẩn đường hô hấp [171]. Kết quả phân tích từ nghiên cứu thuần
tập của Bachrach và cộng sự cho thấy rằng trẻ được nuôi bằng sữa công
thức phải

chứa


nhiều kháng thể, các protein kháng khuẩn và nhiều tế bào bạch cầu hơn sữa
trưởng thành giúp trẻ sơ sinh chống các bệnh nhiễm khuẩn n guy hiểm
và cung cấp khả năng miễn dịch đầu tiên cho trẻ chống nhiều bệnh mà trẻ
có thể mắc sau đẻ [37]. Sữa non có tác dụng xổ nhẹ, giúp thải phân su và
cũng có tác dụng thải bilirubin ra khỏi ruột, giảm mức độ vàng da. Thêm
vào đó, sữa non chứa nhiều yếu tố tăng trưởng giúp ruột chưa trưởng
thành của trẻ tiếp tục phát triển sau sinh, giúp trẻ phòng dị ứng và phòng
bệnh không dung nạp những thức ăn khác. Sữa non chứa nhiều vitamin A
có tác dụng làm giảm độ nặng của các bệnh nhiễm khuẩn mà trẻ có thể
mắc ph ải. Vì vậy, trẻ được bú sữa non trong những bữa bú đầu tiên là rất
quan trọng, tận dụng được thức ăn lý tưởng nhất, phù hợp nhất với trẻ
mới sinh đồng thời cũng tạo nền tảng vững chắc cho sự lớn lên và phát triển
của trẻ [46].
Các phân tích về thành phần và số lượng sữa, các nhà khoa học đã
khẳng định là nếu bà mẹ khỏe mạnh, dinh dưỡng, nghỉ ngơi đầy đủ sẽ cung
cấp đủ dinh dưỡng cho trẻ trong 6 tháng mà không cần bất cứ thức ăn, nước
uống nào khác [176], [171]. Chính vì thế, WHO khuyến khích các bà mẹ
nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu có thể cải thiện sự tăng
trưởng và phát triển, kết quả học tập và thậm chí cả khả năng thu nhập của
trẻ trong tương lai [170]. Đồng thời WHO cũng chỉ ra rằng việc
NCBSMHT trong 6 tháng đầu đời là cách tốt nhất phòng tránh tử vong cho
trẻ em, ước tính có thể giảm hơn một triệu ca tử vong ở trẻ trên toàn thế
giới mỗi năm [172]. Vì vậy, WHO khuyến cáo cho tất cả các bà mẹ cần
cho con bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau đẻ, bú mẹ hoàn toàn trong 6
tháng đầu, cho ăn bổ sung hợp lý khi trẻ được tròn 6 tháng và tiếp tục bú
mẹ cho đến 24 tháng hoặc lâu hơn [171], [59].



1.5. Thực trạng kiến thức và thực hành về nuôi con bằng sữa mẹ
1.5.1. Kiến thức, thái độ và thực hành về nuôi con bằng sữa mẹ trên
thế giới
Lợi ích của sữa mẹ đã được khẳng định trong trong rất nhiều nghiên
cứu và đã được chứng minh rõ ràng trong thực tế. Phần lớn các bà mẹ ở
các nước trên thế giới hiểu biết và ủng hộ NCBSM, tuy nhiên kiến thức và
thực hành về cho trẻ bú sớm và BMHT còn hạn chế.
Một nghiên cứu được tiến hành năm 2010 tìm hiểu thực trạng
kiến thức, thái độ, thực hành của 322 bà mẹ người Trung Quốc sống ở Ailen cho thấy 87% trong số họ chọn nuôi con bằng sữa mẹ do họ biết sữa
mẹ là tốt hơn cho trẻ em, hơn 82% cho rằng sữa mẹ là thức ăn cung cấp đầy
đủ dưỡng chất cần thiết cho trẻ trong 6 tháng đầu, trên 70% biết các lợi
ích về sức khỏe của sữa mẹ và trên 60% nhận ra rằng sữa mẹ có thể phòng
chống một số bệnh [181].
Một nghiên cứu khác năm 2011 trên 653 phụ nữ Trung Quốc đang
mang thai từ 5 đến 22 tuần tại 4 trung tâm sức khỏe cộng đồng ở Thượng
Hải cho thấy hiểu biết của những người sắp làm mẹ này có hiểu biết tốt về
NCBSM. Hầu như tất cả các bà mẹ (99%) biết bú sữa mẹ là tốt cho sức
khỏe của em bé, tuy nhiên lợi ích đối với sức khỏe mẹ thì chỉ có 22% đối
tượng nghiên cứu đề cập đến. Gần 80% không biết định nghĩa về bú hoàn toàn
và khoảng 40% các bà mẹ biết là sữa mẹ có thể đáp ứng tất cả các nhu cầu
dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh dưới 6 tháng tuổi [114]. Nghiên cứu của
Sushma Sriram và cộng sự (2013) về kiến thức NCBSM của 150 bà mẹ ở
thành phố Ahmedabad (Ấn Độ) cho kết là có đến 96% bà mẹ có kiến thức
cho con bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, 90,7% số bà mẹ biết
được giá trị của sữa non [159]. Cũng trong năm 2013, nghiên cứu của
Abiola O Ogundele và cộng sự ở 383 bà mẹ sống ở các vùng ngoại ô
của Nigeria cho thấy có




cho con uống sữa công thức. Hầu hết các bà mẹ (>90%) được hỏi đều không
đồng ý với nhận định “Cho bú là cổ hủ” và “Uống sữa ngoài mới là th ể
hiện bạn có kinh tế” [181].
Nhìn chung, NCBSM được phần lớn bà mẹ và cộng đồng chấp nhận.
Thái độ tích cực với thực hành này đã được nhiều nghiên cứu ở nhiều
nước trên thế giới khẳng định [163]. Các nghiên cứu đều chỉ ra rằng những bà
mẹ không nuôi con bằng sữa mẹ có thái độ tiêu cực với sữa mẹ [98].
Nghiên cứu trên 122 bà mẹ sau sinh ở phòng khám ngoại trú nhi và
phòn g tiêm chủng tại Ấn Độ năm 2014, tác giả đã sử dụng Bảng kiểm
đánh giá thái độ nuôi dưỡng trẻ sơ sinh của IOWA, kết quả cho thấy hầu hết
các bà mẹ không đồng ý với nhận định “Cho trẻ bú sữa ngoài tiện lợi hơn
bú mẹ” (83,6%),
73,8% các bà mẹ hoàn toàn đồng ý với nhận định “Nuôi con bằng sữa mẹ
giúp tăng tình mẫu tử” [168].
Kiến thức, thái độ về NCBSM mặc dù có khác nhau theo từng
quốc gia, lãnh thổ nhưng nhìn chung hiểu biết và ủng hộ NCBSM ở các
bà mẹ tương đối cao. Tuy nhiên, tỷ lệ bà mẹ thực hành NCBSM lại
không được như mong muốn, đặc biệt là bú mẹ sớm và BMHT. Nghiên
cứu của Bhutta thống kê trong vòng một thập niên qua từ năm 2000 đến
năm 2010 của 66 quốc gia, tỷ lệ bà mẹ cho trẻ bú sớm trong giờ đầu sau
sinh là 48% và tỷ lệ trẻ được bú mẹ hoàn toàn dưới 6 tháng tuổi chỉ đạt
34% [88]. Nghiên cứu tại thị trấn Mizan Aman cho thấy tỷ lệ trẻ được bú
hoàn toàn trong 6 tháng đầu chỉ đạt 26,4% [163]. Thống kê gần đây nhất
cho thấy, thời gian cho trẻ bú ở các nước có thu nhập cao ngắn hơn ở các
nước có thu nhập thấp và trung bình. Ở các nước thu nhập thấp, hầu hết các
bà mẹ cho con bú đến 12 tháng, trong khi đó tỷ lệ này ở các nước thu nhấp cao
chỉ dưới mức 20%. Thời gian NCBSM ở các nước phát triển cũng rất khác
nhau với tỷ lệ thấp nhất là ở Anh là chưa đến 1% cho con bú đến 12
tháng, trong khi ở Mỹ tỷ lệ này là



Một nghiên cứu khác ở Bhaktapur, Nepal trên 325 trẻ sơ sinh đến
tiêm sởi ở lúc 9 tháng tuổi, các bà mẹ được hỏi thông tin liên quan đến việc
nuôi dưỡng con mình từ khi sinh cho thấy 295 bà mẹ tương đương với
91% cho con uống sữa non và 185 bà mẹ (57%) cho con bú sớm trong vòng
1 giờ đầu sau sinh. Tỷ lệ cho con bú hoàn toàn trong 1 tháng, 3 tháng và 6
tháng lần lượt là 240 (74%), 78 (24%) và 29 (9%), và cho ăn bổ sung từ
1 tháng, 3 tháng và 6 tháng là 49 (15%), 124 (38%) và 257 (79%). Lý do
cho ăn bổ sung sớm trước 6 tháng là do mẹ không đủ sữa [166].
Khi bà mẹ khởi đầu tốt với việc bú sớm sẽ có ảnh hưởng quan trọng
đến việc tiếp tục cho con bú về sau. Khuyến cáo của WHO về cho con bú
sớm và BMHT trong 6 tháng đầu đang là lĩnh vực được ưu tiên can
thiệp trong các chương trình NCBSM. Một tín hiệu tích cực là số bà mẹ
cho con bú sớm và BMHT có xu hướng cải thiện. Theo số liệu từ 64 nước
đang phát triển chiếm 69% số trẻ em được sinh ra trên toàn thế giới từ
năm 1996 đến năm 2006, tỷ lệ trẻ em được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng
đầu tăng từ 33% lên 37%. Tăng nhanh nhất ở vùng cận sa mạc Sahara châu Phi với tỷ lệ tăng từ 22% đến 30%, và châu Âu với tỷ lệ tăng từ
10% đến 19%. Ở châu Mỹ Latinh và Caribean ngoại trừ Brazil và
Mexico, tỷ lệ trẻ được bú mẹ hoàn toàn tăng từ 30% đến 45% [176],
[175]. Kết quả của Cesar năm 2016 cũng cho thấy tỷ lệ NCBSM cũng
tăng nhẹ từ 24,9% lên 35,7% trong giai đoạn 1993 - 2013 ở các nước có
thu nhập thấp [167].
Cũng tương tự như thực hành cho bú sớm, tỷ lệ BMHT không chỉ
khác nhau theo châu lục mà còn theo quốc gia và các vùng miền trong mỗi
quốc gia. Tại châu Á tỷ lệ NCBSMHT ở Ấn Độ là 46%, Campuchia là 74%,
Philippin 34%, Bangladesh 43% [176], [136]. Tại Trung Quốc, tỷ lệ bà
mẹ cho con BMHT trong 4 tháng đầu là 35% nhưng đến 6 tháng thì tỷ lệ
này chỉ còn 28% [179]. Ở Al Hassa, A-rập Xê-út, kết quả nghiên cứu trong
khu vực



Kết quả điều tra ban đầu dự án A&T năm 2011 cho biết hơn 3/4 số
bà mẹ biết là trẻ phải được cho bú ngay trong vòng 1 giờ sau sinh, 76% các
bà mẹ biết cần cho trẻ bú sữa non và 41% số bà mẹ biết cần cho bú theo
nhu cầu, bất cứ khi nào bé muốn [61].
Tuy nhiên, theo tác giả Vũ Phương Hà (2010), kiến thức của bà mẹ
về nuôi con bú và ăn bổ sung còn nhiều hạn chế. Có tới 27% bà mẹ không
biết cho bú lần đầu vào thời gian nào và bú hoàn toàn trong mấy tháng là
phù hợp. Chỉ có 46,8% bà mẹ cho rằng nên cho bú hoàn toàn đến 6 tháng.
Trên
50% các bà mẹ cho rằng phải cho con ăn bổ sung trước 6 tháng hoặc không
biết nên bắt đầu cho ăn vào thời điểm nào [13].
Cũng như các nước có thu nhập thấp và trung bình, hầu hết các bà mẹ
Việt Nam đều cho con bú với thời gian trung bình k hoảng 17 tháng
[41]. Tuy nhiên, tỷ lệ cho con bú sớm và BMHT đạt mức thấp hơn so
với các nước trong khu vực và đang có xu hướng giảm trong thập kỷ
qua. Các nghiên cứu ở vùng nông thôn vào những năm 2008 cho kết quả tỷ
lệ bú sớm vào khoảng 70-80% và BMHT trong khoảng 18-20% [22], [25].
Ở các vùng thành thị, các tỷ lệ này thấp hơn với tỷ lệ trẻ được cho bú sớm
chỉ ở mức 3050% và BMHT
[38].

trong khoảng 15-20%

Các nghiên cứu gần đây ở các vùng miền trong cả nước cho kết quả
về tỷ lệ bú sớm và BMHT thấp hơn các số liệu công bố trong thập kỷ 90.
Điều tra của Viện dinh dưỡng năm 2010 cho thấy mới chỉ có chỉ có 62%
trẻ em Việt Nam được bú sớm sau sinh và 19,6% bà mẹ nuôi còn bằng
SMHT trong

hành bú mẹ chủ yếu là do vì cuộc sống quá khó khăn, chế độ ăn uống
của người mẹ không đủ dẫn đến tình trạng thiếu sữa hoặc không đủ sữa
cho con bú; hoặc cũng có nhiều trường hợp con không chịu bú mẹ [40].
Lý do bà mẹ không cho trẻ bú sớm phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe
của mẹ và của trẻ mới sinh, tuổi của mẹ, thời gian chuyển dạ hay tư vấn của
nhân viên y tế. Bà mẹ ít tiết sữa hoặc có cảm giác đau và khó chịu cũng
là nguyên nhân của việc không cho trẻ bú sớm. Trẻ đẻ non hoặc bị các bệnh



nặng, dị tật cản trở rất nhiều đến bú mẹ.
Ở nhiều nơi vẫn tồn tại những phong tục lạc hậu sau khi sinh người
phụ nữ vắt bỏ sữa non vì cho rằng nó không tốt. Cho trẻ ăn trước khi bú mẹ
bữa đầu mặc dù đã giảm rất nhiều nhưng vẫn còn tồn tại khá nhiều ở một số
vùng nông thôn và miền núi [171].
Một trong những lý do quan trọng và ngày càng chiếm đa số trong các
nguyên nhân làm giảm tỷ lệ trẻ bú sớm trong giờ đầu là tăng tỷ lệ mổ đẻ
một cách nhanh chóng trong những năm gần đây ở nước ta. Trẻ mổ đẻ hầu
như không được bú sớm mà thường phải ăn sữa ngoài. Nghiên cứu của
Trần Thị Hải Dung ở bệnh viện Phụ sản Hà Nội về thực hành bú sớm trong
bệnh viện cho thấy, không có bà mẹ mổ đẻ nào cho con bú sớm trong vòng
giờ đầu [8].
Các nghiên cứu khác ở bệnh viện Đa khoa Kiên Giang, Cần Thơ
cũng cho kết quả tương tự [43], [55]. Như vậy có thể khẳng định rằng
ở Việt Nam, tất cả các bà mẹ phải mổ đẻ đều không cho con bú sớm trong
vòng giờ đầu như khuyến cáo của WHO. Một lý do mà tất cả các tác giả
đều đề cập đến là vì phải tách mẹ sau mổ mặc dù không có một văn bản nào
qui định về vấn đề này.
Hậu quả của việc không cho bú sớm là phải cho trẻ ăn thêm thức ăn
khác ngoài sữa mẹ. Số liệu của Alive & Thrive cho thấy những bà mẹ mổ đẻ

trọng trong thực hiện NCBSM sẽ được trình bày chi tiết hơn ở phần
tiếp theo.
1.6. Tác động của truyền thông nâng cao kiến thức, thái độ thực hành
nuôi con bằng sữa mẹ
Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng truyền thông đóng vai trò quan trọng
đối với NCBSM cả tác động tích cực lẫn tiêu cực. Những thông tin đúng
sẽ cung cấp thêm kiến thức, thay đổi thái độ và cải thiện thực hành theo
hướng tích cực, ngược lại các quảng cáo hay những gói dịch vụ khuyến mại
của các


hãng sữa thường làm giảm niềm tin vào sữa mẹ và ảnh hưởng nhiều đến
các thực hành NCBSM.
Nghiên cứu của Howard C. R và cộng sự so sánh sự ảnh hưởng của
các tài liệu về sữa công thức với việc bú sớm và thời gian NCBSM chỉ
ra rằng không có sự ảnh hưởng đến việc bú sớm nhưng có sự thay đổi đến
việc cho con bú trong 2 tuần đầu khi tiếp xúc nhiều với các tài liệu về sữa
công thức, đặc biệt với những bà mẹ có ý định NCBSM trong 12 tuần hoặc
ít hơn thì thời gian bú hoàn toàn sẽ ít đi [94]. Tại Hoa Kỳ một chương
trình cung cấp dinh dưỡng đặc biệt cho phụ nữ, trẻ sơ sinh và trẻ em (WIC)
thông qua việc cung cấp các khoản viện trợ về dinh dưỡng, chăm sóc sức
khỏe, giáo dục dinh dưỡng cho phụ nữ mang thai có thu nhập thấp, phụ
nữ NCBSM, không NCBSM và trẻ sơ sinh, trẻ em dưới 5 tuổi. Tuy nhiên
nghiên cứu của Kent G. và Holmes A. V đánh giá về chương trình này chỉ
ra rằng chương trình WIC làm thúc đẩy việc sử dụng sữa công thức ở trẻ
em qua đó đặt trẻ em vào tình trạng nguy cơ cao đối với sức khỏe [108]. Tại
Philippines tỷ lệ NCBSMHT trong 4 tháng đầu giảm từ 47,3% năm 1998
xuống 40,1% năm
2008. Nguyên nhân chính là do ảnh hưởng của các thông điệp quảng cáo sữa
công thức và được bác sĩ khuyên nên dùng sữa công thức. Nghiên cứu

giành cho trẻ dưới 12 tháng tuổi Chính phủ đã thông qua Nghị định
số
21/2006/NĐ-CP cấm quảng cáo và bán các loại sữa cho trẻ dưới 12
tháng tuổi và thực phẩm bổ sung cho trẻ dưới 6 tháng tuổi, việc tiếp xúc
với gia đình của trẻ em dưới 12 tháng tuổi để tiếp thị, quảng cáo các sản
phẩm sữa công thức cũng không được cho phép, tuy nhiên các hãng sữa
lại lách luật bằng cách tiếp cận với các bác sĩ trong bệnh viện làm cầu
nối đối với gia đình trẻ nhỏ [47]. Theo đánh giá của Bộ Y tế kết hợp với
UNICEF và A&T về việc thực hiện Nghị định số 21 cho thấy các hãng
sữa đã vi phạm Nghị định này khi tiếp xúc với bà mẹ thông qua cán bộ bệnh
viện như bác sĩ, điều dưỡng để quảng cáo cho các sản phẩm sữa của mình,
có 8,6% bà mẹ nhận được các sản phẩm sữa khuyến mãi tại cơ sở y tế, trên
80% bà mẹ nhận được


tờ rơi quảng cáo sữa cho trẻ dưới 12 tháng tuổi từ nhân viên tiếp thị.
Ngoài ra có 32,4% các cửa hàng bán sữa cho trẻ dưới 12 tháng tuổi và chỉ
có 48% nhãn sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ dưới 6 tháng tuổi tuân thủ
tất cả các quy định của Nghị định số 21. Các hãng sữa thường đưa ra những
tuyên bố không chính xác về tác dụng của sữa công thức so với sữa mẹ,
không đáp ứng được các yêu cầu về nhãn mác và thường xuyên có các
chương trình khuyến mãi như tặng quà, giảm giá sản phẩm nhằm khuyến
khích bà mẹ sử dụng sữa cho trẻ dưới 6 tháng tuổi [148].
Trong khi các truyền thông về các sản phẩm dinh dưỡng cho bà mẹ
được đăng tải rộng rãi trên mọi phương tiện truyền thông đại chúng thì các
thông tin về NCBSM vẫn còn rất hạn chế. Kết quả nghiên cứu A&T
cho thấy tivi là phương tiện truyền thông quan trọng về NCBSM tại Việt
Nam nhưng các thông điệp về NCBSM mà bà mẹ nhận được là chưa toàn
diện và cần tăng cường tiếp cận những thông điệp này [63]. Hơn nữa, các
công ty sữa đã tiếp cận được số lượng lớn các bà mẹ và họ đang có các chương


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status