SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO LÂM ĐỒNG
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG BÙI THỊ XUÂN
GIẢI PHÁP HỮU ÍCH
XÂY DỰNG BÀI TẬP HÓA HỌC LỚP 12
GẮN LIỀN VỚI THỰC TIỄN
NĂM HỌC: 2017- 2018
GIÁO VIÊN: NGUYỄN HỒ BẢO TRÂM
TỔ
: HÓA HỌC
1
A. MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong quá trình dạy và học môn Hóa học, bên cạnh việc nắm vững lý thuyết,
bài tập hóa học được coi là một phần không thể thiếu trong việc củng cố kiến thức, rèn
luyện những kĩ năng cơ bản cho học sinh. Thông qua việc giải bài tập, học sinh rèn
luyện tính tích cực, trí thông minh, tự lập, sáng tạo, bồi dưỡng hứng thú trong học tập
môn Hóa học.
Giải bài tập hóa học là lúc học sinh hoạt động tư lực để củng cố và trau dồi kiến
thức hóa học của mình. Bài tập hóa học cung cấp cho học sinh không chỉ kiến thức,
mà là cả con đường để dành lấy kiến thức, cả niềm vui sướng của sự phát hiện ra kiến
thức. Do vậy, bài tập hóa học vừa là mục đích, vừa là nội dung, lại vừa là phương pháp
dạy học hiệu nghiệm. Thông qua việc giải bài tập có những điều kiện và yêu cầu trong
Chọn một số bài tập hóa học gắn liền với thực tiễn và đưa ra phương pháp giải
chúng để nâng cao tính sáng tạo, và tạo hứng thú học tập cho học sinh THPT.
III. NHIỆM VỤ CỦA GIẢI PHÁP
-
Học sinh biết được cơ sở của phương pháp giải bài tập gắn liền với thực tiễn.
-
Thông qua hệ thống bài tập đưa ra làm cho học sinh hiểu, rèn luyện và vận
dụng chúng khi làm các bài tập tự luận, trắc nghiệm khách quan.
3
B. NỘI DUNG
I. Nguyên tắc
1. Cơ sở
a) Cơ sở lý thuyết: các kiến thức hóa học trong chương trình hóa học phổ thông.
Các kiến thức, kỹ năng về cơ sở hóa học chung như cấu tạo nguyên tử, liên kết hóa
học, bảng tuần hoàn, lý thuyết phản ứng hóa học, thuyết điện ly, về các nhóm nguyên
tố phi kim, kim loại, các chất hữu cơ trong chương trình hóa học phổ thông hiện nay.
b) Cơ sở thực nghiệm
- Các vấn đề trong thực tiễn đời sống, trong thực nghiệm, thực hành của cá nhân học
sinh, của cộng đồng, của xã hội... liên quan đến kiến thức hóa học THPT.
- Một số năng lực cơ bản, phổ thông (như: năng lực tư duy khoa học, năng lực toán
học, đọc hiểu, kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn... để phát hiện và giải quyết
các vấn đề) cần thiết cho cuộc sống tương lai của HS cần được rèn luyện và phát huy.
2. Nguyên tắc thiết kế bài tập hóa học gắn với thực tiễn
a) Ngữ cảnh
dục ở trường THPT nói chung.
3. Thiết kế hệ thống bài tập theo mục tiêu
Xây dựng các bài tập tương tự các bài tập đã có. Khi một bài tập có nhiều tác
dụng đối với HS, ta có thể dựa vào bài tập đó để tạo ra những bài tập khác tương tự
theo các cách như:
- Giữ nguyên hiện tượng và chất tham gia phản ứng, chỉ thay đổi lượng chất.
- Giữ nguyên hiện tượng và thay đổi chất tham gia phản ứng.
- Thay đổi các hiện tượng phản ứng và chất phản ứng, chỉ giữ lại những dạng phương
trình hóa học cơ bản.
- Từ một bài toán ban đầu, ta có thể đảo cách hỏi giá trị của các đại lượng đã cho như:
khối lượng, số mol, thể tích, nồng độ ...
- Thay các số liệu bằng chữ để tính tổng tổng quát.
- Chọn những chi tiết hay ở các bài tập để phối hợp lại thành bài mới.
- Xây dựng bài tập hoàn toàn mới.
5
Thông thường, có hai cách xây dựng bài tập mới là:
+ Dựa vào tính chất hóa học và các quy luật tương tác giữa các chất để đặt ra bài tập
mới
+ Lấy những ý tưởng, nội dung, những tình huống hay và quan trọng ở nhiều bài, thay
đổi nội dung, cách hỏi, số liệu ....để phối hợp lại thành bài mới.
4. Kiểm tra thử
Thử nghiệm áp dụng bài tập hóa học đã thiết kế trên đối tượng HS thực nghiệm
để kiểm tra hệ thống bài tập đã thiết kế về tính chính xác, khoa học, thực tế của kiến
thức hóa học, toán học cũng như độ khó, độ phân biệt, .....cũng như tính khả thi, khả
năng áp dụng của bài tập.
5. Chỉnh sửa
Thay đổi, chỉnh sửa nội dung, số liệu, tình huống ... trong bài tập sau khi đã cho
kiểm tra thử sao cho hệ thống bài tập có tính chính xác, khoa học về mặt kiến thức, kĩ
Không sử
dụng
0%
11,1%
55,6%
0%
77,8%
0%
Bảng 2. Khảo sát tình hình sử dụng bài tập hóa học gắn liền thực tiễn trong dạy
học hóa học lớp 12 theo các mức độ nhận thức của học sinh.
Rất
thường
Thường Đôi khi
xuyên
sử
xuyên
Chỉ yêu cầu học sinh tái hiện kiến thức để trả
lời câu hỏi lý thuyết.
Yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức để giải
thích được các sự kiện, hiện tượng của câu hỏi
22,2%
44,4%
33,3%
lý thuyết.
Yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức hóa học
để giải thích những tình huống xảy ra trong
thực tiễn.
Yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức, kỹ năng
hóa học để giải quyết những tình huống thực
tiễn hoặc để thực hiện một công trình nghiên
cứu khoa học nhỏ, đơn giản, đề ra kế hoạch
hành động cụ thể, viết báo cáo.
Từ Bảng 1 và Bảng 2 nhận xét:
Đa số giáo viên đều có sử dụng bài tập hóa học gắn với thực tiễn dạy học.
Nhưng việc đưa dạng bài tập này vào trong dạy học chưa thường xuyên, tập trung chủ
yếu vào các hoạt động dạy bài mới và chỉ yêu cầu học sinh tái hiện kiến thức để trả lời
câu hỏi lý thuyết..
Dạng bài tập đưa vào chủ yếu ở mức độ tái hiện kiến thức và vận dụng kiến
thức để giải thích các sự kiện, hiện tượng của câu hỏi lý thuyết ( mức độ biết). Còn ở
mức độ cao hơn thì ít sử dụng.
Một số lý do được quý thầy cô đưa ra như sau: không có nhiều tài liệu, không
có thời gian tìm kiếm tài liệu; trong các kỳ kiểm tra, kỳ thi không yêu cầu có nhiều câu
hỏi có nội dung gắn với thực tiễn; thời lượng tiết học ít, không cho phép đưa nhiều
kiến thức bổ sung cho bài dạy; trình độ học sinh còn hạn chế; các đề tuyển sinh có hỏi
về thực tiễn nhưng số câu hỏi rất ít; chỉ sử dụng khi bài học có nội dung liên quan; nếu
học sinh chỉ làm dạng bài tập này thì không có thời gian luyện tập bài tập khác.
7
2.
CH3O
CH = CH- COONa
3.
CH3O
COONa
A.
chỉ có 1 đúng.
B.
chỉ có 2 đúng.
8
C.
1, 3 đúng.
D.
1, 2 đúng.
CH
CH3
(Acarol)
Br
Đáp án D
Câu 3. Benzocain là một chất gây tê cục bộ, thường được dùng trong kem làm rám
da nhằm làm giảm bớt cơn đau.
CH3-CH2-O-C-
NH2
O
Khi nung nóng benzocaine với lượng dư axit clohidric đậm đặc, sản phẩm cuối cùng
là chất nào sau đây?
A.
CH3-CH2-O-C-
+
NH3
C.
CH3-CH2-O-C-
A.
B.
C.
D.
Axit cacboxylic.
Ancol.
Este.
Anđêhit.
Đáp án C
4.2.Tinh dầu chuối có khả năng phản ứng với các chất nào sau đây trong điều kiện
thích hợp :
A.
B.
C.
D.
Dung dịch NaCl
Dung dịch KOH
Dung dịch nước brom.
Dung dịch AgNO3 /NH3.
Đáp án B
4.3.Cho các nhận định sau:
1. Tinh dầu chuối dùng trong thực phẩm vì có mùi thơm và nhiệt độ sôi thấp.
1. Các hợp chất có cùng số nguyên tử cacbon thì thì este có nhiệt độ sôi cao nhất
so với ancol, axit .
2. Tinh dầu chuối tan trong nước.
3. Tinh dầu chuối có tên là Isoamyl axetat.
chuyển hóa thành đường mạch nha (đó là Mantozơ – một đồng phân của đường
saccarozơ). Bấy giờ đại mạch biến thành dịch men, sau đó lên men biến thành bia.
11
Khi đại mạch lên men sẽ cho lượng lớn đường mantozơ, chỉ có một phần mantozơ
chuyển thành rượu, phần mantozơ còn lại vẫn tồn tại trong bia. Vì vậy hàm lượng rượu
trong bia khá thấp. Độ dinh dưỡng của bia cao hay thấp có liên quan đến lượng đường.
Trong quá trình ủ bia, nếu trong 100ml dịch lên men có 12g đường người ta biểu diễn
độ đường lên men là bia 12o. Do đó bia có độ 14o có giá trị dinh dưỡng cao hơn bia
12o.
Áp dụng: Đây là vấn đề mà mọi người rất thường nhầm giữa độ rượu và độ đường về
những con số ghi trên những chai bia. Giáo viên đặt câu hỏi trên sau khi dạy xong bài:
Saccarozơ
Câu 3: Ông bà ta xưa nay luôn nhắc nhỡ con cháu câu: “ Nhai kỹ no lâu”. Tại sao
khi ăn cơm nhai kỹ sẽ thấy vị ngọt và no lâu ?
Giải thích: Cơm chứa một lượng lớn tinh bột, khi ăn cơm trong tuyến nước bọt của
người có các enzim. Khi nhai kỹ cơm trong nước bọt sẽ xảy ra sự thủy phân một phần
tinh bột thành mantozơ và glucozơ nên có vị ngọt:
Áp dụng: Giáo viên có thể đề cặp vấn đề trên ở phần nội dung phản ứng thủy phân của
tinh bột trong bài: Tinh bột nhằm cung cấp cho học sinh kiến thức cơ bản của sự
chuyển hóa tinh bột trong khi ăn. Học sinh cũng có thể kiểm nghiệm được trong khi
ăn.
Câu 4: Vì sao gạo nếp lại dẻo?
Giải thích: Tinh bột là hỗn hợp của hai thành phần: amilozơ và amilopectin. Hai loại
này thường không tách rời nhau được. Trong mỗi hạt tinh bột, amilopectin là vỏ bọc
nhân amilozơ. Amilozơ tan được trong nước còn amilopectin hầu như không tan, trong
nước nóng amilopectin trương lên tạo thành hồ. Tính chất này quyết định đến tính dẻo
của hạt có tinh bột.
HO
Phát biểu nào sau đây về hợp chất này là đúng ?
1. Một mol chất này có thể phản ứng với 3 mol NaOH tạo thành muối.
2. Nó có thể tạo thành một ion lưỡng cực trong dung dịch.
3. Nó tham gia phản ứng oxi hóa Cu(OH)2 trong môi trường kiềm có đun
nóng.
A.
1, 2, 3 đúng.
B.
1, 2 đúng.
13
C.
2, 3 đúng.
D.
chỉ có 1 đúng.
Đáp án B
Câu 2: Tại sao khi ăn thịt, cá người ta thường chấm vào nước mắm giấm hoặc
chanh thì thấy ngon và dễ tiêu hóa hơn ?
Giải thích: Trong môi trường axit protein trong thịt, cá dễ thủy phân hơn nên khi
chấm và nước mắm giấm hoặc chanh có môi trường axit thì quá trình nhai protein
N
C
C
R2
O
H
R3
N
C
C
H
O
C.
Đáp án: D
Câu 4: Có nên uống sữa hay sữa đậu nành khi đói bụng không?
Nhiều người có thói quen khi thấy bụng đói là uống sữa để “tiếp thêm năng lượng”,
C
C
C
C
H
C O
H
C O H
C O
O
O
O
CH3
CH3
CH3
B.
Được tạo thành từ quá trình trùng ngưng.
C.
Năng lượng phóng thích ra khi hình thành 2 liên kết đơn C – C bằng với
sự hình thành một liên kết đôi C = C.
D.
Nó tham gia phản ứng với NaHCO3.
Đáp án A
Câu 3. Poly(tetrafloeten) – tơ teflon là một polime thường được dùng để phủ một lớp
trong các đồ dùng nhà bếp làm cho các đồ dùng này không dính khi ráng, chiên xào.
Một trong các bước sản xuất polime này trong công nghiệp là
2 CHClF2 (k)
C2F4(k) + 2 HCl(k) ; ∆H = +128 kJ.mol-1
Những điều kiện nào sau đây sẽ làm cho cân bằng hoá học chuyển về bên phải ?
1) Nhiệt độ cao.
2) Áp suất cao.
3) Sử dụng một chất xúc tác.
A. chỉ 1 đúng.
B. chỉ 3 đúng.
Câu 1. Tại sao vỏ tàu bằng thép bị ăn mòn ở khu vực mạn tàu tiếp xúc với nước biển
và không khí? Vì sao để bảo vệ vỏ tàu khỏi bị ăn mòn ta thường gắn tấm kẽm vào vỏ
tàu?
Giải thích:
17
H×nh 5.14. C¬ chÕ ¨n mßn ®iÖn ho¸
Khi tiếp xúc với nước biển (dung dịch chất điện li), vỏ tàu (Fe- C) tạo thành nhiều cặp
pin volta trong đó sắt hoạt động hơn là cực âm, C là cực dương, nước biển/ không khí
ẩm là chất điện li. Khi pin hoạt động: ở cực âm xảy ra sự oxi hóa
Fe – 2e → Fe2+
Ở cực dương xảy ra sự khử: O2 + 2H2O+ 4e→4OHIon Fe2+ tan vào dung dịch chất điện li có hòa tan khí oxi. Tại đây Fe 2+ tiếp tục
bị oxi hóa, dưới tác dụng của ion OH- tạo ra gỉ sắt có thành phần chủ yếu là
Fe2O3.nH2O.
Khi có Zn thì Zn-Fe –dung dịch điện li tạo thành pin volta. Zn hoạt động mạnh
hơn nên nó là cực âm và Zn – 2e → Zn2+.Như vậy Zn bị ăn mòn còn Fe được bảo vệ.
Áp dụng:
Đây là một hiện tượng có ý nghĩa rất lớn trong thực tiễn. Bài tập này có thể
được đưa ra trong phần ăn mòn điện hóa hoặc để dùng trong ôn tập. Để làm được bài
tập này vận dụng những kiến thức về ăn mòn điện hóa và dãy hoạt động hóa học của
kim loại.
Câu 2: Cách bảo vệ cửa đập nước bằng thép
Tuần qua, trường THPT A có tổ chức
chuyến tham quan thực tế đến đập thủy điện Trị An cho
học sinh toàn trường. Mỗi học sinh đều làm một bài thu
hoạch sau chuyến đi. Có một bài của bạn học sinh lớp 10
Hình 2.35. Cửa đập Trị An
phát hiện sau đó 2250 năm. Đó là vì binh lính uống nước trong các cốc bằng thiếc còn
các sĩ quan uống nước đựng trong các cốc bằng bạc.Tại sao khi dùng cốc bạc, các
cấp chỉ huy của quân đội lại ít bị mắc bệnh đường ruột hơn các binh lính trong cuộc
hành quân ấy? Tại sao các nhà quý tộc ở châu Âu từ cổ xưa đã sử dụng những bộ đồ
ăn như thìa, nĩa, cốc bằng bạc?
Giải thích
Bạc hoà tan vào nước mặc dù rất ít, nhưng dung dịch chứa lượng nhỏ ion Ag +
trong nước có tính chất kì lạ là diệt được các vi khuẩn có hại có sẵn trong nước gây
nên căn bệnh đường ruột. Vì các cấp sĩ quan trong đội quân đã dùng cốc Ag để uống
nước nên hầu hết vi khuẩn có hại đã bị tiêu diệt. Trong khi thiếc không có tính sát
trùng.
19
Chính vì thế mà ở Ai Cập, người ta áp miếng bạc lên vết thương để sát trùng,
hay người Mông Cổ đựng thức ăn trong đồ bạc. Ag có tính sát khuẩn rất mạnh. Tuy
bạc chỉ tan vào nước thành Ag + với lượng rất nhỏ nhưng cũng đủ làm sạch chỗ nước
đó.
Câu 5. Chắc các bạn đã biết ở Myanma có các ngôi chùa mà mái của nó được dát
toàn bằng vàng. Chắc là phải tốn vàng lắm nhỉ. Thực tế thì cũng không tốn quá nhiều
vàng bởi tính chất đặc biệt mềm dẻo của vàng. Một gam vàng có thể kéo thành sợi dài
3,0 km, lá vàng có thể dát mỏng tới 0,0001mm, nghĩa là mảnh hơn sợi tóc người 500
lần. Một số kim loại chuyển tiếp như Cu, Ag cũng có tính dẻo cao. Chúng có đặc điểm
gì chung? Đố các bạn biết tại sao chúng lại có tính chất đặc biệt mềm dẻo như vậy ?
Giải thích
Tính dẻo dai có một không hai của vàng kim loại là kết quả của cấu tạo electron
đặc biệt của vàng. Có lẽ trong kim loại tồn tại đồng thời cả hai cấu hình electron của
nguyên tử : 5d106s1 và 5d96s2 , chúng có năng lượng rất gần nhau, electron có thể nhảy
dễ dàng từ obitan này sang obitan khác làm cho hệ electron trong kim loại trở nên linh
động, Đây là nguyên nhân của sự "bôi trơn tốt electron " gây ra tính dẻo dai đặc biệt
Lưu ý: Còn có thể sử dụng bài tập này trong chương Halogen ( Hóa 10)
Câu 2. Sau khi thu hoạch lúa, một lượng lớn rơm, rạ được tận dụng cho nhiều mục
đích khác nhau như trồng nấm, làm thức ăn cho trâu, bò, ủ trong bể biogas, hay đốt
lấy tro bếp trộn với phân chuồng để bón cho cây trồng. Tại sao khi bón phân chuồng
hoặc phân bắc, người nông dân thường trộn thêm tro bếp?
Giải thích
Về phương diện hóa học, khi bón phân chuồng hoặc phân bắc thì người nông
dân thường trộn thêm tro bếp vì:
Trong tro bếp có chứa các nguyên tố kali, magie, canxi và một số nguyên tố vi
lượng nên khi bón phân chuồng hoặc phân bắc khi trộn thêm tro bếp sẽ giúp bổ sung
đầy đủ lượng dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng.
Một lý do khác khi bón tro bếp cho cây trồng dựa vào khả năng điều chỉnh pH
của tro bếp. Có những loại cây trồng không thích hợp với đất chua, bón tro bếp làm
giảm độ chua của đất.
Hơn nữa khi bón cùng với tro bếp, tro sẽ làm cho phân chuồng trở nên tơi xốp,
cây cối dễ hấp thụ hơn.
21
Áp dụng
Để giải bài tập này, học sinh cần nắm được thành phần hóa học của tro bếp, và
những nguyên tố dinh dưỡng chủ yếu của cây trồng.
Lưu ý: Còn có thể sử dụng bài tập này trong chương Nitơ - Photpho ( Hóa 11)
Câu 3. Như ta đã biết, khi đi qua các lò vôi ta thấy rất nóng. Vậy theo các bạn thì
phản ứng nung vôi: CaCO3
→ CaO + CO2 là thu nhiệt hay toả nhiệt?
Giải thích
Phản ứng nhiệt phân CaCO3 là một phản ứng thuận nghịch, chiều thuận là một
+
2NaOH.
Mg(OH)2 (trắng)
Vì vậy khi điện phân dung dịch muối ăn, người ta phải tinh chế muối ăn thật
tinh khiết.
Áp dụng
22
Tùy mức độ học sinh ta có thể đưa câu hỏi trực tiếp hay là có gợi ý, dẫn dắt
trong câu hỏi. Để giải bài tập này, học sinh cần hiểu được các chất có thể có trong
muối ăn chưa tinh chế, và phải suy luận được chất kết tủa trong môi trường kiềm khi
điện phân là Mg(OH)2.
Câu 5. Nước ngầm hay nước bề mặt ở vùng đá vôi khi sử dụng trong sinh hoạt và
trong công nghiệp có nhiều điều bất lợi. Một trong số những bất lợi đó là hiện tượng
khi đun sôi nước rồi để nguội thấy xuất hiện một lớp cặn trắng lắng xuống đáy ấm
đun. Trong công nghiệp, nếu sử dụng loại nước này cho nồi hơi cao áp có thể dẫn đến
hiện tượng lãng phí năng lượng, thậm chí có thể gây tai nạn khi vỡ nồi hơi.
Giải thích hiện tượng bằng kiến thức hóa học?
Giải thích
Trong nước sinh hoạt ở một số vùng có độ cứng tạm thời cao, trong dung dịch
chứa nhiều muối hiđrocacbonat của Mg2+ và Ca2+. Khi đun nóng, muối hiđrocacbonat
bị phân hủy tạo thành MgCO 3 và CaCO3 kết tủa tạo thành lớp cặn bám dưới đáy ấm
đun nước hay đáy nồi hơi cao áp.
Mg2+ +
Để giải bài tập này, học sinh cần có kiến thức về nước cứng, đây đơn thuần chỉ
là một bài tập vận dụng kiến thức đã học, học sinh hoàn toàn có thể làm được.
Câu 6. Trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, truyện Trầu, cau là một câu chuyện
cảm động về tình cảm anh, em, vợ chồng. Ăn trầu đã trở thành nét văn hóa truyền
thống của người Việt nam. Những người ăn trầu thường có hàm răng rất chắc và
bóng. Hãy giải thích tại sao?
23
Giải thích
Quá trình hình thành men răng:
2Ca2+ +
PO43- +
OH-
Ca2(PO4)OH
Trong vôi có Ca2+ và OH- nên cân bằng trên chuyển dịch theo chiều thuận tạo
men răng.
Tương tự như vậy khi ta đánh răng, trong thành phần kem đánh răng có CaF 2
nên cũng góp phần tạo thành men răng. Ở đây F- thay thế vai trò của OH2Ca2+ +
Câu 7.
PO43- +
F-
Quá trình này xảy ra rất chậm, trải qua thời gian hàng triệu năm, thạch nhũ dần
hình thành từ trên hang đá xuống, Mặt khác, nước chứa Ca(HCO 3)2 còn có thể rơi
xuống phía dưới rồi mới phân hủy, nên hình thành thạch nhũ mọc từ phía dưới lên.
Khi đi sâu vào trong hang thì sự lưu thông không khí kém, do tỷ khối cao làm
nên CO2 tích tụ lớn, nên càng làm giảm nồng độ O2,. Vì vậy nên ta cảm thấy khó thở.
Áp dụng
Để giải bài tập này, học sinh cần vận dụng được tính chất hóa học của muối
canxi cacbonat và canxi hiđrocacbonat, tính chất vật lý của khí cacbonic và tác dụng
sinh học của nó.
Câu 8. Hiện nay Việt Nam vẫn có đến 70% cư dân sống bằng nghề nông. Chúng ta có
thể tự hào là một trong những nước xuất khẩu gạo, hồ tiêu, cà phê, cá tra, cá basa
25