Khoa Kế toán – Kiểm toán Luận văn tốt nghiệp
TÓM LƯỢC
Trong giai đoạn hiện nay, một doanh nghiệp phát triển khi doanh
nghiệp đó có khả năng chiếm lĩnh thị trường, đáp ứng tốt nhu cầu của thị
trường. Để có được điều đó, doanh nghiệp phải xây dựng cho mình một hệ
thống các nhà cung cấp phong phú về mặt hàng và đảm bảo về chất lượng
thì mới có thể đứng vững, khẳng định vị thế trên thương trường. Tuy nhiên
việc quản lý, theo dõi một hệ thống lớn các nhà cung cấp không phải là điều
dễ dàng. Hơn nữa, việc cân đối giữa các khoản phải trả nhà cung cấp và các
khoản phải thu của khách hàng là điều cần quan tâm nếu doanh nghiệp
muốn đảm bảo sự cân bằng trong cán cân thanh toán. Nhằm thực hiện tốt
những yêu cầu này, doanh nghiệp đã sử dụng một trong những công cụ đắc
lực đó là kế toán. Công tác kế toán nói chung và kế toán các khoản thanh
toán với nhà cung cấp nói riêng đóng vai trò quan trọng trong quản lý tài
chính của doanh nghiệp.
Xuất phát từ thực tiễn của Công ty XNK Intimex, em đã lựa chọn đề
tài “Kế toán các khoản thanh toán với nhà cung cấp tại Công ty xuất nhập
khẩu Intimex” làm luận văn tốt nghiệp. Luận văn đã khái quát được các vấn
đề về lý thuyết và nghiên cứu thực trạng kế toán các khoản thanh toán với
nhà cung cấp tại Công ty xuất nhập khẩu Intimex. Trên cơ sở đó, luận văn
đã đánh giá được những thành công cũng như những hạn chế trong công tác
kế toán các khoản thanh toán với nhà cung cấp. Dựa trên kết quả điều tra
thực tế cùng với những dữ liệu thu thập được tại Công ty, luận văn đã đề
xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa công tác kế toán các khoản
thanh toán với nhà cung cấp.
Sinh viên: Đỗ Thị Thanh Ngân Lớp K41D4
Khoa Kế toán – Kiểm toán Luận văn tốt nghiệp
LỜI CAM ĐOAN
Họ và tên: Đỗ Thị Thanh Ngân
Lớp: K41D4
Khoa: Kế toán – Kiểm toán
Phụ lục 2.1 Trình tự kế toán các khoản thanh toán với nhà cung cấp trong
trường hợp nhập khẩu trực tiếp
Phụ lục 2.2 Trình tự kế toán các khoản thanh toán với nhà cung cấp trong
trường hợp nhập khẩu ủy thác
Phụ lục 2.3 Hình thức kế toán Nhật ký chung
Phụ lục 2.4 Hình thức kế toán Nhật ký – sổ Cái
Phụ lục 2.5 Hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ
Phụ lục 2.6 Hình thức kế toán Nhật ký chứng từ
Phụ lục 2.7 Hình thức kế toán trên máy vi tính
Phụ lục 3.1 Phiếu điều tra và bảng tổng hợp phiếu điều tra
Phụ lục 3.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý
Phụ lục 3.3 Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán
Phụ lục 3.4 Mô hình phần mềm kế toán công ty
Phụ lục 3.5 Tình hình tài chính và hoạt động sản xuất kinh doanh
Phụ lục 3.6 Trình tự kế toán các khoản thanh toán với nhà cung cấp trong
nước, ngoài nước
Phụ lục 3.7 Hợp đồng mua bán hàng hóa xuất khẩu
Phụ lục 3.8 Biên bản giao nhận hàng
Phụ lục 3.9 Hóa đơn GTGT
Phụ lục 3.10 Phiếu chi
Phụ lục 3.11 Sổ chi tiết, sổ Cái, sổ Tổng hợp TK 3311_Phải trả cho người bán
hàng XK
Phụ lục 3.12 Bộ chứng từ nhập khẩu
Phụ lục 3.13 Sổ chi tiết, sổ Cái, sổ Tổng hợp TK 3312_Phải trả cho người bán
hàng NK
Phụ lục 4.1 Sổ chi tiết TK 007_Ngoại tệ các loại
Sinh viên: Đỗ Thị Thanh Ngân Lớp K41D4
Khoa Kế toán – Kiểm toán Luận văn tốt nghiệp
Phụ lục 4.2 Bảng theo dõi khoản nợ phải trả nhà cung cấp
Phụ lục 4.3 Sổ chi tiết TK 331 theo nhà cung cấp
thông tin tài chính đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp nhà quản trị
có được quyết định đúng đắn, đem lại lợi ích cho doanh nghiệp. Để hoàn
thành tốt vai trò đó, doanh nghiệp phải không ngừng hoàn thiện công tác kế
toán nói chung và kế toán các khoản thanh toán với nhà cung cấp nói riêng.
Đặc biệt, trong giai đoạn phát triển như hiện nay, số lượng các nhà cung cấp
ngày càng nhiều nên việc cung cấp thông tin nhanh chóng, chính xác và đầy
Sinh viên: Đỗ Thị Thanh Ngân Lớp K41D4
1
Khoa Kế toán – Kiểm toán Luận văn tốt nghiệp
đủ là ưu tiên hàng đầu. Tổ chức tốt công tác kế toán sẽ giúp nhà quản trị
quản lý, kiểm soát tốt khả năng tài chính, nâng cao được uy tín đối với các
nhà cung cấp về khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, thanh
toán trong các giao dịch kinh tế đóng một vai trò rất quan trọng và diễn ra
thường xuyên. Trong mọi giao dịch kinh tế thì với tâm lý chung là ai cũng
muốn thu lợi nhiều nhất cho mình nên các bên đều muốn chiếm dụng vốn
của phía còn lại. Và thực tế, cũng không phải bất cứ ai mua hàng cũng có
khả năng thanh toán ngay. Do đó với một doanh nghiệp chỉ bán hàng theo
phương thức thanh toán ngay thì không thể cạnh tranh được trên thị trường.
Nhưng nếu nợ phải thu bị thanh toán chậm thì cũng sẽ làm giảm vòng quay
của vốn kinh doanh và hiệu quả kinh doanh do đó cũng sẽ bị ảnh hưởng.
Như vậy, công tác kế toán các khoản thanh toán tốt sẽ góp phần giải quyết
các khoản nợ phải trả, nâng cao số vòng quay vốn, tạo ra hiệu quả sản xuất
kinh doanh, ổn định tình hình tài chính cũng như nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn của doanh nghiệp. Nhờ đó, việc thanh toán sẽ được thực hiện nhanh
chóng, hợp lý, tạo sự chủ động về tài chính cho doanh nghiệp. Có thể nói, kế
toán nói chung và kế toán các khoản thanh toán với nhà cung cấp nói riêng
đóng vai trò như một công cụ tài chính hữu ích cho các doanh nghiệp.
1.2. Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài:
* Đối tượng nghiên cứu: lý luận về kế toán các khoản thanh toán với
nhà cung cấp và thực trạng kế toán các khoản thanh toán với nhà cung cấp
1.5. Kết cấu:
Luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu kế toán các khoản thanh toán với
nhà cung cấp trong doanh nghiệp xuất nhập khẩu
Sinh viên: Đỗ Thị Thanh Ngân Lớp K41D4
3
Khoa Kế toán – Kiểm toán Luận văn tốt nghiệp
Chương 2: Tóm lược một số vấn đề lý luận cơ bản về kế toán các
khoản thanh toán với nhà cung cấp trong doanh nghiệp xuất nhập khẩu
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và thực trạng kế toán các khoản
thanh toán với nhà cung cấp tại công ty xuất nhập khẩu Intimex
Chương 4: Kết luận và các giải pháp hoàn thiện kế toán các khoản
thanh toán với nhà cung cấp tại công ty xuất nhập khẩu Intimex
Sinh viên: Đỗ Thị Thanh Ngân Lớp K41D4
4
Khoa Kế toán – Kiểm toán Luận văn tốt nghiệp
CHƯƠNG 2: TÓM LƯỢC MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN
CÁC KHOẢN THANH TOÁN VỚI NHÀ CUNG CẤP TRONG
DOANH NGHIỆP XUẤT NHẬP KHẨU
2.1. Một số định nghĩa và khải niệm cơ bản:
Trước khi đi vào cụ thể từng khái niệm, để phục vụ cho việc nghiên
cứu về kế toán các khoản thanh toán với nhà cung cấp, em đã sử dụng các
tài liệu sau:
• Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01: Chuẩn mực chung, Chuẩn
mực kế toán Việt Nam số 21: Trình bày báo cáo tài chính.
• Giáo trình Kế toán tài chính. Chủ biên: GS.TS Ngô Thế Chi, TS.
Trương Thị Thủy_ Học viện tài chính. NXB Tài chính năm 2008.
Trước hết là khái niệm nợ phải trả. Theo chuẩn mực kế toán Việt
Nam số 01 ( VAS 01 ), “nợ phải trả xác định nghĩa vụ hiện tại của doanh
nghiệp khi doanh nghiệp nhận về một tài sản, tham gia một cam kết hoặc
Trên đây là một số khái niệm cơ bản liên quan đến kế toán các khoản
thanh toán với nhà cung cấp. Các khái niệm này sẽ giúp cho chúng ta có
được cái nhìn tổng quát về vấn đề nghiên cứu.
2.2 Một số lý thuyết về kế toán các khoản thanh toán với nhà cung cấp
trong doanh nghiệp xuất nhập khẩu:
Kế toán các khoản thanh toán với nhà cung cấp cần tôn trọng một số
quy định sau:
- Theo QĐ 15/2006/QĐ-BTC của Bộ Tài chính, các khoản nợ phải trả
nhà cung cấp vật tư, hàng hóa,dịch vụ cần được hạch toán chi tiết cho từng
đối tượng phải trả. Những vật tư, hàng hóa, dịch vụ đã nhận, nhập kho
nhưng đến cuối tháng chưa có hóa đơn thì sử dụng giá tạm tính để ghi sổ và
phải điều chỉnh về giá thực tế khi nhận được hóa đơn hoặc thông báo giá
chính thức của người bán. Khi hạch toán chi tiết cần hạch toán rõ ràng các
Sinh viên: Đỗ Thị Thanh Ngân Lớp K41D4
6
Khoa Kế toán – Kiểm toán Luận văn tốt nghiệp
khoản chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán, giảm giá hàng bán của
nhà cung cấp ngoài hóa đơn mua hàng.
- Trong quan hệ mua bán, trao đổi, đặc biệt là doanh nghiệp hoạt
động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu thì việc phát sinh các nghiệp vụ kinh tế
bằng ngoại tệ sẽ diễn ra thường xuyên. Do đó, việc hạch toán các khoản
bằng ngoại tệ cần được thực hiện theo đúng quy định, thuận tiện cho việc
kiểm tra, theo dõi. Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 10 (VAS10):
“Ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá hối đoái, khi phát sinh các nghiệp vụ
kinh tế bằng ngoại tệ phải được ghi sổ bằng Đồng Việt Nam, hoặc bằng đơn
vị tiền tệ chính thức sử dụng trong kế toán theo tỷ giá giao dịch ( đối với bên
Có tài khoản nợ phải trả ) hoặc theo tỷ giá ghi trên sổ kế toán ( đối với bên
Nợ tài khoản nợ phải trả ). Cuối năm tài chính các số dư nợ phải trả có gốc
ngoại tệ phải đánh giá lại theo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường
ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời
+ Đề tài luận văn “Hoàn thiện phương pháp kế toán nghiệp vụ mua
hàng và thanh toán tiền hàng tại Công ty TNHH đầu tư thương mại và XNK
Hà Nội trong điều kiện vận dụng Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam”
của Nguyễn Bích Thuận, trường ĐH Thương Mại, năm 2007.
+ Đề tài luận văn “ Hoàn thiện kế toán nghiệp vụ mua nguyên vật liệu
và thanh toán tiền hàng tại công ty cổ phần xây lắp điện Hải Phòng” của
Dương Thị Mai Hương, trường ĐH Thương Mại, năm 2007.
Nhìn chung, các đề tài trên đã đề cập đến nhiều vấn đề liên quan đến
hoạt động mua hàng và thanh toán tiền hàng của các doanh nghiệp. Trên cơ
sở lý luận về vấn đề nghiên cứu, các đề tài đã đi sâu tìm hiểu thực trạng
doanh nghiệp và có những biện pháp hoàn thiện công tác kế toán một cách
cụ thể, chi tiết, có tính thực tiễn cao đối với những hạn chế của mỗi doanh
nghiệp. Tuy nhiên, các đề tài mới chỉ tập trung chủ yếu vào nghiên cứu kế
Sinh viên: Đỗ Thị Thanh Ngân Lớp K41D4
8
Khoa Kế toán – Kiểm toán Luận văn tốt nghiệp
toán nghiệp vụ mua hàng mà chưa chú trọng nhiều đến kế toán thanh toán
với nhà cung cấp. Trong khi đó, kế toán các khoản thanh toán với nhà cung
cấp cũng đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến cán cân thanh
toán, vòng quay vốn chậm, tác động đến kết quả hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp. Do đó cần thiết phải có những đề tài nghiên cứu cụ thể hơn
về vấn đề này.
2.4. Nội dung kế toán các khoản thanh toán với nhà cung cấp:
2.4.1 Đặc điểm các nghiệp vụ thanh toán:
Thanh toán là việc chuyển dịch một lượng giá trị từ chủ thể này sang
chủ thể khác bằng những công cụ và phương tiện thanh toán thích hợp.
2.4.1.1. Hình thức thanh toán:
* Thanh toán bằng tiền mặt: là hình thức thanh toán trong đó bên mua
và bên bán trực tiếp sử dụng tiền mặt để trao đổi, mua bán.
* Thanh toán không dùng tiền mặt: là hình thức thanh toán trong đó
Thư tín dụng không thể huỷ ngang được xác nhận; Thư tín dụng không thể
huỷ ngang, không thể truy đòi.
Ngoài những hình thức thanh toán trên, doanh nghiệp còn có thể áp
dụng các hình thức sau: thanh toán bù trừ, thanh toán nhờ thu, thanh toán
theo hình thức kỳ phiếu, thanh toán chuyển tiền,…Tùy loại hình kinh doanh
mà doanh nghiệp có thể áp dụng những phương thức phù hợp.
2.4.1.3. Thời hạn thanh toán:
Doanh nghiệp lựa chọn cho thời điểm thanh toán sao cho phù hợp với
đặc điểm kinh doanh và theo yêu cầu từ phía nhà cung cấp. Có 3 loại hình
thức:
- Thanh toán trả trước: người mua đặt tiền hàng trước cho người bán
trước khi bắt đầu nghiệp vụ trao đổi. Nghiệp vụ này thường diễn ra khi 2
bên đối tác mới làm ăn với nhau, chưa có sự hiểu biết lâu dài về nhau, hoặc
Sinh viên: Đỗ Thị Thanh Ngân Lớp K41D4
10
Khoa Kế toán – Kiểm toán Luận văn tốt nghiệp
đối với những hợp đồng có giá trị lớn, hoặc loại hàng hoá đặc biệt yêu cầu
sự chắc chắn từ phía người mua, …
- Thanh toán trả ngay: là việc người mua thanh toán tiền cho người
bán ngay khi có sự chuyển giao hàng hoá từ phía người bán sang người
mua. Hình thức này chỉ phù hợp với những giao dịch giá trị nhỏ.
- Thanh toán trả sau: là việc người mua thanh toán cho người bán sau
khi đã nhận đủ hàng một thời gian. Đây là hình thức thanh toán mà người
mua chiếm dụng vốn của người bán, vì vậy phải có kèm một số điều kiện về
tín dụng khác, bên bán phải có các quy định chặt chẽ trong việc xem xét về
phía đối tác để ra quyết định bán chịu và có biện pháp thu hồi nợ.
2.4.2. Kế toán các khoản thanh toán với nhà cung cấp:
2.4.2.1. Chứng từ sử dụng:
Theo QĐ 15/2006/QĐ-BTC của Bộ Tài chính, chứng từ phản ánh các
khoản phải trả sử dụng trong quá trình hạch toán ban đầu kế toán các khoản
khoản nợ phải trả của doanh nghiệp cho người bán vật tư, hàng hóa, người
cung cấp dịch vụ theo hợp đồng kinh tế đã ký kết. Tài khoản này cũng được
dùng để phản ánh tình hình thanh toán về các khoản nợ phải trả cho người
nhận thầu xây lắp chính, phụ.
* Kết cấu:
+ Bên Nợ: phản ánh số tiền đã trả hoặc ứng trước cho nhà cung cấp;
số tiền người bán chấp nhận giảm giá hàng hóa; chiết khấu thương mại và
chiết khấu thanh toán được người bán chấp thuận cho doanh nghiệp giảm trừ
vào khoản nợ phải trả cho người bán và giá trị vật tư, hàng hóa thiếu hụt,
kém phẩm chất khi kiểm nhận trả lại người bán
Sinh viên: Đỗ Thị Thanh Ngân Lớp K41D4
12
Khoa Kế toán – Kiểm toán Luận văn tốt nghiệp
+ Bên Có: phản ánh số tiền phải trả nhà cung cấp và điều chỉnh số
chênh lệch giữa giá tạm tính và giá thực tế của số vật tư, hàng hóa, dịch vụ
đã nhận
Số dư bên Có: số tiền còn phải trả nhà cung cấp.
Số dư bên Nợ (nếu có): số tiền đã ứng trước hoặc đã trả nhiều hơn số
phải trả cho nhà cung cấp theo chi tiết của từng đối tượng cụ thể.
Ngoài ra, kế toán các khoản thanh toán với nhà cung cấp còn sử dụng
các tài khoản liên quan như TK 111(1111,1112), 112(1121,1122), 144, 413.
* Trình tự hạch toán:
Doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp KKTX và tính thuế
GTGT theo phương pháp khấu trừ
Mua hàng nội địa:
- Mua vật tư, hàng hóa chưa trả tiền người bán về nhập kho, hoặc gửi
bán thẳng không qua kho thì giá trị vật tư, hàng hóa được ghi nhận vào bên
Có TK 331 tổng giá thanh toán, ghi Nợ các tài khoản liên quan ( TK 152,
153, 156, 133…).
- Mua TSCĐ chưa trả tiền cho người bán đưa vào sử dụng cho hoạt
- Khi tính thuế nhập khẩu, thuế TTĐB, thuế GTGT hàng nhập khẩu
phải nộp kế toán ghi Nợ TK 151, ghi Có TK 333_Thuế và các khoản phải
nộp Nhà nước ( 3332,3333,33312 ).
- Khi thanh toán tiền hàng cho chủ hàng, kế toán ghi Nợ TK 331_Phải
trả cho người bán theo TGGS và ghi Có TK 144_Cầm cố ký quỹ, ký cược
ngắn hạn theo TG ký quỹ, Có TK 1122. Chênh lệch tỷ giá cho vào TK 515
hoặc 635. Đồng thời, ghi Có TK 007_Ngoại tệ các loại.
Trình tự hạch toán nghiệp vụ nhập khẩu trực tiếp có thể được khái
quát bắng sơ đồ ( phụ lục 2.1 )
Nhập khẩu hàng hóa ủy thác: (Đơn vị giao ủy thác nhập khẩu)
Sinh viên: Đỗ Thị Thanh Ngân Lớp K41D4
14
Khoa Kế toán – Kiểm toán Luận văn tốt nghiệp
- Khi chuyển ngoại tệ cho đơn vị nhận ủy thác nhập khẩu mở thư tín
dụng, kế toán ghi Nợ TK 331 theo TGTT, ghi Có TK tiền (1112,1122) theo
TGXQ, chênh lệch cho vào TK515 hoặc TK635. Đồng thời ghi Có TK
007_Ngoại tệ các loại.
- Khi chuyển tiền Việt Nam đồng cho đơn vị nhân ủy thác nhập khẩu
nộp hộ thuế, kế toán ghi Nợ TK 331 ( Chi tiết cho từng đơn vị nhận ủy
thác ), ghi Có TK 1111,1121.
- Khi nhập kho hàng nhập khẩu do bên nhận ủy thác bàn giao lại, kế
toán ghi Nợ TK151, 156 theo TGTT, ghi Có TK 331 ( Chi tiết cho từng đơn
vị nhận ủy thác nhập khẩu ) theo TGGS.
+ Nếu đơn vị nhận ủy thác nhập khẩu nộp hộ các khoản thuế, kế toán
ghi Có TK 331, đồng thời ghi Nợ TK 151, 152, 156, 133,…
+ Nếu đơn vị nhận ủy thác nhập khẩu chỉ làm thủ tục kê khai thuế,
đơn vị ủy thác tự nộp thuế vào NSNN thì giá trị hàng nhập khẩu được phản
ánh như trường hợp đơn vị nhận uỷ thác nhập khẩu nộp hộ các khoản thuế
vào NSNN. Khi nộp các khoản thuế vào NSNN, ghi Nợ TK 331 (chi tiết cho
từng đơn vị nhận ủy thác nhập khẩu) và ghi Có TK 111, 112,…
- Hình thức kế toán Nhật ký chung.
- Hình thức kế toán Nhật ký – Sổ cái.
- Hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ.
- Hình thức kế toán Nhật ký chứng từ.
- Hình thức kế toán trên máy vi tính.
Hình thức kế toán Nhật ký chung:
Sinh viên: Đỗ Thị Thanh Ngân Lớp K41D4
16
Khoa Kế toán – Kiểm toán Luận văn tốt nghiệp
Đặc trưng cơ bản của hình thức Nhật ký chung là tất cả các nghiệp vụ
kinh tế, tài chính phát sinh đều phải được ghi vào sổ Nhật ký, mà trọng tâm
là sổ Nhật ký chung, theo trình tự thời gian phát sinh và theo nội dung kinh
tế (định khoản kế toán ) của nghiệp vụ đó. Sau đó, lấy số liệu trên các sổ
Nhật ký để ghi Sổ cái theo từng nghiệp vụ phát sinh.
Hình thức kế toán Nhật ký chung gồm các loại sổ chủ yếu sau: Sổ
Nhật ký chung, sổ Nhật ký đặc biệt; Sổ Cái; Các sổ, thẻ kế toán chi tiết.
Trình tự kế toán theo hình thức này được khái quát bằng sơ đồ ( phụ lục
2.3). Theo hình thức này, kế toán nghiệp vụ thanh toán với nhà cung cấp
được phản ánh vào các sổ sau:
+ Sổ tổng hợp:
• Sổ Cái TK 113: theo dõi tình hình thuế GTGT đầu vào
• Sổ Cái TK 111,112: theo dõi tình hình thanh toán
• Sổ Cái TK 331: theo dõi tình hình công nợ
+ Sổ thẻ kế toán chi tiết: sổ chi tiết thanh toán với nhà cung cấp, sổ
chi tiết công nợ, sổ theo dõi thuế GTGT đầu vào.
Hình thức kế toán Nhật ký – Sổ cái:
Đặc trưng cơ bản của hình thức Nhật ký – Sổ Cái là các nghiệp vụ
kinh tế, tài chính phát sinh được kết hợp ghi chép theo trình tự thời gian và
theo nội dung kinh tế ( theo tài khoản kế toán ) trên cùng một quyển sổ kế
toán tổng hợp duy nhất là sổ Nhật ký – Sổ cái. Căn cứ và sổ Nhật ký – Sổ