Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, kế toán là một
công cụ quan trọng phục vụ cho việc quản lý nền kinh tế cả về mặt vĩ mô và
vi mô. Cơ chế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp sản xuất phải thường
xuyên quan tâm đến chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Do đó công
tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm luôn được coi là công
tác trọng tâm của kế toán các doanh nghiệp sản xuất.
Trong cơ chế thị trường hiện nay, hầu như không có sự độc quyền về giá
dưới mọi hình thức. Các doanh nghiệp luôn dùng giá bán sản phẩm làm vũ
khí cạnh tranh với các doanh nghiệp khác. Vì vậy, muốn đứng vững trên thị
trường, các doanh nghiệp luôn phải tìm cách hạ giá thành sản phẩm của mình
ở cách hợp lý mà khách hàng có thể chấp nhận được. Một trong những công
cụ giúp cho công tác tổ chức quản lý sản xuất, mang lại hiệu quả nhất là hạch
toán kế toán nói chung và công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm nói riêng.
Sự cạnh tranh về giá cả trên thị trường được thể hiện rõ hơn trong các
doanh nghiệp xây dựng lắp. Đặc điểm tổ chức kế toán ở các doanh nghiệp này
có một số điểm khác với các doanh nghiệp sản xuất khác bởi sản phẩm xây
lắp có đặc điểm riêng biệt và có ảnh hưởng lớn đến tổ chức kế toán. Sản phẩm
xây lắp là những công trình xây dựng, vật kiến trúc... có quy mô lớn, kết cấu
phức tạp và mang tính chất đơn chiếc, thời gian sản xuất sản phẩm lâu dài. Vì
vậy đặc điểm của sản phẩm xây lắp ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán
trong đơn vị xây lắp chủ yếu ở nội dung, phương pháp, trình tự hạch toán chi
phí sản xuất, phân loại chi phí, cơ cấu giá thành xây lắp.
Đối tượng hạch toán chi phí ở đây có thể là các công trình hoặc các hạng
mục công trình. Nó rất đa dạng và phức tạp vì công trình thường kéo dài
nhiều thời gian, qua nhiều kỳ kế toán. Bởi vậy, việc hạch toán chi phí sản xuất
và tính giá thành trong doanh nghiệp xây dựng cơ bản không phải là vấn đề
đơn giản, đó không chỉ đơn thuần là nhiệm vụ của kế toán mà còn là cơ sở
cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
1.3 Đặc điểm tổ chức công tác kế toán
- 1.31 Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán
- 1.32 Đặc điểm tổ chức bộ sổ kế toán
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN
XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM Ở CÔNG TY CỔ PHẦN PHẤT
TRIỂN KINH TẾ HÀ NỘI.
2.1 Đặc điểm hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại công
ty.
- 211. Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán
- 212. Đặc điểm tổ chức hình thức sổ kế toán
2.2 Thực trạng hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
2.3 Thực trạng hạch toán chi phí nhân công trực tiếp
2.4 Thực trạng chi phí sử dụng máy thi công
2.5 Thực trạng chi phí sản xuất chung
CHƯƠNG III : MỘT SỐ KIẾN NGHỊ SƠ BỘ
3.1 Đánh giá chung:
3.2 Một số kiến nghị sơ bộ.
3
Nguyễn Thị Ngọc Bích - Lớp : Kế toán K36 (ĐK)
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG I
GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY
1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty cổ phần phát triển
kinh tế Hà Nội.
1.1.1. Tên cơ quan:
CÔNG TY CỔ PHẦN PHÁT TRIỂN KINH TẾ HÀ NỘI
HANOI ECONOMIC DEVELOPMENT JOINT STOCK COMPANY
* Địa chỉ: Khu Liên cơ – 33 Phố Tân ấp – Ba Đình – Hà Nội
Điện thoại: 04.7168379 – Fax: 04.7168389
Lần 1: Đăng ký thêm ngành nghề kinh doanh:
Kinh doanh nhà ở, đầu tư, nhận thầu, xây dựng các công trình công
nghiệp, nông nghiệp dân dụng và xây dựng khác phục vụ nhu cầu trong nước
và ngoài nước.
Lần 2: Đăng ký bổ sung ngành nghề kinh doanh:
Liên doanh Đầu tư khai thác và Xuất khẩu Lâm sản, Khoáng sản tại
Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
Lần 3: Đăng ký bổ sung ngành nghề kinh doanh
Buôn bán dụng cụ cơ khí, vật tư, phụ tùng thay thế các loại máy công
nghiệp, ngư nghiệp, hàng nông, lâm, thủy sản, xăng dầu, thiết bị ngành bưu
chính viễn thông, vật liệu xây dựng, cao su và các sản phẩm từ cao su, nhựa
và các sản phẩm từ nhựa.
Lần 4: Đăng ký bổ sung ngành nghề kinh doanh:
- Xuất nhập khẩu các mặt hàng lương thực và các sản phẩm chế biến từ
lương thực. Nhập khẩu các mặt hàng bột mỳ, kim khí, điện máy, vật liệu xây
dựng, thiết bị văn phòng phục vụ sản xuất và đời sống (theo Quyết định số
3804/QĐ-UB ngày 16/9/1998 của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội).
- Thi công lắp đặt hệ thống cấp nước, thoát nước, đường dây và trạm
biến áp đến 35KVA; Kinh doanh khí đốt ga (có quyết định số 1955/QĐ-UB
ngày 26/3/2002 của UBND Thành phố Hà Nội).
Lần 5: Đăng ký Trụ sở giao dịch mới tại:
Khu Liên Cơ - Số 33 Phố Tân Ấp - Hà Nội.
5
Nguyễn Thị Ngọc Bích - Lớp : Kế toán K36 (ĐK)
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Với kinh nghiệm nhiều năm trong ngành xây dựng, thương mại và dịch
vụ, với đội ngũ cán bộ công nhân viên bao gồm các kỹ sư, kiến trúc sư, kỹ
thuật viên và công nhân lành nghề, Công ty cổ phần phát triển kinh tế Hà Nội
đã và đang tham gia hoạt động trên các lĩnh vực xây dựng dân dụng, nhà ở,
Phòng
Kế Toán
Phòng KTTT
Phòng Dự án
GIÁM ĐỐC
7
Nguyễn Thị Ngọc Bích - Lớp : Kế toán K36 (ĐK)
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Giám đốc phụ trách chung, có quyền ra lệnh và quyết định
- Các phó giám đốc là trực tuyến đối với một số phòng ban được phân
công phụ trách, lãnh đạo chức năng đối với các Xí nghiệp và các đội trực
thuộc nhưng không có quyền ra lệnh. Các phó giám đốc điều hành trực tiếp
các phòng chức năng và sử dụng được kinh nghiệm của các chuyên gia giúp
giám đốc ra quyết định.
- Các phòng ban chức năng có nhiệm vụ tham mưu: đề xuất các chủ
trương biện pháp giúp Giám đốc Công ty tổ chức quản lý, điều hành sản xuất
kinh doanh và chịu trách nhiệm hướng dẫn kiểm tra, tổng hợp tình hình về sản
xuất kinh doanh và thực hiện các mặt quản lý. Chịu trách nhiệm cá nhân về
các hoạt động của phòng mình phụ trách
- Các Xí nghiệp được thành lập để trực tiếp thực hiện thi công các công
trình, được Công ty uỷ quyền.
- Trực tiếp chỉ đạo kiểm tra, theo dõi, điều độ kịp thời trong thi công, đảm
bảo đúng thiết kế kỹ thuật, chất lượng công trình, tiến độ thi công và an toàn.
1.2.3. Đặc điểm lao động của Công ty
Trong bất cứ một ngành nghề nào thì yếu tố lao động cũng là một trong
những yếu tố có vai trò quan trọng bậc nhất. Lao động là nguồn gốc sáng tạo ra
sản phẩm, là nhân tố quyết định nhất của lực lượng sản xuất kinh doanh. Nhờ
có lao động và thông qua các phương tiện sản xuất mà các yếu tố đầu vào là nguyên
vật liệu có thể kết hợp với nhau tạo ra thực thể sản phẩm. Như vậy việc nâng cao
9
Nguyễn Thị Ngọc Bích - Lớp : Kế toán K36 (ĐK)
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Biểu 3: Chất lượng công nhân kỹ thuật Đơn vị: Người
Stt
Công nhân kỹ thuật
theo nghề
Số
lượng
Bậc thợ
<4/7 4/7 5/7 6/7 7/7
1 Công nhân nề 170 20 90 30 28 2
2 Công nhân mộc 60 10 20 17 10 3
3 Công nhân cơ khí 60 10 15 30 4 1
4 C.N chuyên làm đường 60 15 20 15 10
5 Công nhân lái xe 10 2 6 2
6 Công nhân vận hành máy
(đào, ủi, xúc…)
17 2 10 5
7 Công nhân trắc đạc 4
8 Công nhân điện 15 5 5 5
9 Công nhân sơn, bả 30 10 20
10 Công nhân hàn 5 2 3
Tổng cộng 431 76 189 104 52 6
Qua bảng trên ta thấy số lượng cán bộ lãnh đạo, quản lý, làm công tác
khoa học - kỹ thuật là 104 người, trong đó có 82 người có trình độ đại học.
Đây là một tỷ lệ cao, thể hiện số cán bộ quản lý có trình độ cao trong công ty
là rất lớn. Điều này tạo điều kiện tốt cho công ty trong việc điều hành hoạt
động sản xuất kinh doanh, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho công ty thực
theo nguyên tắc quy định .
- Đánh giá đúng đắn kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh ở từng công
trình, hạng mục công trình, từng bộ phận thi công, tổ, đội sản xuất... trong
từng thời kỳ nhất định, kịp thời lập các báo cáo về chi phí sản xuất và giá
thành công tác xây lắp, cung cấp chính xác kịp thời các thông tin hữu ích về
chi phí sản xuất và giá thành phục vụ cho yêu cầu quản lý của lãnh đạo công
ty .
1.31. Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán.
Bộ máy kế toán Công ty cổ phần phát triển kinh tế Hà Nội được tổ chức
theo hình thức kế toán tập trung. Với hình thức này thì toàn bộ công việc kế
toán được tập trung tại phòng kế toán Công ty. Các đội, đơn vị sản xuất trực
thuộc Công ty không tổ chức bộ phận kế toán riêng mà chỉ bố trí các nhân
viên thống kê, kế toán làm nhiệm vụ hướng dẫn hạch toán ban đầu, thu thập,
phân loại, kiểm tra các chứng từ ban đầu sau đó lập Bảng kế toán chuyển
chứng từ ban đầu về phòng Kế toán - Tài chính. Tại đây, việc ghi chép kế toán
được tiến hành.
11
Nguyễn Thị Ngọc Bích - Lớp : Kế toán K36 (ĐK)
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tổ chức bộ máy kế toán ở Công ty cổ phần phát triển kinh tế Hà Nội.
KẾ TOÁN TRƯỞNG
Kế toán tổng hợp
Kế toán tiền mặt, tiền gửi ngân hàng
Kế toán Vật tư - Công cụ dụng cụ
Kế toán Tài sản cố định
Kế toán tiền lương, BHXH
Thủ quỹ
Nhân viên thống kê ở các đội sản xuất trực thuộc
Kế toán Công ty áp dụng hệ thống tài khoản ban hành theo quyết
định 1141/TC/QĐ/CDSDKT ngày 1/11/1995 của Bộ Tài chính và các
thông tư hướng dẫn sửa đổi, bổ sung Chế độ kế toán doanh nghiệp của
Bộ Tài chính.
* Chế độ Báo cáo Tài chính:
+ Niên độ kế toán bắt đầu từ 01/1 đến 31/12 hàng năm.
+ Lập Báo cáo tài chính định kỳ theo quý, nộp cho Tổng công ty và
các cơ quan chức năng.
+ Mẫu biểu Báo cáo tài chính:áp dụng mẫu biểu theo quyết định số
167/2000/QĐ-BTC ngày 25/10/2000 và sửa đổi, bổ sung theo thông tư
số89/2002/TT-BTC ngày 09/10/2002 của Bộ Tài chính.
Ngoài ra Công ty còn lập các Báo cáo nhanh tuỳ theo yêu cầu quản lý
của Công ty.
* Hình thức kế toán:
Công ty cổ phần phát triển kinh tế Hà nội hiện đang áp dụng hình
thức kế toán Chứng từ ghi sổ.
13
Nguyễn Thị Ngọc Bích - Lớp : Kế toán K36 (ĐK)
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Theo hình thức này, các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh đã được
phản ánh ở chứng từ gốc đều được phân loại thành các loại chứng từ có cùng
nội dung tính chất nghiệp vụ để lập Chứng từ ghi sổ, sau đó sử dụng chứng từ
ghi sổ để lập sổ kế toán tổng hợp là Sổ Đăng ký chứng từ ghi sổ và sổ Cái các
tài khoản. Các sổ kế toán chi tiết được mở căn cứ vào các chứng từ gốc đính
kèm theo Chứng từ ghi sổ đã lập.
- Cuối tháng, kế toán lập Bảng Cân đối tài khoản để kiểm tra tính chính
xác của việc ghi chép kế toán tổng hợp và lập Bảng Tổng hợp chi tiết theo
từng tài khoản cấp 1 đã được mở chi tiết để kiểm tra tính chính xác của việc
ghi chép kế toán chi tiết.
động được hình thành chủ yếu trong quá trình bán hàng và trong quan hệ
thanh toán.
Công ty cổ phần phát triển kinh tế Hà Nội chủ yếu luân chuyển bằng tiền
mặt và vốn lưu động. Các xí nghiệp trực tiếp sản xuất, xây lắp, xây dựng trực
tiếp với khách hàng.
Sản phẩm được các đội sản xuất nhập kho, lúc này thủ kho viết phiếu
nhập kho đưa cho người giao số nhập kho. Thủ kho giữ lại một phiếu, phiếu
nhập kho phải có đầy đủ chữ ký của Giám đốc, thủ quỹ, thủ kho.
Tiền được nhập vào quỹ của công ty bằng tiền thu của khách hàng, mua
hàng, góp vốn kinh doanh, thu tiền mặt từ hoạt động tài chính.
15
Nguyễn Thị Ngọc Bích - Lớp : Kế toán K36 (ĐK)
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tiền thu được nhập quỹ để trả lương cho công nhân viên, mua sắm trang
thiết bị, phân bổ các quỹ sửa chữa TSCĐ bị hư hỏng, một phần nộp thuế Nhà
nước, trả cho bên góp vốn liên doanh.
Sơ đồ luân chuyển chứng từ vốn bằng tiền
Thủ quỹ
Giám đốc
Người mua hàng
KTT
Ghi chú:
: Trực tiếp
: Gián tiếp
* Đặc điểm kế toán lao động tiền lương
Tiền lương (hay tiền công) là phần thù lao lao động để tái sản xuất sức
lao động, bù đắp hao phí sức lao động do người lao động đã bỏ ra trong quá
trình sản xuất kinh doanh.
Tiền lương được thủ quỹ dựa vào bảng chấm công của từng công nhân
Nguyễn Thị Ngọc Bích - Lớp : Kế toán K36 (ĐK)
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Sơ đồ luân chuyển chứng từ tiền lương.
Bảng tính lương phân xưởng
Bảng thanh toán lương phân xưởng
Bảng tính lương phòng, ban
Bảng thanh toán lương phòng, ban
Sổ cái TK
334,338
NKCT7
Bảng kê số 4
Bảng phân bổ
Bảng chấm công
Bảng nghiệm thu sản phẩm
Ghi chú:
: Ghi hàng ngày
: Ghi cuối tháng
: Quan hệ đối chiếu
* Đặc điểm kế toán tài sản cố định
Tài sản cố định trong công ty là các tư liệu lao động chủ yếu và các tài
sản có giá trị lớn, thời gian sử dụng dài.
Nguyên giá tài sản cố định của Công ty có giá trị tương đối lớn nguyên
giá từ 780.559.568đồng đến 1.989.568.000đồng. Thời gian khấu hao TSCĐ từ
5-10 năm. Tuy nhiên đó chỉ là thời gian tính khấu hao bởi có những TSCĐ
thời gian khấu hao đã hết nhưng thời gian sử dụng vẫn còn dài. TSCĐ của
Công ty do nguồn mua trong nước và mua nhập khẩu từ nước ngoài, những
tài sản đó đã tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh mà vấn giữ được
hình thái vật chất ban đầu cho đế khi hư hỏng phải loại bỏ. Khi tài sản cố định
được khấu hao hết có thể đem thanh lý, nhượng bán hay sử dụng tiếp nếu vẫn sử
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CễNG TÁC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ
SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM Ở CễNG TY
CỔ PHẦN PHẤT TRIỂN KINH TẾ HÀ NỘI
2.1 Đặc điểm hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại công ty.
2.1.1 Đối tượng hạch toán chi phí.
19
Nguyễn Thị Ngọc Bích - Lớp : Kế toán K36 (ĐK)
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nghiên cứu chi phí và cách phân loại nói trên giúp chúng ta có được
cách nhìn tổng thể về chi phí kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, trên
thực tế để làm cơ sở cho việc định giá bán sản phẩm trên thị trường ta không
thể sử dụng chi phí để định giá mà cần thiết phải dựa vào giá thành. Những
chi phí sản xuất mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong quá trình thi công đó sẽ tham
gia cấu thành nên giá thành sản phẩm xây lắp hoàn thành của quá trình đó.
Như vậy: “ Giá thành sản phẩm xây lắp là biểu hiện bằng tiền của những
chi phí sản xuất ( bao gồm chi phí vật liệu, chi phí nhân công, chi phí sử dụng
máy thi công, chi phí sản xuất chung ) tính cho từng công trình, hạng mục
công trình hay khối lượng xây lắp hoàn thành đến giai đoạn quy ước đã hoàn
thành, nghiệm thu, bàn giao và được chấp nhận thanh toán ”.
Mặt khác, giá thành là một đại lượng tính toán, là chỉ tiêu có sự biến
đổi nhất định nên ở phương diện này, giá thành ít nhiều lại mang tính chất chủ
quan thể hiện ở hai khía cạnh:
- Tính vào giá thành một số khoản mục chi phí mà thực chất là thu nhập
thuần tuý của xã hội như : BHXH, các khoản trích nộp cho cơ quan cấp trên,
thuế vốn, thuế tài nguyên ...
- Một số khoản mục chi phí gián tiếp được phân bổ vào giá thành của từng
loại sản phẩm hay từng sản phẩm theo các tiêu thức phù hợp .
- Chi phí sản xuất là cơ sở để hình thành nên giá thành. Giữa chi phí sản
+ Giá thành kế hoạch :
Giá thành kế hoạch là giá thành được xác định trên cơ sở những điều kiện
cụ thể của doanh nghiệp về các định mức, đơn giá, biện pháp thi công.
21
Nguyễn Thị Ngọc Bích - Lớp : Kế toán K36 (ĐK)
Giá thành dự toán của
công trình, hạng mục
công trình
Giá trị dự toán của
công trình, hạng mục
công trình
Lãi định mức
= +
Giá trị dự toán của
công trình, hạng mục
công trình
Giá thành dự toán của
công trình, hạng mục
công trình
Lãi định mức
= -
Mức hạ giá thành
kế hoạch
Giá thành dự toán của
công trình, hạng mục
công trình
Giá thành kế hoạch của
công trình, hạng mục
công trình
-=
hợp chi phí sản xuất chính xác. Thông thường có hai phương pháp tập hợp chi
phí sản xuất sau:
Phương pháp tập hợp trực tiếp:
22
Nguyễn Thị Ngọc Bích - Lớp : Kế toán K36 (ĐK)
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Phương pháp này được áp dụng với các chi phí có thể quy nạp, tập hợp cho
từng đối tượng chịu chi phí .Với những chi phí sử dụng có liên quan trực tiếp
đến từng đối tượng tập hợp chi phí riêng biệt ( công trình, hạng mục công
trình) thì hạch toán trực tiếp cho từng đối tượng đó . Đây là phương pháp được
sử dụng phổ biến trong các doanh nghiệp xây dựng cơ bản vì nó tạo điều kiện
cho kế toán tính giá thành và người quản lý đánh giá hiệu quả hoạt động của
doanh nghiệp.
Phương pháp phân bổ trực tiếp
Phương pháp này được áp dụng đối với các chi phí gián tiếp (liên quan đến
nhiều đối tượng). Do đó phải lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí cho các đối
tượng liên quan theo công thức sau:
Ci = x Ti
Trong đó: Ci : Là chi phí sản xuất phân bổ cho đối tượng thứ i
Σ C : Là tổng chi phí sản xuất đã tập hợp cần phân bổ
: Là tổng đại lượng của tiêu chuẩn dùng để phân bổ
Ti : Là đại lượng dùng để phân bổ của đại lượng thứ i
- Kế toán tập hợp chi phí sản xuất
Do đó trong phạm vi chuyên đề này em chỉ xin đề cập đến trường hợp kế
toán tập hợp chi phí sản xuất theo phương pháp kê khai thường xuyên .
* Hệ thống tài khoản sử dụng :
- TK 621 : “ Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp ”:
Được dùng để tập hợp toàn bộ chi phí nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu trực
tiếp dùng để sản xuất sản phẩm, thi công công trình phát sinh trong kỳ.
Khoản trích trước tiền lương nghỉ phép của công nhân sản xuất .
Bên Có: Cuối kỳ kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp sang TK tính giá
thành.
Sau khi kết chuyển TK 622 không có số dư.
TK 622 cũng được mở chi tiết theo đối tượng tập hợp chi phí.
SƠ ĐỒ 2: HẠCH TOÁN TỔNG HỢP CHI PHÍ NHÂN CÔNG TRỰCTIẾP
TK 334
Tiền lương và phụ cấp lương phải trả cho CNTTSX
TK 338
Các khỏan đóng góp theo tỷ lệ với tiền lương của CNTTSX thực tế phát sinh
TK 335
Trích trước lương nghỉ phép cho CNTTSX
TK 622
TK 154
Kết chuyển chi phí
24
Nguyễn Thị Ngọc Bích - Lớp : Kế toán K36 (ĐK)
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nhâncông
TK 623 : “ Chi phí sử dụng máy thi công ”
Kết cấu cơ bản của TK 623 như sau:
Bên Nợ : Tập hợp chi phí sử dụng máy phát sinh trong kỳ.
Bên Có : Phân bổ chi phí sử dụng máy thi công cho các đối tượng chịu chi
phí .
Sau khi phân bổ, TK 623 không có số dư .
TK 623 được mở chi tiết thành TK cấp 2 :
+ TK 6231 : Chi phí nhân công
+ TK 6232 : Chi phí vật liệu
+ TK 6233 : Chi phí dụng cụ sản xuất