Thực tiến giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại ở việt nam - Pdf 52

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ HẢI LÝ

THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP PHÁT SINH
TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ HẢI LÝ

THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP PHÁT SINH
TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số

: 60 38 50

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Văn Tuyến


vay của ngân hàng thương mại ................................................................ 13
1.2. CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP PHÁT
SINH TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI Ở VIỆT NAM ..................................................................................... 22
1.2.1. Các quy định về giải quyết tranh chấp bằng thương lượng, hòa giải
...23
1.2.2. Các quy định về giải quyết tranh chấp bằng thủ tục Trọng tài...... 27
1.2.3. Các quy định về giải quyết tranh chấp bằng thủ tục Tòa án ......... 34
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP PHÁT SINH
TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở
VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ......................................................... 44


2.1. THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP PHÁT SINH TRONG
HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT
NAM............................................................................................................ 44
2.1.1. Thực tiễn giải quyết tranh chấp bằng thương lượng ..................... 44
2.1.2. Thực tiễn giải quyết tranh chấp bằng hòa giải .............................. 46
2.1.3. Thực tiễn giải quyết tranh chấp bằng thủ tục Trọng tài ................ 51
2.1.4. Thực tiễn giải quyết tranh chấp bằng thủ tục Tòa án .................... 59
2.1.5. Một số đánh giá từ thực tiễn giải quyết tranh chấp phát sinh trong
hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại ở Việt Nam .................... 73
2.2. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CƠ SỞ PHÁP LÝ
CHO VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP PHÁT SINH TRONG HOẠT
ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM 87
2.2.1. Mở rộng thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh tế của Toà án .... 87
2.2.2. Bổ sung các quy định về thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp
phát sinh từ hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại .................... 88
2.2.3. Xây dựng cơ chế hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động giải quyết
tranh chấp của Trọng tài thương mại....................................................... 89

mang lại nguồn thu chủ yếu cho các ngân hàng nhưng cũng là hoạt động tiềm
ẩn những rủi ro vô cùng lớn, chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng, trong mối quan
hệ giữa một bên cấp vốn và một bên nhận cấp vốn luôn luôn chứa đựng những
tranh chấp có thể phát sinh, hoạt động cho vay của các ngân hàng càng nhiều
thì khả năng xảy ra tranh chấp càng lớn bất chấp khung pháp lý có hoàn chỉnh
đến đâu, bởi không phải lúc nào các bên cũng tuân thủ pháp luật nghiêm
chỉnh, chỉ một sai lệch nhỏ trong điều chỉnh lãi suất, thời gian trả nợ… cũng
dẫn đến tranh chấp. Trong trường hợp đó, việc giải quyết tranh chấp này ở
đâu? và được thực hiện bởi cơ quan nào? để đảm bảo quyền và lợi ích hợp
pháp cho các bên tranh chấp đang là vấn đề hết sức cần thiết và cấp bách trong
giai đoạn hiện nay ở nước ta.
Đáp ứng yêu cầu đó, hiện nay, ở Việt Nam xuất hiện 04 phương thức
giải quyết tranh chấp, đó là các phương thức giải quyết tranh chấp bằng:
thương lượng, hòa giải, Trọng tài và Tòa án. Mỗi phương thức giải quyết
1


tranh chấp đều có những ưu, nhược điểm khác nhau, tùy vào từng điều kiện,
thời điểm mà các bên có thể lựa chọn phương thức giải quyết nào để bảo đảm
quyền lợi cho mình. Trong thời gian qua, việc giải quyết tranh chấp phát sinh
trong hoạt động cho vay của ngân hàng nói chung và các NHTM nói riêng đã
đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, việc giải quyết tranh chấp này
vẫn đang đặt ra nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu nhằm hoàn thiện pháp
luật về nội dung và pháp luật về tố tụng cũng như thực tiễn giải quyết tranh
chấp trong lĩnh vực này còn gặp phải những khó khăn nhất định.
Do vậy, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu vấn đề “Thực tiễn giải quyết
tranh chấp phát sinh trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
ở Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động cho vay của NHTM

trong hoạt động cho vay của NHTM;
- Phân tích, đánh giá thực tiễn giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt
động cho vay của NHTM ở Việt Nam đối với từng phương thức giải quyết
tranh chấp trong khoảng 10 năm trở lại đây; từ đó chỉ ra những khó khăn,
vướng mắc chủ yếu phát sinh trong quá trình áp dụng pháp luật để giải quyết
tranh chấp trong hoạt động cho vay của NHTM;
- Đề xuất các giải pháp hiệu quả để nâng cao chất lượng giải quyết tranh
chấp phát sinh trong hoạt động cho vay của NHTM ở Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài được xác định là các quan điểm, tư tưởng,
học thuyết pháp lý về tranh chấp và giải quyết tranh chấp; các quy định
pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động cho vay của
NHTM; các vụ việc thực tiễn về giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt


động cho vay của NHTM.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài chủ yếu tập trung vào việc làm rõ các vấn
đề lý luận và thực tiễn giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động cho
vay của NHTM trong khoảng thời gian 10 năm trở lại đây.
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Để hoàn thành các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu mà đề tài đặt ra,
luận văn sử dụng phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu có tính phổ quát
trong khoa học xã hội như: phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp
diễn dịch và quy nạp; phương pháp thống kê, khảo sát; phương pháp so sánh,
đối chiếu; phương pháp tiếp cận lịch sử và một số phương pháp nghiên cứu
khác trong khoa học xã hội.
Nhóm phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn dịch và uy nạp được sử
dụng chủ yếu để giải quyết các vấn đề lý luận liên quan đến tranh chấp và giải
quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động cho vay của NHTM.
Nhóm phương pháp thống kê, khảo sát; so sánh và đối chiếu; phương

khảo cho các Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Trọng tài viên trong quá trình
giải quyết tranh chấp; cho các tổ chức tín dụng, ngân hàng thương mại, các
doanh nghiệp…Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo để nghiên cứu,
giảng dạy và học tập trong hệ thống các trường đại học chuyên luật hoặc
không chuyên.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu
của luận văn gồm hai chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý của việc giải quyết tranh chấp
phát sinh trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực tiễn giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động cho
vay của ngân hàng thương mại ở Việt Nam và một số kiến nghị.


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA VIỆC GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP PHÁT SINH TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
PHÁT SINH TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.1.1. Khái luận về tranh chấp phát sinh trong hoạt động cho vay của ngân
hàng thương mại
1.1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của tranh chấp phát sinh trong hoạt động cho
vay của ngân hàng thương mại
Thuật ngữ “tranh chấp” nói chung được hiểu là sự bất đồng, mâu thuẫn
về quyền lợi và nghĩa vụ phát sinh giữa các bên liên quan. Những bất đồng,
mâu thuẫn này có thể phát sinh từ những quan hệ xã hội do nhiều ngành luật
khác nhau điều chỉnh, vì thế nên tranh chấp thường được đặt tên theo lĩnh vực
phát sinh tranh chấp.

ngừng phát triển với nhiều gói dịch vụ khác nhau. Vì vậy, tranh chấp trong
hoạt động cho vay của NHTM có những biểu hiện đa dạng về nội dung, hình
thức và mức độ khác nhau. Đó có thể là những bất đồng giữa NHTM và
người đi vay trong việc trả lãi suất, điều chỉnh lãi suất hoặc có thể là mâu
thuẫn giữa các bên trong việc phát mại tài sản đảm bảo...
So với những tranh chấp trong các lĩnh vực xã hội khác như lao động,
hành chính, hôn nhân và gia đình, tranh chấp kinh doanh, thương mại khác thì
tranh chấp phát sinh trong hoạt động cho vay của NHTM có những đặc điểm
sau:
Thứ nhất, nội dung của tranh chấp trong hoạt động cho vay của NHTM
chủ yếu là mâu thuẫn về lợi ích kinh tế liên quan đến số tiền vay và lãi suất
cho vay hoặc các khoản phí có liên quan đến khoản vay. Bởi lẽ, mục đích cơ


bản mà các chủ thể mong muốn đạt tới khi tham gia hoạt động cho vay là lợi
nhuận hoặc đối tượng đầu tư, sử dụng. Do vậy, trong quá trình thực hiện xung
đột về lợi ích kinh tế là nội dung cơ bản của mọi tranh chấp trong hoạt động
cho vay của NHTM. Đặc điểm này giống như đặc điểm của tranh chấp trong
kinh doanh, thương mại nói chung, dù có những điểm khá đặc thù về đối
tượng tranh chấp.
Thứ hai, nguyên tắc giải quyết tranh chấp luôn ưu tiên bình đẳng, thỏa
thuận. Khi có mẫu thuẫn phát sinh các bên luôn đặt nguyên tắc bình đẳng,
thỏa thuận lên hàng đầu, trong trường hợp không thể thỏa thuận được thì các
bên sẽ giải quyết tranh chấp thông qua phương thức giải quyết của cơ quan
Trọng tài, Tòa án. Đây cũng là đặc điểm chung của tranh chấp trong kinh
doanh, thương mại.
Thứ ba, chủ thể của quan hệ tranh chấp luôn có một bên là NHTM, còn
bên kia là khách hàng vay (tổ chức, hộ gia đình, cá nhân…). Trong quan hệ
này, NHTM đóng vai trò là bên cho vay, có quyền và lợi ích xung đột với bên
vay trong HĐCV. NHTM được coi là tổ chức trung gian tài chính, nhận tiền

kinh doanh ngân hàng là lĩnh vực kinh doanh gắn trực tiếp với tiền tệ cũng là
nơi mà tội phạm cũng như những cán bộ ngân hàng lợi dụng chức năng,
nhiệm vụ để tham ô, tham nhũng và có các hành vi vi phạm pháp luật. Mặt
khác, việc xây dựng, hoàn thiện thể chế pháp luật, cơ chế, chính sách quản lý
đối với hoạt động tiền tệ, ngân hàng còn chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu
thực tiễn trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng, công nghệ
thông tin ngày càng hiện đại, hoạt động ngân hàng ngày càng phát triển
nhanh, đa dạng, phức tạp.
- Nguyên nhân chủ quan: Loại nguyên nhân này xuất phát từ hành vi vi
phạm của các bên tham gia hợp đồng tín dụng, bao gồm hành vi vi phạm từ


phía khách hàng và ngân hàng, hoặc có thể xuất phát từ những yếu kém trong
hoạt động quản trị rủi ro của NHTM.
Thật vậy, việc vay vốn ngân hàng để kinh doanh, sản xuất, tiêu dùng... là
hoạt động kinh tế, tiêu dùng bình thường. Tài năng của nhà kinh doanh là ở
chỗ càng sử dụng hiệu quả vốn vay huy động càng tốt. Tuy nhiên, không phải
việc sử dụng nguồn vốn vay lúc nào cũng thuận lợi như ý muốn. Một khi
khách hàng kinh doanh thua lỗ, phá sản, hàng hoá chậm tiêu thụ, do công nợ
chưa thu được, sử dụng sai mục đích, hoặc do kinh tế khó khăn (đối với khách
hành là cá nhân) thì sẽ rơi vào tình trạng không có khả năng trả lãi và trả
khoản vay cho NHTM. Trong những trường hợp đó, để đòi lại được khoản
vốn đã cho vay, NHTM sẽ tăng cường giám sát, đôn đốc thu nợ hoặc xử lý tài
sản thế chấp để thu hồi nợ.
Cũng có khi khách hàng có khả năng thanh toán khoản nợ khi đến hạn
những đã cố ý lừa đảo hoặc có tính toán trước khi vay vốn ngân hàng để
chiếm đoạt vốn của ngân hàng như: chuẩn bị tài liệu gian dối hết sức công
phu; móc nối, thông đồng với cán bộ tín dụng; đến hạn trả nợ dây dưa rồi tìm
cách trốn khỏi nơi cư trú. Thủ đoạn phổ biến là: tạo ra hồ sơ bất động sản giả
bằng cách photocopy và công chứng giả để đưa đi thế chấp; dùng một tài sản

thông qua hoạt động thế chấp, cầm cố để vay vốn thì dù ít hay nhiều sẽ thấy
bóng dáng của cán bộ tín dụng vi phạm Quy chế làm việc của ngân hàng hoặc
là thiếu tinh thần trách nhiệm hoặc cố ý làm trái gây hậu quả nghiêm trọng. Vi
phạm chủ yếu của cán bộ ngân hàng thể hiện ở các hành vi sau: cho vay
không cần tài sản thế chấp mà bằng tín chấp đối với các công ty trách nhiệm
hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân; nhận hồ sơ thế chấp không phải bản chính;
không kiểm tra thực tế và sâu sát tài sản thế chấp, cầm cố, có trường hợp phát
hiện sai sót lại bỏ qua; thông đồng với khách hàng để cho khách hàng thế


chấp hàng giả, hàng kém chất lượng, đánh tráo hàng thế chấp (hàng thật hàng giả); thu nợ lãi về không nhập quỹ mà để sử dụng riêng; lập chứng từ
khống, sửa chữa chứng từ hoá đơn kế toán rút tiền sử dụng; biển thủ tiền,
vàng trước khi đưa vào kho, két, trên đường vận chuyển sau đó tạo hiện
trường giả để che giấu; sửa chữa sổ tiết kiệm, sổ lưu rút tiền của khách hàng;
đánh tráo tiền rút ruột để chiếm doạt; định giá tài sản thế chấp cao hơn nhiều
so với giá trị thực của tài sản thế chấp...
1.1.1.3. Thời điểm phát sinh tranh chấp trong hoạt động cho vay của ngân
hàng thương mại và ý nghĩa của việc xác định thời điểm phát sinh tranh chấp
Cần phải quan niệm như thế nào về thời điểm phát sinh tranh chấp trong
hoạt động cho vay của NHTM?
Câu trả lời quả thật không dễ dàng, bởi có nhiều ý kiến khác nhau tranh
luận về vấn đề này.
Theo quan điểm nhận thức của tác giả, về lý thuyết thời điểm phát sinh
tranh chấp là thời điểm phát sinh những mâu thuẫn, bất đồng hay xung đột về
quyền, nghĩa vụ, lợi ích giữa các bên tham gia HĐCV. Những mâu thuẫn,
xung đột, bất đồng này, được thể hiện thông qua bằng chứng cụ thể như một
bên có văn bản hoặc hành động tuyên bố phản đối hành vi vi phạm của bên
kia, hoặc thậm chí có văn bản khiếu nại hoặc khởi kiện bên đối ước tại Tòa án
để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Như đã đề cập ở trên, trong thực tế đã từng có quan điểm nhận thức cho

Xuất phát từ những tính chất, đặc điểm của tranh chấp liên quan đến
HĐCV của NHTM, tác giả cho rằng ngoài những nguyên tắc chung phải tuân
thủ theo quy định của pháp luật tố tụng (đối với trường hợp giải quyết tranh
chấp bằng Tòa án) thì việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ hoạt động cho
vay của NHTM cần phải chú ý một số nguyên tắc có tính đặc thù như sau:
Một là, việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ hoạt động cho vay của
NHTM phải được thực hiện một cách nhanh chóng, kịp thời, thuận lợi, không
làm hạn chế, cản trở các hoạt động của ngân hàng và khách hàng, nhất là các


doanh nghiệp để các bên có thể tận dụng được những cơ hội kinh doanh, loại
trừ những rủi ro từ tác động của thị trường.
Hai là, việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ hoạt động cho vay của
NHTM phải bảo đảm giữ bí mật của hoạt động kinh doanh cũng như uy tín,
quan hệ hợp tác giữa các bên trong quan hệ tranh chấp. Nếu việc giải quyết
tranh chấp dẫn đến làm lộ bí mật kinh doanh hoặc gây tổn hại đến uy tín, danh
dự của các bên thì các bên có quyền lựa chọn phương thức giải quyết tranh
chấp khác tốt hơn cho mình.
Ba là, ưu tiên giải quyết tranh chấp phát sinh từ hoạt động cho vay của
NHTM bằng hình thức thương lượng trực tiếp giữa các bên. Nguyên tắc này
xuất phát từ nguyên tắc có tính nền tảng là đảm bảo quyền tự định đoạt cho
các bên tranh chấp. Điều này có nghĩa là, cho dù có tranh chấp, nhưng đây là
những tranh chấp về lợi ích kinh tế nên các bên có xu hướng tự thương lượng
để giải quyết. Các phương thức giải quyết tranh chấp có sự xuất hiện, can thiệp
của bên thứ ba chỉ được sử dụng khi không thể giải quyết bằng tự thương, lúc
này các bên có yêu cầu bên thứ ba can thiệp để giải quyết tranh chấp.
Bốn là, việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ hoạt động cho vay của
NHTM phải có chi phí hợp lý về thời gian, cơ hội và chi phí tiền bạc. Mỗi
bên đều có quyền cân nhắc, so sánh giữa cái được và những chi phí phải bỏ ra
để giải quyết tranh chấp, lợi ích kinh tế và sự ổn định quan hệ kinh doanh để

quyền thỏa thuận của các bên. Chính vì vậy, pháp luật không đưa ra bất cứ
quy định nào cho phương thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng khi
các bên xảy ra tranh chấp và lựa chọn phương thức này.
Quá trình thương lượng để giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt
động cho vay của NHTM có thể được tiến hành bằng nhiều cách thức: thương
lượng trực tiếp, gián tiếp hoặc kết hợp cả hai. Việc lựa chọn cách thức thương
lượng nào phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh của các bên.


Phương thức giải quyết này có ưu, nhươc điểm như sau:
+ Về ưu điểm: Điểm nổi bật của phương thức giải quyết này là sự thuận
tiện, đơn giản, nhanh chóng, mang tính linh hoạt, hiệu quả cao và ít tốn kém.
Mặt khác, giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động cho vay của NHTM
chấp bằng thương lượng còn bảo vệ uy tín cho cac bên tranh châp cung như bi
mât kinh doanh cua khách hàng , đặc biệt các khách hàng là doanh nghiệp.
Các bên trong quan hệ tranh chấp, hơn ai hêt tư biêt bao vê quyên lơi cua ban
thân, hiêu ro nhưng bât đông va nguyên nhân phat sinh tranh châp nên trong
quá trình đàm phán , thương lương dê hiêu va cam thông vơi nhau hơn đê co
thê thoa thuân ca c giai phap tôi ưu theo nguyên vong môi bên ma không phai
cơ quan tai phan nao cung lam đươc . Bơi vây, nêu thương lương thanh công
thì không nhưng cac bên đa loai bo đươc nhưng bât đông phat sinh ma mưc
đô phương hai đên m ối quan hệ giữa các bên cũng thấp , tăng cương sư hiêu
biêt va hơp tac lân nhau trong tương lai.
+ Về nhược điểm: Tuy phương thức này có một số ưu điểm như đã nêu
nhưng thực tế cho thấy trong một số trường hợp thì thương lượng tỏ ra không
hiệu quả bởi: thương lượng thành công hay thất bại phụ thuộc vào sự hiểu
biết, thái độ thiện chí và sự hợp tác của các bên. Sự thực thi kết quả thương
lượng phụ thuộc vào ý chí tự nguyện thi hành của các bên tham gia. Kết quả
thương lượng không được bảo đảm bởi bất kỳ cơ chế pháp lý nào dẫn đến tính
bắt buộc thực hiện không cao.

quyết tranh chấp. Trong thực tiễn việc nếu giải quyết tranh chấp tại Tòa án thì
các bên không có quyền lựa chọn cán bộ giải quyết trừ một số trường hợp
phải thay đổi Hội đồng xét xử theo quy định của pháp luật. Một điều quan
trọng khác mà các nhà kinh doanh cũng rất quan tâm là khi giải quyết bằng
con đường này các bên kiểm soát được các tài liệu chứng cứ có liên quan


(những bí mật kinh doanh) trong khi giải quyết tại Tòa án thì các yêu cầu này
không được đảm bảo do Tòa án thực hiện xét xử theo nguyên tắc công khai.
+ Nhược điểm: Việc hòa giải có được tiến hành hay không phụ thuộc
vào sự nhất trí của các bên, hòa giải viên không có quyền đưa ra một quyết
định ràng buộc hay áp đặt bất cứ vấn đề gì đối với các bên tranh chấp thỏa
thuận hòa giải không có tính bắt buộc thi hành như Phán quyết của Trọng tài
hay của Tòa án. Thủ tục này ít được sử dụng nếu các bên không có sự tin
tưởng lẫn nhau.
- Đối với phương thức giải quyết tranh chấp bằng Trong tai : Trọng tài
thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thoả thuận và
được tiến hành theo quy định của Luật Trọng tài thương mại. Như vậy, giống
với phương thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng và hòa giải,
phương thức này cũng không mang ý chí quyền lực nhà nước. Điều này sẽ
làm cho phương thức này linh hoạt, mềm dẻo về thủ tục và bảo đảm quyền
định đoạt của các bên tranh chấp mà không bị ràng buộc nghiêm ngặt, chặt
chẽ như giải quyết tranh chấp tại Tòa án.
Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài đó là hình thức giải quyết tranh
chấp thông qua hoạt động của Hội đồng trọng tài hoặc Trọng tài viên với tư
cách là bên thứ ba độc lập nhằm giải quyết mâu thuẫn tranh chấp giữa NHTM
và khách hàng bằng việc đưa ra phán quyết có giá trị bắt buộc các bên phải thi
hành.
Có thể nói, giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài là một phương thức
không thể thiếu trong việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ hoạt động cho

phụ thuộc vào thái độ thiện chí và hợp tác của các bên nên sẽ khó thành công,
khi một bên không chấp hành thì dù có biện pháp cưỡng chế thì việc thực thi
cũng phức tạp và tốn kém như việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án.
Ngoài ra, một điểm hạn chế khác là chi phí cho phương thức giải quyết
tranh chấp này tương đối cao, vụ việc giải quyết càng kéo dài thì phí trọng tài
càng cao.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status