ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
VÕ TỊNH QUYÊN
ẢNH HƢỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ THUỘC
“TAM GIÁC GIAN LẬN” ĐẾN SAI PHẠM TRỌNG
YẾU TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC
CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƢỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Đà Nẵng - Năm 2017
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
VÕ TỊNH QUYÊN
ẢNH HƢỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ THUỘC
“TAM GIÁC GIAN LẬN” ĐẾN SAI PHẠM TRỌNG
YẾU TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC
CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƢỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Mã số: 60.34.03.01
Ngƣờ ƣớng ẫn
TRỌNG YẾU TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH............................................ 9
1.1. ĐỊNH NGHĨA VÀ CÁC LOẠI SAI PHẠM TRÊN BÁO CÁO TÀI
CHÍNH...............................................................................................................9
1.2. LÝ THUYẾT GIẢI THÍCH HÀNH VI GÂY RA SAI PHẠM TRỌNG
YẾU TRÊN BCTC..........................................................................................14
1.2.1. Lý thuyết Tam giác gian lận (The Fraud Triangle).....................15
1.2.2. Lý thuyết đại diện (The Agency Theory)....................................18
1.3. TỔNG HỢP CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN SAI PHẠM TRỌNG
YẾU TRÊN BCTC TỪ CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY........................20
1.3.1. Nhóm yếu tố Áp lực....................................................................20
1.3.2. Nhóm yếu tố Cơ hội....................................................................21
1.3.3. Nhóm yếu tố Thái độ và sự biện hộ............................................22
1.3.4. Yếu tố khác.................................................................................23
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1............................................................................... 24
CHƢƠNG 2. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU..................................................25
2.1. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU................................................................ 25
2.1.1. Nhóm yếu tố áp lực.....................................................................25
2.1.2. Nhóm yếu tố Cơ hội....................................................................29
2.1.3. Thái độ và sự biện hộ..................................................................31
2.1.4. Yếu tố khác.................................................................................32
2.2. ĐO LƢỜNG SAI PHẠM TRỌNG YẾU VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH
HƢỞNG..........................................................................................................33
2.2.1. Đo lƣờng sai phạm trọng yếu trên BCTC.................................. 33
2.2.2. Đo lƣờng các nhân tố ảnh hƣởng đến sai phạm trọng yếu trên
BCTC..............................................................................................................34
2.3. MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU.......................................................................40
2.4. CHỌN MẪU NGHIÊN CỨU...................................................................40
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2............................................................................... 41
Báo cáo tài chính
Thị trƣờng chứng khoán
HĐQT
Hội đồng quản trị
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số ệu
bảng
Tên bảng
Trang
2.1
Đo lƣờng các nhân tố ảnh hƣởng đến sai phạm trọng
yếu trên BCTC
39
3.1
Thống kê mô tả của Sai phạm trọng yếu
42
phụ thuộc và giữa các biến độc lập với nhau
53
3.7
Kiểm định đa cộng tuyến
54
3.8
Độ phù hợp của mô hình
56
3.9
Mức độ phù hợp của mô hình bằng Pseudo R-Square
56
3.10
Mức độ tƣơng quan bằng hệ số Chi-Square
57
3.11
gia tăng. Cụ thể, những sai phạm trọng yếu của các công ty nhƣ công ty cổ
phần bông Bạch Tuyết, công ty cổ phần đồ hộp Hạ Long hay mới đây nhất là
công ty Cổ phần Gỗ Trƣờng Thành đã gây ra những tác động không nhỏ đối
với nhà đầu tƣ.
Hành vi gian lận gây ra sai phạm trọng yếu trên BCTC rõ ràng tác động
tới lợi ích đến không chỉ nhà đầu tƣ mà còn đến cả khách hàng, nhà cung cấp,
ngân hàng hay thậm chí là đối thủ cạnh tranh và cả nhà nƣớc. Dù là động cơ
khai khống hay khai thiếu lợi nhuận đều để hƣớng doanh nghiệp hoặc cá nhân
đến những mục tiêu “mong muốn” và sẵn sàng bỏ qua những hậu quả mà nó
đem lại cho những đối tƣợng khác.
Đã có những nghiên cứu trƣớc đây về gian lận BCTC tại Việt Nam nhƣ
“Đánh giá rủi ro gian lận Báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại Việt
Nam” của Trần Thị Giang Tân (2014) hay “Nghiên cứu về sai sót trong Báo cáo
tài chính của các công ty niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam” của
Nguyễn Trần Nguyên Trân (2014). Tuy nhiên, nghiên cứu của Nguyễn Trần
Nguyên Trân (2014) tập trung vào việc nhận diện rủi ro sai sót dựa vào mô hình
Beneish (1999) trong khi đó nghiên cứu của Trần Thị Giang Tân (2014) chỉ tập
trung vào các công ty niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí
Minh và chỉ xem xét những công ty có chênh lệch lợi nhuận trƣớc và sau kiểm
toán không phân biệt là chênh lệch tăng hay giảm.
Từ đó, đề tài “Ảnh hƣởng của các nhân tố thuộc “tam giác gian lận”
2
đến các san phạm trọng yếu trên Báo cáo tài chính của các công ty niêm yết
trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam” đƣợc lựa chọn để nghiên cứu nhằm
lấp đầy các khoảng trống của các nghiên cứu trƣớc đây.
2. Mụ t êu ủ ng ên ứu
- Xác định và phân tích các nhân tố thuộc tam giác gian lận ảnh hƣởng
quan Pearson đƣợc sử dụng để kiểm định sự tƣơng quan giữa các biến độc
lập với nhau. Cuối cùng, phân tích hồi quy logit đa thức đƣợc áp dụng để
kiểm tra mối quan hệ giữa biến độc lập với biến phụ thuộc.
6. Kết ấu đề tà
Nội dung chính của đề tài đƣợc chia làm 4 chƣơng
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về ảnh hưởng của các yếu tố
thuộc tam giác gian lận đến sai phạm trọng yếu trên Báo cáo tài chính.
Chương 2: Thiết kế nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 4: Kết luận và hàm ý chính sách
7. Tổng qu n tà l ệu ng ên ứu
Từ nhiều năm về trƣớc, có rất nhiều nghiên cứu của các học giả, nhà
kinh tế học về mối liên hệ giữa sai phạm trọng yếu trên BCTC và các nhân tố
ảnh hƣởng. Đặc biệt, kể từ sau nghiên cứu của Donal Cressey (1953) về Tam
giác gian lận (Fraud Triangle) đã mở ra một hƣớng mới giúp giải thích đƣợc
các hành vi gian lận kinh tế. Nghiên cứu của Cressey đã kết luận rằng, có
nhiều nguyên nhân để một ngƣời thực hiện hành vi gian lận, tuy nhiên, tất cả
các nguyên nhân đó đƣợc tổng hợp thành 3 nhóm nhân tố chính là: Áp lực,
Cơ hội, Thái độ [15].
Albrecht & Romney (1986) đã sử dụng 87 “dấu hiệu báo động đỏ”
(Red Flags) để nghiên cứu về gian lận. Các tác giả đã chỉ ra 1/3 trong số các
dấu hiệu trên có ý nghĩa trong tiên đoán gian lận và một số lƣợng lớn các biến
4
khác rất hữu ích trong dự đoán về tính chính trực của Ban giám đốc [10]. Dựa
trên kết quả này, Loebbecke và cộng sự (1989) đã tiếp tục phát triển mô hình
tiên đoán rủi ro có gian lận và cung cấp các bằng chứng rằng gian lận trên
BCTC là hệ quả của các yếu tố áp lực và thái độ [21].
Cũng nghiên cứu về các sai phạm trọng yếu trên BCTC, Person (1995)
và cộng sự đã cho thấy rằng các công ty có cơ cấu quản trị doanh nghiệp yếu
kém có nhiều khả năng xảy ra sai phạm trọng yếu trên BCTC [19].
Skousen và cộng sự (2008) đã nghiên cứu ảnh hƣởng của các nhân tố
áp lực, cơ hội và thái độ đến sai phạm trọng yếu trên BCTC. Kết quả cho thấy
5 nhân tố áp lực và hai nhân tố cơ hội ảnh hƣởng đáng kể đến sai phạm trọng
yếu trên BCTC. Cụ thể, các công ty có đặc điểm sau đây có nhiều khả năng có
sai phạm trọng yếu trên BCTC: tốc độ tăng trƣởng nhanh, sự tăng lên của nhu
cầu huy động vốn từ nguồn tài chính bên ngoài, việc nắm giữ nhiều hơn cổ
phiếu của cổ đông bên trong so với bên ngoài doanh nghiệp, đặc điểm Hội
đồng quản trị (có nhiều thành viên đồng thời nằm trong Ban quản lý của công
ty), số lƣợng ít thành viên độc lập trong Ủy ban kiểm toán [25]. Tƣơng tự
nhƣ Skousen và cộng sự (2008), Skousen và Wright (2008) đã thực hiện một
nghiên cứu trong đó phát triển giả thuyết nghiên cứu dựa trên các nhóm yếu
tố nhƣ các áp lực, cơ hội, thái độ (sự biện hộ) với mục đích xác định một cách
toàn diện các yếu tố ảnh hƣởng đến sai phạm trọng yếu. Kết quả là tỷ lệ của
các thành viên độc lập trong ủy ban kiểm toán độc lập và chủ sở hữu nội bộ
(quản lý và giám đốc nắm giữ cổ phiếu của công ty) có quan hệ ngƣợc chiều
với khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên BCTC; bên cạnh đó, sự kiêm
nhiệm chức danh Giám đốc điều hành và Chủ tịch HĐQT hay tỷ lệ chủ sở hữu
đồng thời là các nhà quản lý chủ chốt sở hữu trên 5% cổ phiếu đang lƣu hành
có quan hệ thuận chiều với sai phạm trọng yếu trên BCTC. Từ việc phân tích
tỷ lệ chủ sở hữu đồng thời là các nhà quản lý chủ chốt sở hữu trên 5% cổ
6
phiếu đang lƣu hành và chủ sở hữu nội bộ (quản lý và giám đốc nắm giữ cổ
phiếu của công ty), Skousen & Wright đã chỉ ra rằng tỷ lệ sở hữu nội bộ là
một rào cản tốt hạn chế sai phạm trọng yếu, trừ khi phần sở hữu còn lại của
công ty bị khuếch tán bởi nhóm cá nhân. Do đó, tỷ lệ số các nhà quản lý nằm
giữ cổ phiếu công ty càng lớn, thì khả năng xảy ra gian lận càng thấp, miễn là
thuộc nhóm Cơ hội là quy mô công ty kiểm toán và 2 yếu tố thuộc nhóm Thái
độ và sự biện hộ là ý kiến của kiểm toán viên và tiền sử gian lận BCTC có tác
động đến hành vi gây ra sai phạm trọng yếu trên BCTC [6].
Ngoài ra nghiên cứu của Nguyễn Trần Nguyên Trân (2014) về sai sót
trong Báo cáo tài chính cua các công ty niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán
Việt Nam đã tổng hợp thực trạng về sai sót trong BCTC đồng thời kế thừa
những nghiên cứu của Beneish (1999) để vận dụng vào việc dự đoán khả năng
sai sót trong BCTC. Kết quả của nghiên cứu cho thấy trong giai đoạn 2010
đến 2012, tỷ lệ các công ty có sự thay đổi về lợi nhuận sau kiểm toán so với
trƣớc kiểm toán luôn xấp xỉ 50%. Thông qua áp dụng mô hình Beneish với 30
công ty đƣợc chọn có tỷ lệ phát hiện gian lận là 53.33%. [9]
Mặc dù các nghiên cứu trên đã cho thấy nhiều kết quả hữu ích về mối
quan hệ giữa các nhân tố với hành vi gây ra sai phạm trọng yếu trên BCTC
nhƣng vẫn có một số hạn chế nhất định. Một số tác giả chỉ quan tâm đến một
số khía cạnh cụ thể, ví dụ nhƣ các yếu tố về tài chính (áp lực tài chính) đƣợc
nghiên cứu bởi Persons (1995), Spathis (2002); hay các yếu tố quản trị doanh
nghiệp (cơ hội) nhƣ nghiên cứu của Beasley (1996). Bên cạnh đó, tồn tại một
số hạn chế trong các nghiên cứu liên kết các yếu tố thuộc tam giác gian lận
(áp lực, cơ hội, và thái độ/ sự biện hộ) với khả năng xảy ra các sai phạm trọng
yếu nhƣ Hasnan và cộng sự (2008), Skousen và cộng sự (2008), Skousen và
Wright (2008), Lou & Wang (2009) cũng nhƣ Amara và cộng sự (2013). Các
nghiên cứu này chỉ xem xét khía cạnh định lƣợng để đo lƣờng sai phạm trọng
8
yếu trên BCTC và chỉ quan tâm đến trị tuyệt đối độ lớn chênh lệch lợi nhuận
mà không quan tâm đến dấu của chênh lệch (khai khống hoặc khai thiếu lợi
nhuận).
Tại Việt Nam, nghiên cứu của Trần Thị Giang Tân (2014) cũng có một
số hạn chế nhƣ trên, và mẫu nghiên cứu chỉ bao gồm 78 các công ty niêm yết
thuyết minh của một khoản mục trên báo cáo tài chính với giá trị, cách phân
loại, trình bày hoặc thuyết minh của khoản mục đó theo khuôn khổ về lập và
trình bày báo cáo tài chính được áp dụng. Sai sót có thể phát sinh do nhầm
lẫn hoặc gian lận”
Theo đó, sai phạm bao gồm sai sót không cố ý (sai sót) và sai sót cố ý
(gian lận). Nhƣ vậy có thể nói sai phạm trên BCTC đƣợc phân thành 2 loại là
sai sót và gian lận. Để phân biệt giữa gian lận và sai sót, cần phải xem xét
xem hành vi dẫn đến sai phạm trong báo cáo tài chính là cố ý hay không cố ý.
Sai sót thƣờng là những lỗi không cố ý có ảnh hƣởng đến BCTC, theo
đoạn A1 của VSA 450 sai sót có thể phát sinh nhƣ:
- Việc thu thập hoặc xử lý dữ liệu để lập BCTC không chính xác;
- Bỏ sót số liệu hoặc thuyết minh;
- Ƣớc tính kế toán không đúng phát sinh do bỏ sót hoặc hiểu sai;
- Xét đoán của Ban Giám đốc liên quan đến các ƣớc tính kế toán mà
kiểm toán viên cho là không hợp lý hoặc việc lựa chọn và áp dụng các chính
sách kế toán mà kiểm toán viên cho là không phù hợp.
Gian lận là một khái niệm pháp lý rất rộng, theo chuẩn mực kiểm toán
Việt Nam VSA 240, gian lận đƣợc định nghĩa “là hành vi cố ý do một hay
nhiều người trong Ban quản trị, Ban Giám đốc, các nhân viên hoặc bên thứ
10
ba thực hiện bằng các hành vi gian dối để thu lợi bất chính hoặc bất hợp
pháp”.
Hành vi gian lận thƣờng khó bị phát hiện do đƣợc tạo ra và che dấu
một cách cố ý. Có hai loại gian lận tác động đến tính trung thực của BCTC đó
là biển thủ tài sản và gian lận BCTC.
Biển thủ tài sản
Về cơ bản, các cách thức gian lận trong trƣờng hợp hàng tồn kho và
các tài sản khác có thể bao gồm hai loại chính là sử dụng tài sản của đơn vị
một cách sai trái để đem lại lợi ích cho cá nhân, ví dụ dùng tài sản của đơn vị
làm tài sản thế chấp cho khoản vay cá nhân hoặc khoản vay cho một bên liên
quan; và lấy cắp tài sản bao gồm lấy cắp tài sản vật chất hoặc tài sản trí tuệ, ví
dụ lấy cắp hàng tồn kho, phế liệu, bán các tài liệu kỹ thuật cho đối thủ cạnh
tranh.
Việc lấy cắp hàng tồn kho và tài sản khác có thể dẫn đến sự không
khớp giữa số liệu tài sản trên sổ sách và thực tế. Để đối phó với việc này, các
nhân viên gian lận có thể thực hiện bút toán điều chỉnh gian lận trên sổ sách,
chẳng hạn, ghi giảm số hàng tồn kho và ghi tăng giá vốn hàng bán; hoặc thậm
chí có thể chỉnh sửa số tổng trên bảng tổng hợp hàng tồn kho cho khớp với
thực tế, hoặc chỉnh sửa số tổng trên biên bản kiểm kê hàng tồn kho cho khớp
với sổ sách.[4]
Gian lận BCTC
Việc BCTC gian lận là việc cố tình làm sai lệch số liệu các khoản mục
và thông tin đƣợc công bố trên báo cáo tài chính của một tổ chức. Việc lập
báo cáo tài chính gian lận có liên quan đến các sai sót cố ý nhƣ cố ý bỏ sót số
liệu hoặc thông tin thuyết minh của báo cáo tài chính để lừa dối ngƣời sử
dụng báo cáo tài chính. Sai sót cố ý có thể xuất phát từ chủ định của Ban
Giám đốc nhằm điều chỉnh kết quả kinh doanh, làm ngƣời sử dụng báo cáo
tài chính hiểu sai về tình hình hoạt động và khả năng sinh lời của đơn vị đƣợc
12
kiểm toán (VSA 240, đoạn A2). Việc lập báo cáo tài chính gian lận có thể
đƣợc thực hiện thông qua các hành vi sau:
Ngoài ra, ban quản lý của các đơn vị có thể thực hiện các gian lận
BCTC nhằm khai thiếu lợi nhuận hoặc doanh thu và khai khống nợ phải trả và
chi phí với mục đích trốn thuế, trốn tránh trách nhiệm xã hội hoặc cũng có thể
tránh bị cơ quan nhà nƣớc điều chỉnh các chính sách ƣu đãi dành cho đơn vị
hay tránh bị cơ quan nhà nƣớc điều tra về hành vi độc quyền doanh nghiệp.
Không nhƣ biển thủ tài sản thƣờng mang tính cá nhân, gian lận BCTC
thƣờng là những gian lận mang tầm tổ chức, do một nhóm các cá nhân thông
đồng với nhau, lập và trình bày BCTC theo hƣớng đánh lừa ngƣời sử dụng
trục lợi cho cá nhân và đơn vị.
Hành vi gian lận mang tính chất nghiêm trọng hơn rất nhiều so với
nhầm lẫn hay sai sót không chủ ý, hầu hết các hành vi gian lận đều ảnh hƣởng
nghiêm trọng đến tính trung thực, hợp lý của BCTC gây ra các sai phạm trọng
yếu, ảnh hƣởng đến những quyết định kinh tế của các cá nhân, đơn vị sử dụng
thông tin từ BCTC.
Để xem xét sai phạm có ảnh hƣởng nghiêm trọng đến ngƣời sử dụng
BCTC hay không thì phải xem xét đến khía cạnh trọng yếu. Theo tuyên bố số
2 – Đặc điểm định tính của thông tin kế toán (1980) của Ủy ban Chuẩn mực
Kế toán Tài chính Hoa Kỳ, trọng yếu đƣợc hiểu là độ lớn của thông tin bị bỏ
sót hoặc sai phạm của thông tin kế toán dẫn đến khả năng việc phán xét dựa
vào thông tin kế toán đó bị thay đổi hoặc bị ảnh hƣởng bởi việc bỏ sót hoặc
sai phạm đó (Đoạn 132).
Theo Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế (1989) xác định thông tin
đƣợc coi là trọng yếu nhƣ sau:
“Thông tin đƣợc coi là trọng yếu nếu việc bỏ sót thông tin hoặc sai
phạm có thể ảnh hƣởng đến các quyết định kinh tế của những ngƣời sử dụng
14
Báo cáo tài chính. Tính trọng yếu phụ thuộc vào quy mô của chỉ tiêu hoặc sai
sót đƣợc phán xét trong những điều kiện cụ thể. Trọng yếu liên quan đến độ
g n lận (T e Fr u
Triangle)
Xét trên khía cạnh hành vi, cho đến nay, công trình nghiên cứu của
Donal R. Cressey (1953) về “Tam giác gian lận” đƣợc xem là nền tảng để giải
thích cho các gian lận. Donald R. Cressey đã tập trung phân tích gian lận dƣới
góc độ tham ô và biển thủ, thông qua khảo sát khoảng 200 tội phạm kinh tế,
nhằm tìm ra nguyên nhân dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật. Ông đã đƣa
ra mô hình tam giác gian lận (Fraud Triangle) để trình bày các nhân tố dẫn
đến các hành vi gian lận và ngày nay đã trở thành một trong những mô hình
chính thống đƣợc sử dụng trong nhiều nghề nghiệp khác nhau để nghiên cứu
về gian lận.
Theo Cressey, các yếu tố thúc đẩy gian lận gồm có: Áp lực, cơ hội, thái
độ và sự biện hộ.
Áp
lực
Cơ
hội
Thái độ
và sự biện hộ
Hình 1.1. Tam giác gian lận (Cressey, 1953)
Áp lực
Khi một nhân viên phải chịu một áp lực quá lớn, điều này có thể thúc
đẩy ngƣời nhân viên đi đến hành vi gian lận. Các áp lực có thể là các áp lực
tài chính hoặc phi tài chính. Áp lực tài chính có thể đến từ những khó khăn,
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm không đƣợc phân định rõ
ràng tạo điều kiện cho sự ỷ lại, sự vô trách nhiệm, và lợi dụng quyền hạn để