đặc điểm phát triển tâm lý lứa tuổi sơ sinh hài nhi ấu nhi (0 3t) - Pdf 52

I. ĐẶC ĐIỂM PHÁT TRIỂN TÂM LÝ CỦA TRẺ SƠ SINH (0-2
THÁNG)
1. Vai trò của các phản xạ không điều kiện
Từ một môi trường tương đối ổn định trong bụng mẹ, đứa trẻ
chào đời như đột ngột bị đẩy vào một hoàn cảnh mới mẻ của
môi trường không khí với vô số kích thích từ bên ngoài. Đời
sống của bé được đảm bảo nhờ những cơ chế di truyền có sẵn
giúp bé hình thành những phản xạ không điều kiện đầu tiên:
- Phản xạ tự vệ: co người lại khi bị chạm vào da, nheo mắt khi
có ánh sáng lóe lên trước mặt… để hạn chế bớt những kích
thích từ môi trường bên ngoài.
- Phản xạ định hướng: trẻ quay đầu về phía ánh sáng mạnh,
nhìn theo một nguồn ánh sáng đang chuyển động.
Phản xạ định hướng không phải là một phản xạ bẩm sinh. Nó
được nảy sinh trên cơ sở những phản xạ tự vệ bẩm sinh, nhờ
những kích thích bên ngoài (do người lớn tạo ra), là cơ sở ban
đầu của hoạt động tìm tòi ở trẻ.
- Các phản xạ khác như: phản xạ mút, phản xạ thở, phản xạ
bấu, phản xạ trườn (khi chạm vào lòng bàn chân), phản xạ về
nhiệt độ…
=> Các phản xạ không điều kiện trên dù không phải cơ sở của
sự phát triển tâm lý, tuy nhiên chúng giúp trẻ:
+ Thích nghi với điều kiện sống mới, đảm bảo sự sống cho cơ
thể và thỏa mãn nhu cầu của cơ thể.
+ Là cơ sở để hình thành phản xạ có điều kiện, tiếp nhận kinh
nghiệm và hành vi đặc biệt của con người.
2. Tình trạng bất phân (cảm giác không phân định)
- Trẻ sơ sinh trong tình trạng bất phân trong cảm nhận mọi vật
+ Trong tháng đầu, trẻ hầu như không tiếp nhận kích thích từ
bên ngoài, chỉ có nội cảm và tự cảm, chỉ khi nào kích thích bên
ngoài quá mạnh mới nhận ra. Ban đầu, nội cảm chiếm ưu thế,

Dần dần, trẻ có thể phân biệt được các âm thanh và mùi vị
khác nhau.
- Đặc điểm quan trọng của trẻ sơ sinh là thị giác và thính giác
phát triển nhanh để tiếp nhận những ấn tượng bên ngoài. Đó là
nhờ sự trưởng thành nhanh chóng của hệ thần kinh, trước hết là
não bộ.
- Điều kiện thiết yếu để não bộ có thể phát triển bình thường là
sự luyện tập của các giác quan để thu nhận các tín hiệu từ thế
giới bên ngoài.
- Người lớn cần chú ý tạo ra và tổ chức các ấn tượng bên ngoài
cho trẻ tiếp nhận để phát triển nhanh các phản xạ định hướng
của trẻ vào thế giới xung quanh.
3.2. Nhu cầu gắn bó với người khác
- Lọt lòng mẹ, trẻ đã có những ứng xử làm người lớn phải quan
tâm như mút, bám níu, mỉm cười, muốn được ôm ấp, vỗ về, thể
hiện một nhu cầu gắn bó với người lớn, đặc biệt là với mẹ.
2


- Phản xạ rúc đầu vào ngực mẹ, một mặt là để tìm bú, mặt khác
là muốn áp sát vào da thịt mẹ để được ôm ấp, vỗ về.
=> Quan hệ với người mẹ qua xúc giác là quan trọng bậc nhất
và xuất hiện sớm nhất, hiện tượng đó là sự gắn bó mẹ - con.
- Sự gắn bó mẹ - con là mối quan hệ đầu tiên và quan trọng
nhất, tạo điều kiện cho sự phát triển sau này của trẻ.
- Mối quan hệ gắn bó mẹ - con là một trong những nhu cầu gốc,
có ngay từ đầu, lúc trẻ mới sinh ra.
- Như vậy, trong trường hợp trẻ bị tách khỏi mẹ quá sớm, thì
điều cần thiết là phải giúp cho trẻ tạo ra mối quan hệ gắn bó
mẹ - con, nhu cầu này có thể thỏa mãn bằng một người khác

mong đợi
của
mẹ
đối với sự
ra đời của
con
Kiểu thứ Tín hiệu Trẻ
bị
hai
phát ra thiếu
từ người tháng hay
mẹ
thì khuyết tật
mạnh,
bẩm sinh

Đặc
điểm Biện pháp khắc
hành vi
phục

Mối quan hệ
gắn bó mẹ con được thiết
lập một cách
dễ
dàng,
thuận lợi

Con
thường

Kiểu thứ Tín hiệu

phát ra
đều yếu
ở cả mẹ
và con

Những
người mẹ

con
một cách
bất đắc dĩ,
không
theo
ý
muốn…

Cả mẹ và
con
đều
không có
cảm giác
cần
sự
gần
gũi,
gắn

(con

của mẹ, tín
hiệu phát ra
của đứa bé
yếu dần đi, có
khi mất hẳn,
bé lâm vào
tình trạng ủ ê,
mệt mỏi, dễ
mắc
phải
chứng “trầm
cảm”
Mẹ và con
đều không có
sự trao đổi tín
hiệu
cho
nhau,
dần
dần cả mẹ và
bé đều lâm
vào tình trạng
ủ ê, mệt mỏi,
tỉnh cảm mẹcon xa cách

-Cần

biện
pháp khơi dậy tín
hiệu từ người mẹ.

nhà tâm lý học.
=> Tạo ra
những quan hệ
gắn bó mẹ - con
ngay từ những
ngày đầu trẻ mới
ra đời là cách
phòng ngừa tốt
nhất, tránh cho
trẻ nguy cơ chậm
phát triển hay
4


phát triển lệch
lạc về sinh lý
cũng như tâm lý
sau này.
=> Nhu cầu gắn bó mẹ - con là cơ sở nảy sinh nhu cầu giao
tiếp giữa em bé với những người xung quanh.
- Dần dần ở trẻ hình thành nên những phản ứng vận động xúc
cảm đặc biệt hướng tới người lớn. Phản ứng này gọi là phức
cảm hớn hở.
=> Sự xuất hiện phức cảm hớn hở cũng là lúc chuyển từ thời kì
sơ sinh bước sang thời kì mới: tuổi hài nhi.
II. ĐẶC ĐIỂM PHÁT TRIỂN TÂM LÝ CỦA TRẺ HÀI NHI (2 - 15
THÁNG)
1.Giao tiếp xúc cảm trực tiếp với người lớn là hoạt động
chủ đạo
1.1. Nguồn gốc

phát triển xúc cảm, ngôn ngữ, hành vi của trẻ. Vừa là điều kiện
tiên quyết để trẻ trưởng thành.
2. Sự phát triển vận động và định hướng vào môi trường
xung quanh của trẻ hài nhi
- Thông qua giao tiếp với người lớn, đứa trẻ không những phát
triển về mặt sinh lý mà còn phát triển về cả mặt tâm lý, nói như
bác sỹ Nguyễn Khắc Viện: “Sự giúp đỡ của người lớn trong giai
đoạn này biến đứa trẻ từ 1 thực thể sinh vật thành 1 thực thể
xã hội”.Để thấy được sự phát triển tâm lý của trẻ trong giai
đoạn này, người ta xem xét trên một số khía cạnh đó là sự phát
triển về cảm giác và nhận biết thế giới, vận động.
2.1. Cảm giác
- Về thị giác:
+ Người ta thấy trong những tuần đầu ở trẻ chưa có sự hội tụ
về hình ảnh ở 2 mắt, hình ảnh 1 vật nhưng ở 2 mắt lại khác
nhau. Lúc đầu đứa trẻ chỉ tập trung vào những vật di động
trong vài giây. Đến tháng thứ 2 đứa trẻ đã nhìn vào đối tượng
được lâu vài phút ở khoảng cách lúc đầu từ 20-30 cm, đến đầu
tháng thứ 3 nhìn được 1,5-2m. Cuối tháng thứ 3 nhìn được 24m.Đến tháng thứ 4 trẻ đã biết phối hợp giữa thị giác và vận
động.
- Về thính giác:
+ Từ lâu người ta thường cảm thấy cái thai cựa quậy sau khi
tiếng động lớn vang lên được vài giây.Kết quả nghiên cứu cho
thấy là cái thai ở tuần thứ 26-28 đã nhạy cảm với tiếng
động.Cuối tháng 1 đứa trẻ đã ức chế được các cử động tập
trung vào kích thích âm thanh, trẻ có thể phát hiện ra hướng có
6


tiếng động. Cuối tháng thứ 2 đầu tháng thứ 3 trẻ đã biết quay

- Đến tháng thứ 3 trẻ biết lẫy, tháng thứ 4 trẻ bắt đầu cầm nắm
đồ vật xong còn vụng về các thao tác trên đồ vật.
- Khoảng từ tháng thứ 6 trở đi trẻ bắt đầu nắm lấy đồ vật nhưng
chưa làm hoàn toàn hoạt động của mình, cuối tháng thứ 6 đầu
tháng thứ 7 trẻ đã biết trườn, bò, đứng, 9 tháng lò dò biết đi
( tuy nhiên ở 1 số trẻ thì ở giai đoạn này chậm hơn ).
7


- Đến 12 tháng trở đi động tác nắm đồ vật trở nên chính xác
thuần thục.Vò trí các ngón tay co duỗi phù hợp với các đồ vật.
Tuy nhiên quá trình phát triển vận động với đồ vật và định
hướng với môi trường xung quanh của trẻ phụ thuộc nhiều vào
sự hướng dẫn tổ chức của người lớn
- Sự tiến bộ của những vận động và hành động của trẻ hoàn
toàn phụ thuộc vào sự hướng dẫn của con người.Cho nên người
lớn thường xuyên, hướng dẫn giúp đỡ trẻ thao tác trên đồ vật là
điều kiện cho sự phát triển vận động đặc biệt là đôi bàn tay.
=> Từ chỗ quan sát đồ vật trẻ dần dần quan tâm kết quả hành
động đến đồ vật, nhờ vậy tạo điều kiện cho sự phát triển khả
năng quan sát (tri giác) tư duy, trí nhớ, ngôn ngữ đồng thời giúp
trẻ nắm được những thuộc tính khác nhau của sự vật tạo điều
kiện của sự phát triển khả năng định hướng vào môi trường
xung quanh của trẻ tốt hơn. Trong dạy học ở lứa tuổi này, người
lớn (giáo viên) cần hướng dẫn tổ chức, khuyến khích trẻ hoạt
động thao tác trên đồ vật nhằm xây dựng cho trẻ biểu tượng ở
môi trường xung quanh tạo điều kiện phát triển tư duy và các
chức năng tâm lý khác.
3.Hình thành những tiền đề để lĩnh hội ngôn ngữ
Nhu cầu giao tiếp với người lớn và sự định hướng vào môi trường xung quanh

+ Tuy nhiên bé không nhận thức được rằng mình đang gọi cha mẹ một cách
đáng yêu cho đến khi một tuổi.
+ Mặc dù bé không nhận thức được những gì mình nói nhưng bé có thể cảm
nhận được tên gọi của mình khi có người gọi.
- Trẻ cũng có phản ứng khi nghe thấy tiếng chuông điện thoại hay tiếng gõ cửa
biết dùng cử chỉ và ngôn ngữ để diễn đạt như lắc đầu đ ể nói “không”, bập bẹ
khoảng 4 âm tiết hoặc nhiều hơn mà không có từ thực sự; đưa đồ chơi cho
người lớn khi nghe yêu cầu hoặc là làm theo một mệnh lệnh đơn giản như “đặt
nó xuống”;…Thể hiện hiểu các yêu cầu nghe được bằng cử chỉ của đầu , cơ thể,
bắt đầu nhận ra vật, hình ảnh qua gọi tên.
Bập bẹ là hình thức đặc biệt của hoạt động tự lực của đứa trẻ là phương tiện
giao tiếp tiền ngôn ngữ và là phương tiện biểu hiện trạng thái cảm xúc.
* Càng về cuối 1 tuổi:
- Đứa trẻ càng thích giao tiếp với người lớn bằng những âm bập bẹ. Lúc này trẻ
hiểu ý người lớn chủ yếu qua ngữ âm âm điệu của lời nói.
Âm bập bẹ có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với sự phát triển ngôn ngữ sau này.
- Trẻ hài nhi nghe ngôn ngữ như những âm thanh nào đó. Ngữ âm là yếu tố đầu
tiên quyết định thái độ phản ứng của trẻ tức quyết định sự hiểu ngôn ngữ của
trẻ.
Ví dụ: Cùng là câu nói: “Lại đây với bác !” được nói với ngữ điệu trìu mến, âu
yếm thì đứa trẻ sẽ mỉm cười và ưa tay ra, nhưng nếu được nói với ngữ điệu
nặng nề giận dữ thì trẻ tỏ ra sợ hãi thậm chí là òa khóc.
- Trong tiếng bập bẹ trẻ học cách sử dụng môi, lưỡi và hơi thở để chuẩn bị cho
việc học nói.

9


- Sự thông hiểu lời nói của trẻ xuất hiện trên cơ sở của việc phối hợp hoạt động
của tri giác nhìn và nghe.

với cái bút, cái que,cái gậy,...
- Khi bước vào tuổi ấu nhi, mối quan hệ giữa trẻ với thế giới đồ
vật được thay đổi đáng kể. Đồ vật lúc này đối với trẻ không phải
chỉ là cái để nghịch, để chơi mà còn chứa đựng trong đó một
10


chức năng nhất định và có một phương thức sử dụng tương
ứng. Chẳng hạn cái thìa dùng để xúc cơm và có cách cầm thìa
nhất định. Với sự hướng dẫn của người lớn đứa trẻ hướng hoạt
động của mình vào việc nắm cách sử dụng đồ vật. Cứ như vậy
nó lĩnh hội được những kinh nghiệm lịch sử xã hội được kết tính
vào trong các đồ vật. Do đó hoạt động đồ vật của trẻ ngày càng
giống với cách sử dụng của người lớn (như cầm bút, cầm thìa,
gõ trống, tháo mở hộp).
- Ở trẻ ấu nhi, hoạt động với đồ vật trở thành chủ đạo. Vì nhờ
có hoạt động này mà chức năng của các đồ vật lần đầu tiên
được bộc lộ ra trước đứa trẻ và đồ vật xung quanh trở thành đối
tượng thu hút sự chú ý của trẻ, khiến trẻ hăng hái đi tìm kiếm,
lôi cái này ra, tháo cái kia lắp vào cái nọ bận rộn suốt ngày.
Chính nhờ vậy mà tâm lí của trẻ phát triển mạnh, đặc biệt là trí
tuệ.
- Chức năng của đồ vật là thuộc tính ẩn tàng, trẻ không thể
phát hiện được bằng những hành động chơi - nghịch như trẻ hài
nhi vẫn làm. Hành động đồ vật của trẻ ấu nhi cũng khác về
chất so với các hành động tương tự mà người ta thường thấy ở
loài khỉ. Con khỉ cũng có hành động với đồ vật, nhưng không
nhằm tìm hiểu chức năng của đồ vật và cũng không cần tìm
hiểu phương thức sử dụng tương ứng. Con khỉ có thể uống nước
trong cốc nhưng cũng có thể uống nước trong chậu, trong xô,

người lớn, vì nó biết làm như vậy là vi phạm quy tắc sử dụng đồ
vật. Thái độ của người lớn lúc này đồng tình hay phản đối là hết
sức quan trọng để củng cố việc nắm vững quy tắc hành vi xã
hội cho trẻ.
- Do nắm được phương thức hành động với một số đồ vật mà sự
định hướng của trẻ vào thế giới đồ vật có một bước phát triển
mới. Khi gặp một đồ vật lạ, trẻ không chỉ muốn biết "đây là cái
gì ?" mà còn muốn biết "có thể làm gì với cái này ?". Nếu được
sự hướng dẫn thường xuyên của người lớn, trẻ em sẽ nhanh
chóng nắm được phương thức hành động với đồ vật theo kiểu
người. Đây là một nội dung quan trọng trong tiến trình học làm
người của trẻ.
- Nhờ có hoạt động chủ đạo này, chức năng của các đồ vật lần
đầu tiên được bộc lộ ra trước đứa trẻ, trở thành đối tượng thu
hút sự chú ý của trẻ, kích thích trẻ tìm tòi, khám phá -> Nắm
được chức năng của đồ vật, biết được phương thức và hành
động với đồ vật theo kiểu người -> Quá trình tâm lý của trẻ
phát triển, đặc biệt là trí tuệ
- Trẻ nắm được phương thức sử dụng đồ vật trong sinh hoạt
hằng ngày thì đồng nghĩa trẻ cũng lĩnh hội được các hành vi,
quy tắc trong xã hội, một bước phát triển quan trọng trong quá
trình học làm người của trẻ.)
- Suốt trong thời kì ấu nhi, hoạt động với đồ vật luôn luôn giữ
vai trò chủ đạo, đứa trẻ luôn hướng vào thế giới đồ vật của con
12


người. Lúc này trẻ luôn luôn tìm hiểu, khám phá để xem cần
phải hành động với các đồ vật xung quanh như thế nào. Do đó
khi gặp một đồ vật bất kì nào trẻ cũng muốn hành động với nó.

công cụ là những hành động có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với
sự phát triển của trẻ hơn cả.
13


2.1. Hành động thiết lập các mối tương quan
- Hành động thiết lập các mối tương quan là những hành động
đưa hai hoặc nhiều đối tượng (hoặc các bộ phận của chúng) vào
những mối tương quan nhất định trong không gian. Chẳng hạn
hành động chồng các khối gỗ thành hình tháp, hoạt động lắp
ráp các đồ chơi. Ngay trong tuổi hài nhi, trẻ đã bắt đầu thực
hiện các hành động đối với đồ vật như tháo ra, lắp vào, đậy lại.
Tuy nhiên, các hành động này có đặc điểm là khi tiến hành, trẻ
hài nhi chưa biết đến các thuộc tính của đồ vật, chưa biết chọn
đồ vật theo hình dáng và kích thước sắp xếp chúng theo một
trật tự nhất định. Ngược lại, những hành động thiết lập mối
tương quan mà trẻ bắt đầu lĩnh hội ở tuổi ấu nhi đòi hỏi phải
tính đến những thuộc tính của đối tượng. Chẳng hạn để xếp
được hình tháp cho đúng, trẻ cần chú ý đến tương quan về độ
lớn của các khối gỗ, phải biết xếp khối gỗ to nhất ở dưới cùng,
rồi chồng lên lần lượt những khối gỗ nhỏ dần. Hành động với đồ
chơi lắp ghép cũng thế, trẻ cần phải biết thuộc tính của đồ chơi
và chọn các bộ phận sao cho giống nhau hay phù hợp với nhau
để xếp lại theo một trình tự hay kiểu cách nhất định để tạo
thành một chỉnh thể. Đây là những hành động khá phức tạp đối
với trẻ ấu nhi, bởi vì những hành động này phải được điều chỉnh
bằng chính kết quả thu được. Nhưng trẻ lại chưa thể tự mình
tạo ra kết quả đó, nhất là ở trong thời kì đầu, trẻ rất khó đạt tới
kết quả này, chúng thường sắp xếp lung tung.
=> Người lớn cần phải giúp trẻ đạt được kết quả đúng bằng

(như tư duy trực quan - hình tượng và tư duy lôgic).
2.2. Hành động công cụ
- Hành động công cụ là hành động trong đó một đồ vật nào đó
được sử dụng như một công cụ để tác động lên các đồ vật khác.
Chẳng hạn dùng thìa để xúc cơm, dùng dao để thái rau.
- Việc sử dụng công cụ, dù cho là những công cụ cầm tay đơn
giản nhất không những chỉ làm tăng thêm sức lực tự nhiên của
con người, mà còn làm cho con người có thể thực hiện được
nhiều hành động mà nếu chỉ bằng tay không thì khó có thể làm
được hoặc kết quả kém. Có thể xem công cụ như là khí quan
nhân tạo của con người, làm trung gian giữa con người và tự
nhiên.
- Ở tuổi ấu nhi, trẻ mới chỉ học cách sử dụng một số công cụ sơ
đẳng nhất như thìa, cốc, bút chì... Tuy vậy, những cái đó cũng
đã có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển tâm lí, vì những công
cụ đó đã mang trong mình những đặc điểm chung của mọi công
cụ: cách thức dùng chúng là do xã hội quy định và cấu tạo của
công cụ lại do chức năng của chúng quy định.
- Công cụ là khâu trung gian giữa bàn tay con người với đồ vật
cần tác động tới, và tác động đó diễn ra như thế nào lại tùy
thuộc vào cấu tạo của công cụ. Dùng thìa để xúc cơm khác xa
15


với dùng tay bốc cơm vào mồm. Vì vậy việc sử dụng công cụ
đòi hỏi thay đổi hoàn toàn động tác của tay, làm cho bàn tay
phải phục tùng cấu tạo của công cụ. Chẳng hạn khi dùng thìa
xúc cơm cho vào miệng, đòi hỏi tay cầm đúng vào cán thìa và
cầm ngửa thìa mới xúc được cơm trong bát, từ bát đưa thẳng
thìa lên mồm rồi mới cho vào mồm. Có nghĩa là động tác của

nguyên tắc của việc sử dụng công cụ, một trong những nguyên
16


tắc hoạt động cơ bản của con người. Nhờ đó trong những
trường hợp khác trẻ có thể tự mình sử dụng một đồ vật nào đó
làm công cụ (Ví dụ: dùng que khều quả bóng ở dưới gầm
giường ).
3. Đi theo tư thế thẳng đứng - Hình thái vận động đặc
trưng của con người
- Cuối tuổi hài nhi, một số trẻ đã bắt đầu đi chập chững. Đi là
hình thái vận động đặc trưng của con người,không có sẵn trong
chương trình di truyền. Điều này được chứng minh rõ ràng ở
những em bé bị động vật (sói, gấu…) bắt về nuôi. Sống giữa
bầy động vật, những em bé đó chỉ biết bò (hình thái hoạt động
đặc trưng của động vật có vú) chứ không biết đi. Sau này
những em bé đó được mang về hòa nhập với cuộc sống bình
thường, dù có em đã khoảng 14 tuổi nhưng việc đi lại với tư thế
thẳng cũng rất khó khăn. Ban đầu, việc điều khiển các cử động
đi vẫn chưa được hình thành, vì thế đứa trẻ luôn luôn bị mất
thăng bằng
=> Người lớn cần dìu dắt trẻ đi từng bước một và kịp thời cổ vũ
khi trẻ đi được vài bước từ đó trẻ cảm thấy thích đi, không chán
nản mặc dù bị ngã lên ngã xuống. Dần dần động tác đi lấn át
động tác bò và trở thành phương thức cơ bản để di
chuyển.Động tác đi ngày càng tiến bộ, trẻ đã làm chủ được
thân thể của mình, bước đi của trẻ mạnh dạn hơn, vận động
được thực hiện và không gây căng thẳng nữa.Trẻ không những
đi mà còn chạy vì chạy dễ lấy thăng bằng hơn đi, do đó người
lớn cần tập cho trẻ những động tác khéo léo, linh hoạt. Đây là

xung quanh. Ngôn ngữ của trẻ phần lớn phụ thuộc vào sự dạy
bảo của người lớn. Để kích thích trẻ nói người lớn cần đòi hỏi trẻ
phải bày tỏ nguyện vọng của mình bằng lời nói.
- Lúc đầu việc thông hiểu ngôn ngữ của trẻ thường gắn với tình
huống: tình huống cụ thể + lời nói = tín hiệu hành động. Sau
dần, ngôn ngữ của trẻ phát triển theo hai hướng chính: Hoàn
thiện sự thông hiểu lời nói của người lớn và hình thành ngôn
ngữ tích cực riêng của đứa trẻ.
- Trong khi hoạt động với đồ vật, trẻ thường gặp những tình
huống cụ thể trong đó các đồ vật và các hành động với đồ vật
chưa thể tách rời nhau. Vì vậy trẻ không thể lĩnh hội các từ biểu
đạt đồ vật riêng, hành động riêng mà chỉ có thể lĩnh hội ngôn
ngữ biểu đạt cả tình huống trọn vẹn ấy.
- Ví dụ: Trẻ chỉ hiểu lời nói "đánh trống" khi thấy một người
đang đánh trống.
=> Để giúp trẻ nhanh chóng hiểu dược lời nói, người lớn phải
kết hợp lời nói với những tình huống cụ thể, trong đó các hành
động với đồ vật dược thực hiện. Sự kết hợp này lặp đi lặp lại
nhiều lần giúp trẻ hiểu được lời nói mà không phụ thuộc vào
18


tình huống cụ thể nữa, người lớn có thể dùng lời nói để chỉ dẫn
hành động của trẻ và sự phục tùng của trẻ đối với lời chỉ của
người lớn ngày càng vững chắc hơn.
+ Ở trẻ hai tuổi, lời nói có tác dụng khởi động dược thực hiện
dễ dàng hơn so với lời nói có tác dụng kiềm hãm hành động.
+ Ở trẻ ba tuổi, trẻ có khả năng hiểu lời nói tách khỏi tình
huống cụ thể,thì việc chỉ dẫn của người lớn mới bắt đầu điều
chỉnh hành vi của trẻ trong những điều kiện khác nhau. Sự


- Cuối tuổi hài nhi, trẻ bắt đầu tri giác thuộc tính của đồ vật
xung quanh nắm được các mối quan hệ đơn giản nhất giữa
những đồ vật. Cuối tuổi nhà trẻ, do nắm vững hoạt động với đồ
vật và mở rộng giao tiếp ngôn ngữ tạo điều kiện phát triển trí
tuệ. Những dạng hành động tri giác, tư duy đang hình thành là
biểu hiện rõ rệt nhất của sự phát triển trí tuệ.
4.2.1. Sự phát triển tri giác và sự hình thành những biểu
tượng về các thuộc tính của các đồ vật
- Đầu tuổi ấu nhi: Trẻ chỉ nhận biết được một dấu hiệu nào đó
của đồ vật
- Cuối tuổi ấu nhi: Tri giác tăng lên rất nhanh, tinh vi và hoạt
thiện hơn.
- Ví dụ: Đầu tuổi ấu nhi trẻ cầm ô tô đồ chơi chỉ nhìn, gặm, sờ
bánh xe rồi ném đi để xem sau khi ném thì điều gì xảy ra.
Nhưng cuối tuổi ấu nhi, trẻ đã có thể chơi móc nối các ô tô lại
với nhau thành đoàn tàu, xếp ô tô nhỏ lên ô tô lớn để chở đi vì
hiểu được ý nghĩa di chuyển của ô tô.
- Tri giác bằng tai phát triển, trẻ tri giác mối quan hệ giữa các
âm thanh theo độ cao, cần giúp trẻ bằng các bài hát đơn giản,
hấp dẫn và chỉ cho trẻ phân biệt những âm thanh có độ cao
khác nhau phát ra từ những đội tượng quen thuộc
=> Trẻ cần được sự hướng dẫn của người lớn, giúp trẻ sử dụng
các đồ chơi có các thao tác tháo lắp các bộ phận để trẻ so sánh
lựa chọn phù hợp, hình thành những hành động định hướng bên
ngoài nhằm tìm hiểu các thuộc tính của đối tượng. Dần dần
kiểu tri giác mới hình thành, trẻ dùng mắt để lựa chọn đối
tượng phù hợp hành động, đó là hành động bằng mắt được phát
triển mạnh tuổi lên 3. Hành động định hướng bằng mắt giúp trẻ
tích luỹ nhiều biểu tượng về các đối tượng và so sánh các vật

sinh hoạt hàng ngày(như ăn,ngủ,chơi…) thì sang tuổi ấu nhi trẻ
có lúc trẻ không ngoan ngoãn nghe lời người lớn,nghĩa là người
lớn không hoàn toàn chỉ huy được trẻ nữa.Đó là do ở trẻ đã xuất
hiện một thế giới bên trong riêng.
- Trẻ lên 2 tuổi đã có thể hành động dưới ảnh hưởng của những
ấn tượng trực tiếp bên ngoài và của những mô hình được giữ lại
trong trí nhớ làm cho thế giới nội tâm được hình thành.Suốt thời
kỳ này trí nhớ bắt đầu đóng vai trò quan trọng.Sự tham gia của
trí nhớ vào các quá trình tâm lí đã làm cho thế giới bên trong
được hình thành và hành vi của trẻ được cải tiến.
- Ví dụ: Trẻ học thuộc bài hát rất nhanh nhanh hơn người
lớn,thậm chí trẻ có thể thuộc được rất nhiều bài hát.
- Trí nhớ lúc này giúp cho trẻ tìm thấy vị trí của mình không
những trong thế giới đồ vật và những người xung quanh mà còn
bắt đầu nhận ra mối quan hệ quá khứ,hiện tại và tương
21


lai.Trong sự phát triển này người lớn vẫn giữ vai trò quyết
định.Nhờ đó ở trẻ bắt đầu hình thành một cấu tạo tâm lý bên
trong có tác dụng chi phối hành vi của nó tức là xuất hiện động
cơ. Tuy nhiên trẻ chưa thể có ngay những động cơ hoàn toàn
đầy đủ có thể điều khiển hành động một cách trực giác như
người lớn,trẻ hành động chưa có động cơ rõ ràng.Nói cách khác
động cơ của trẻ chưa có tính xác thực và chưa được tổ hợp lại
thành hệ thống dựa trên trật tự ưu tiên về tầm quan trọng
nhiều hay ít. Do đó trẻ bắt chước các hành động của người lớn
làm. Cuối tuổi ấu nhi, trẻ hình thành hành động có mục đích
bằng lời nói, thể hiện ý muốn chủ quan của bản thân rõ ràng
hơn.Tuy người lớn có ảnh hưởng quyết định đến sự hình thành

mạnh hơn là ảnh hưởng của lời giải thích hoàn cảnh thay đổi sẽ
ảnh hưởng đến ý địng ban đầu của trẻ ->thế giới nội tâm của
trẻ đã được hình thành nhưng chưa ổn định và còn mỏng
manh)
- Ở tuổi hài nhi trẻ bắt đầu có tình yêu với những người gần
gũi,trẻ hình thành những hình thái cảm xúc rõ ràng: Vui vẻ hớn
hở hay buồn bã.Trẻ mong muốn được mọi người khen ngợi và sợ
khi người lớn tỏ ra không bằng lòng. Do đó, để dạy trẻ về các
hành vi tốt, bố mẹ nên khen khích lệ trẻ khi trẻ làm được nó.
Đồng thời, khi trẻ nỗ lực để chuyển hoá bản thân, sửa sai thì bố
mẹ cũng nên khen trẻ để lần sau trẻ không tái phạm.
5.2. Sự xuất hiện tự ý thức của trẻ ấu nhi
- Một trong những thời điểm quan trọng nhất trong sự phát triển
của trẻ là lúc trẻ bắt đầu ý thức được rằng mình là một con
người riêng biệt khác với những người xung quanh,có những ý
muốn riêng biệt có thể hợp hay không hợp với ý muốn của
người lớn.Khi bước vào tuổi ấu nhi trẻ chưa tách dời tình cảm và
ý muốn của mình khỏi những hoàn cảnh bên ngoài,trẻ còn ở
tình trạng chưa xác định được bản thân mình.Hành động và vận
động của trẻ thường xuyên biến đổi vì thế giới nội tâm còn chưa
xác định,trẻ bắt trước thái độ đối với bản thân mình từ thái độ
của người khác đối với trẻ,sự đồng nhất mình với người khác
thường bộc lộ qua lời nói của trẻ.
- Ví dụ: bé Linh 24 tháng nói với chị “chị cho Linh ăn bim bim”
trẻ cũng biết xưng hô là con,cháu,em nhưng khi xưng hô vẫn
dung ngôi thứ 3.
- Nhưng ở gần tuổi ấu nhi thì trẻ mới nhận ra cái “tôi” của mình
và do đó khi xưng hô trẻ mới nhận biết được tên mình, xưng hô
“tớ, con, mình, cháu” ở ngôi thứ nhất.
- Trong sự hình thành nhân cách tên gọi có tầm quan trọng

- Từ tình trạng hoà mình vào những người khác trẻ đã chuyển
sang tự khẳng định mình trong thế giới xung quanh,trên thực tế
trẻ đã làm được nhiều điều.Nó đã chuyển thể đi từ nơi này sang
nơi khác,nắm được nhiều phương thức sử dụng đồ vật,tự thoả
mãn được nhiều nhu cầu và chủ động giao tiếp với người xung
quanh bằng ngôn ngữ.Trong thời kỳ này hoạt động của trẻ
không chỉ hướng về thế giới bên ngoài mà còn hướng tới bản
thân bắt đầu tự nhận thức.Đồng thời mối quan hệ giữa những
người xung quanh ngày càng được mở rộng hơn nhờ có sự giao
tiếp bằng ngôn ngữ.Tất cả những thay đổi ấy khiến trẻ lần đầu
tiên nhận ra sức mạnh nơi bản thân mình và nhận ra mình là
một chủ thể. Trẻ thích khẳng định bản thân làm được và không
24


muốn nhờ người lớn làm giúp,trẻ tự đánh giá được việc làm của
mình là đúng hay sai, được làm hay không được làm.
Cũng trong thời gian này trẻ tiếp tục hiểu cơ thể mình,nó quan
tâm đến các bộ phận:mắt,mũi,tay,chân….cả những đặc điểm về
giới tính.
5.3. Nguyện vọng độc lập và khủng hoảng tuổi lên 3 và
cách giải quyết
- Khi trẻ tách được mình ra khỏi người khác và có ý thức về khả
năng của chính mình thì đồng thời cũng xuất hiện một thái độ
mới với người lớn,trẻ muốn giống người lớn,muốn được độc
lập,tự khẳng định mình…..Đây là bước phát triển mới nhưng giai
đoạn này trẻ lại xuất hiện tính bướng bỉnh,muốn làm theo ý
mình,tự mình làm tất cả không biết lượng sức mình,muốn được
làm các việc và tất nhiên người lớn sẽ không thoả mãn ý muốn
đó.Biểu hiện một số đặc điểm trong tính của trẻ :bướng bỉnh,ích


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status