BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP ĐỌC HIỂU
VĂN BẢN THƠ ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP
CHO HỌC SINH LỚP 2
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Hà Nội, 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP ĐỌC HIỂU
VĂN BẢN THƠ ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP
CHO HỌC SINH LỚP 2
Chuyên ngành: Giáo dục học (tiểu học)
Mã số
: 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Đỗ Huy Quang
Đề tài này chưa được công bố trong bất kì công trình khoa học nào khác.
Hà Nội, tháng 10 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hồng Nhung
3
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ..............................................................................................................i
LỜI CAM ĐOAN ...................................................................................................... ii
MỤC LỤC................................................................................................................. iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT.....................................................................................vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU ..................................................................................... vii
MỞ
ĐẦU
.....................................................................................................................1
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN .....................................................8
1.1. Cơ sở lí luận .....................................................................................................8
1.1.1. Giao tiếp và quan điểm giao tiếp. Quan điểm giao tiếp với dạy học
Tiếng Việt ở Tiểu học
..................................................................................................8
1.1.2. Năng lực giao tiếp và kỹ năng giao tiếp. Mối quan hệ năng lực, kỹ
năng, bài tập để phát triển năng lực giao tiếp
........................................................13
1.1.3. Văn bản thơ – đối tượng của hoạt động đọc hiểu. Văn bản thơ nhìn từ
quan điểm giao
HỌC
SINH
LỚP
2
....................................44
2.1 Một số nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập đọc hiểu văn bản thơ để
phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 2 ...................................................44
5
2.2. Hệ thống bài tập để học sinh lớp 2 thực hành giao tiếp khi đọc hiểu văn
bản thơ ..................................................................................................................45
2.2.1. Bài tập nhận diện đặc điểm văn bản thơ: dòng thơ, khổ thơ, vần thơ,
ngắt nhịp dòng thơ. Luyện đọc đúng
.......................................................................45
2.2.2. Bài tập xác định người nói và quan hệ giao tiếp trong văn bản thơ.
Luyện đọc theo giọng người nói trong bài
thơ........................................................52
2.2.3. Bài tập xác định hoàn cảnh giao tiếp, tình huống giao tiếp trong bài
thơ. Luyện tập khả năng hình dung, tưởng tượng để trải nghiệm, nhập cuộc
với cảnh vật, sự việc trong bài thơ
...........................................................................57
2.2.4. Bài tập tiếp nhận thông tin từ người nói trong bài thơ. Thông tin hiển
ngôn, thông tin hàm ngôn, tình cảm của người nói
................................................59
7
3.2. Phương pháp thực nghiệm .............................................................................94
3.3. Địa bàn và đối tượng thực nghiệm ................................................................94
3.4. Kế hoạch thực nghiệm ...................................................................................94
3.5. Nội dung thực nghiệm ...................................................................................95
3.6. Giáo án thực nghiệm ......................................................................................95
3.7. Nhận xét kết quả thực nghiệm .....................................................................105
KẾT LUẬN .............................................................................................................108
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................110
PHỤ LỤC
8
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT
Viết tắt
Viết đầy đủ
1.
BT
Bài tập
7.
PPDH
Phương pháp dạy học
8.
SGK
Sách giáo khoa
9.
TV
Tiếng Việt
10.
VB
Văn bản
vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
STT
nhân tương lai của đất nước. Như vậy, đổi mới phương pháp dạy học sẽ tác động
vào mọi thành tố của quá trình giáo dục và đào tạo. Nó tạo ra sự hiện đại hóa của
quá trình này.
1.2 Đọc hiểu có vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội. Đọc hiểu là
hoạt động để tiếp nhận văn học và rèn kĩ năng vận dụng ngôn ngữ cho học sinh.
Nhưng nếu đọc hiểu văn bản chỉ được bàn luận ở phương diện tầm quan trọng, ý
nghĩa và cắt nghĩa thế nào là đọc, thế nào là hiểu thì chưa đủ. Phải xác định đúng
đọc hiểu văn bản là chuyển một công việc khó khăn lẽ ra chỉ những nhà nghiên cứu,
những nhà phê bình văn học, những thầy cô giáo mới có thể biết làm trở thành công
việc mỗi học sinh đều biết làm và làm tốt.
Xây dựng hệ thống bài tập đọc hiểu văn bản thơ trong môn Tiếng Việt lớp 2
sẽ giúp học sinh biết cách đọc, đọc hiểu trong chương trình hoặc ngoài chương
trình. HS sẽ hứng thú với môn học và thêm yêu thích các bài thơ.
1.3 Những tri thức và năng lực mà học sinh muốn có được đều phải thông
qua hệ thống các bài tập, các em phải tự mình làm lấy bài tập không ai có thể làm
hộ, làm thay các em được. Vì chỉ khi học sinh thông qua hoạt động học tập, thực
hiện bài tập học sinh mới có thể lĩnh hội được kiến thức và hình thành kĩ năng kĩ
xảo.
Trong dạy học, giáo viên là người tổ chức điều khiển, giúp mỗi học sinh tích
cực, chủ động suy nghĩ và hoạt động để tìm ra kiến thức và rèn luyện kĩ năng, học
sinh tích cực hoá hoạt động bao nhiêu sẽ chiếm lĩnh được bấy nhiêu tri thức. Giáo
viên không đưa ra kiến thức sẵn cho học sinh mà để học sinh tự mình giải bài tập để
tìm ra kiến thức, lĩnh hội kiến thức và hình thành kĩ năng kĩ xảo.
2
1.4 Hiện nay, có nhiều đề xuất giá trị về đọc hiểu văn bản nghệ thuật, nhưng
từ thực tiễn, người dạy, người học vẫn muốn có những mô hình đọc hiểu ổn định để
giúp HS phát triển năng lực đọc hiểu, năng lực giao tiếp. Để bổ sung thêm vào
cùng loại”. Trong cuốn Đọc văn học văn, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2001, Trần Đình
Sử nhấn mạnh: “Đọc văn không bao giờ đơn giản là đọc văn bản, mà còn bao hàm
sự ý thức cả cái cách mà mình hiểu tác phẩm nào đó, là tìm ra các tác phẩm của
mình” [lời nói đầu]. Theo Trần Đình Sử, đọc văn không đơn thuần là đọc chữ. Tác
giả cũng nói thêm rằng: bất cứ ai thoát nạn mù chữ đều có thể đọc được các văn
bản, nhưng chưa thể biết đọc hiểu văn. Thoát nạn mù chữ không có nghĩa là thoát
nạn “mù văn”. Rõ ràng đọc hiểu là năng lực phải được mỗi người trải qua học tập
và rèn luyện nghiêm túc.
Những đóng góp trong các công trình nghiên cứu của ông có ý nghĩa khai sáng,
khởi xướng, vạch ra phương hướng cho cuộc cách mạng trong dạy học Ngữ văn ở
trường phổ thông.
Phan Trọng Luận, tác giả nhiều chuyên luận liên quan đến dạy đọc hiểu văn
như Văn chương, bạn đọc sáng tạo (2003), Văn học nhà trường, nhận diện, tiếp cận,
đổi mới (2011), Phương pháp luận giải mã văn bản văn học (2014). Ông còn là
tổng chủ biên bộ sách Ngữ văn THPT (bộ cơ bản). Trong cuốn Phương pháp luận
giải mã văn bản văn học, ông rất đề cao cách dạy văn ở Mỹ theo Lý thuyết ứng đáp
và muốn chuyển giao cách dạy đó về Việt Nam. Sau khi giới thiệu Lý thuyết ứng
đáp, ông cho rằng: “Chúng ta đang dạy HS đọc văn và kiểm tra đánh giá kiến thức
đọc của HS chuyên chú vào mục tìm hiểu nghĩa văn bản, mà lại hiểu theo cách của
các nhà phê bình, nghiên cứu văn học là chính. Mục tiêu khuyến khích HS trải
nghiệm, ứng dụng văn bản vào “tình thế” mới, “tình thế” của chính mình để hiểu
mình và hiểu người, để phát triển cá tính và các năng lực trí tuệ xúc cảm còn rất mờ
nhạt”
Trong cuốn Phương pháp dạy học văn Tập 1, NXB Đại học Sư phạm, Phan
Trọng Luận bàn về các năng lực ngữ văn cần hình thành cho HS: năng lực tri giác
ngôn ngữ nghệ thuật của tác phẩm văn học, năng lực cảm thụ cụ thể - năng lực khái
quát các chi tiết nghệ thuật của các tác phẩm trong tính chỉnh thể của nó, năng lực
sáng tạo (tạo nghĩa cho văn bản). Điều đó cho thấy, người GV đứng lớp không phải
là người truyền cảm thụ, truyền những tri thức văn học một cách đơn thuần mà phải
chú ý đến các năng lực tiếp nhận văn học của HS, phải hướng tới mục tiêu hình
- Cũng theo GS.TS Lê Phương Nga trong Dạy học Tập đọc ở Tiểu học tác
giả đã chú trong xem xét các mặt về cả nội dung và hình thức của văn bản nhằm
giúp GV có căn cứ chính xác xác định nội dung luyện đọc thành tiếng và đọc - hiểu
5
cho HS Tiểu học, từ đó đưa ra tiến trình tổ chức giờ dạy Tập đọc cho HS nhằm đạt
hiểu quả tốt nhất trong việc dạy học của GV và tiếp thu kiến thức, kỹ năng cho HS.
- Về quan điểm giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt, tác giả Nguyễn Trí trong
cuốn Một số vấn đề dạy học Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp ở Tiểu học [11]
“dạy Tiếng Việt trong giao tiếp (hoặc bằng giao tiếp) và để giao tiếp là phương
hướng giảng dạy tiếng mẹ đẻ” thì chương trình dạy tiếng mẹ đẻ của các nước trên
thế giới được xây dựng theo phương hướng lấy giao tiếp làm môi trường và phương
pháp, lấy việc phục vụ giao tiếp làm nhiệm vụ và mục đích. Chương trình dạy ngôn
ngữ nói và viết trong đó chú trọng dạy cả bốn kỹ năng đọc, viết, nghe, nói đồng thời
rèn luyện các kỹ năng đó trong sử dụng lời nói để giao tiếp, từ đó biến các kỹ năng
thành năng lực của mỗi cá nhân học sinh. Chương trình dạy Tiếng Việt ở Việt Nam
cũng đi theo xu hướng đó và đã đạt được thành tựu nhưng chưa thực sự làm rõ việc
dạy Tiếng Việt là hình thành năng lực Tiếng Việt trong suy nghĩ, trong các thao tác
của trí tuệ.
- Chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt mới từ sau năm 2000 đã thể hiện
việc dạy Tiếng Việt theo quan điểm GT thông qua hệ thống các chủ điểm đa dạng,
phong phú, thông qua hệ thống bài tập gắn liền với kỹ năng sử dụng Tiếng Việt.
- Bên cạnh việc quan tâm đến dạy học Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp
thì còn nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề dạy học đọc - hiểu theo quan
điểm giao tiếp cho HS Tiểu học.
- Trong cuốn Phương pháp dạy học Tiếng Việt nhìn từ Tiểu học (2012), tác
giả Hoàng Hòa Bình và Nguyễn Minh Thuyết đã thể hiện cái nhìn hệ thống toàn bộ
chương trình Tiếng Việt sau năm 2000 và thêm một lần nữa làm rõ các phương
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết được sử dụng để nghiên cứu lịch sử
vấn đề và phát hiện, rút ra những kết luận cần thiết về cơ sở lí luận thông qua việc
tìm hiểu các tư liệu, tạp chí, giáo trình, các bài nghiên cứu thuộc các lĩnh vực Giáo
dục học, Ngôn ngữ học, Tâm lí học, Lí luận và phương pháp dạy học Văn,... có liên
quan trực tiếp đến phạm vi đề tài.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn điều tra, khảo sát để thu thập những
tư liệu thực tế về tình hình dạy và học đang diễn ra ở trường Tiểu học Thị trấn Sông
Cầu, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
- Phương pháp thực nghiệm do mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài, việc
thực nghiệm sẽ được tiến hành song song, vừa tổ chức dạy thực nghiệm theo giáo
7
án đề xuất, vừa dạy đối chứng theo giáo án thông thường để kiểm nghiệm khả năng
ứng dụng và tính hiệu quả của việc dạy học đọc hiểu văn bản thơ theo quan điểm
giao tiếp trong phân môn Tập đọc ở trường Tiểu học.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm được dùng để xem xét lại những
thành quả của hoạt động thực tiễn trong quá khứ để rút ra những kết luận bổ ích cho
thực tiễn và cho khoa học.
7. Giả thuyết khoa học
Nếu tổ chức hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản thơ theo hệ thống bài tập
thành công thì học sinh sẽ có cách thức đọc hiểu văn bản thơ để phát triển năng lực
đọc hiểu và năng lực giao tiếp, phát huy được tính tích cực nhận thức, phát triển
năng lực tư duy của học sinh. Qua đó, học sinh sẽ hình thành và dần nâng cao năng
lực giao tiếp, đồng thời nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập môn Tiếng Việt ở
Tiểu học.
8. Những đóng góp của luận văn
Hệ thống hóa cơ sở lí luận về vấn đề phát triển năng lực giao tiếp cho học
sinh lớp 2 thông qua đọc hiểu văn bản thơ
cũng không phải giao tiếp mà là tác động một chiều. Nói tóm lại giao tiếp là tương
tác dựa vào thông tin và thông tin ở đây là có ý đồ, tự giác và có nghĩa đã định,
thông qua các phương tiện khác nhau (ngôn ngữ, cử chỉ, thái độ, công cụ, đồ vật,…)
mà hai bên cùng chấp nhận, đều hiểu và có thể chia sẻ.
Phương tiện giao tiếp rất đa dạng, từ ngôn ngữ tự nhiên (lời nói, chữ viết),
ngôn ngữ kí hiệu, ngôn ngữ cơ thể cho đến những công cụ phi ngôn ngữ như thái
độ, hành vi, dụng cụ kĩ thuật và bất cứ đồ vật nào miễn là có chức năng phát ra
thông điệp như: tranh, ảnh, máy phát thanh, cái roi, quả đấm, hòn gạch, thức ăn,
viên thuốc,…
Có bốn kiểu giao tiếp cơ bản:
- Giao tiếp tay đôi
9
- Giao tiếp kiểu vòng tròn
- Giao tiếp kiểu tia (hình sao)
- Giao tiếp kiểu mạng nhện
Trong đó giao tiếp tay đôi có hai bên tham gia chưa kể số người cụ thể là
giao tiếp phổ biến hơn ba kiểu giao tiếp còn lại có nhiều bên tham gia.
Trong giáo dục, khái niệm giao tiếp cần được hiểu theo nghĩa tương tác dựa
vào thông tin và quá trình truyền thông, tức là các bên phải có ảnh hưởng lẫn nhau
chứ không một chiều [4.tr45].
Theo từ điển Thuật ngữ ngôn ngữ học “Giao tiếp là sự thông báo hay truyền
đạt thông báo nhờ một hệ thống mã nào đó”. Theo đó, có thể hiểu giao tiếp là hoạt
động giữa hai người hay hơn hai người nhằm bày tỏ với nhau một thông tin trí tuệ
hoặc cảm xúc, một ý muốn hành động hay một nhận xét về sự vật hiện tượng nào
đó.
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu: “Giao tiếp là một hoạt động xảy ra khi có một
Nhân vật giao tiếp là những người tham gia vào hoạt động giao tiếp. Trong
giao tiếp, các nhân vật giao tiếp luân phiên đảm nhiệm vai trò người phát (nói/ viết)
hoặc người nhận (nghe/ đọc).
Giữa các nhân vật giao tiếp có thể có quan hệ cùng vai (như quan hệ bạn học,
đồng nghiệp với nhau …) hoặc quan hệ khác vai (quan hệ cha mẹ với con, thầy cô
giáo và học sinh …). Muốn cuộc giao tiếp đạt kết quả như mong muốn, cần xác
định đúng quan hệ vai giữa mình với người nhận để lựa chọn hình thức giao tiếp
thích hợp.
Đặc điểm của các nhân vật giao tiếp về lứa tuổi, về nghề nghiệp, về giới tính
và trình độ hiểu biết, về vốn sống, về địa vị xã hội,… đều luôn ảnh hưởng và để lại
dấu ấn trong hoạt động giao tiếp. Nhân tố nhân vật giao tiếp trả lời cho các câu hỏi:
ai nói (ai viết)? nói với ai (viết cho ai)?
b. Hoàn cảnh giao tiếp
Hoàn cảnh giao tiếp là hoàn cảnh diễn ra cuộc giao tiếp. Hoạt động giao tiếp
bằng ngôn ngữ cũng như những hoạt động khác của con người luôn diễn ra trong
những hoàn cảnh nhất định. Xét ở phạm vi hẹp thì là hoàn cảnh giao tiếp gồm
không gian, thời gian, địa điểm, hình thức giao tiếp tồn tại trong quá trình giao tiếp.
Xét ở phạm vi rộng thì hoàn cảnh giao tiếp còn gồm hoàn cảnh lịch sử, kinh tế, văn
hoá, xã hội của dân tộc, xã hội. Các nhân tố trong hoàn cảnh giao tiếp luôn chi phối
11
các phương tiện của hoạt động giao tiếp: từ việc lựa chọn nội dung đến cách thức
thể hiện và cả nghi thức trong giao tiếp. Hoàn cảnh giao tiếp trả lời cho câu hỏi: nói
(viết) trong hoàn cảnh nào? Tình huống nào? Khi nào? Ở đâu?
c. Nội dung giao tiếp
Đây là hiện thực được nói tới trong văn bản. Nó bao gồm những sự kiện,
hiện tượng, sự vật trong thực tế khách quan và cả những tình cảm tâm trạng của con
người. Hiện thực được nói tới tạo thành đề tài và nội dung của hoạt động giao tiếp.
dung thông tin đến người nhận. Người nhận phải có năng lực ngôn ngữ tương ứng
để hiểu những nội dung thông tin được truyền tải trong văn bản.
Nhân tố này trả lời cho câu hỏi: nói (viết) như thế nào?
Kết luận: Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ có sự chi phối của nhiều nhân
tố tham gia vào quá trình giao tiếp. Chúng tác động đến sự hình thành và lĩnh hội
ngôn bản, đồng thời để lại dấu ấn trong ngôn bản. Nhân vật tham gia vào giao tiếp
cần ý thức rõ điều này để sử dụng ngôn ngữ vào hoạt động giao tiếp một cách có
hiệu quả và đạt được mục đích.
* Bản chất của quan điểm giao tiếp
Quan điểm giao tiếp trong viêc dạy học ngôn ngữ xuất phát từ đặc trưng cơ
bản nhất của đối tượng và phù hợp với đối tượng. Trong hoạt động giao tiếp, ngôn
ngữ vừa là phương tiện, vừa tạo ra các sản phẩm phục vụ cho sự giao tiếp. Dạy học
ngôn ngữ theo quan điểm giao tiếp chính là dạy về một phương tiện giao tiếp quan
trọng nhất của con người. Quan điểm giao tiếp được thể hiện trên cả hai phương
diện nội dung dạy học và phương pháp dạy học.
- Về nội dung, quan điểm giao tiếp chi phối quá trình biên soạn nội dung
chương trình và sách giáo khoa Tiếng Việt. Thông qua các phân môn, sách giáo
khoa tạo ra các môi trường giao tiếp có chọn lọc để học sinh mở rộng vốn từ theo
định hướng, trang bị những kiến thức nền tảng và phát triển các kĩ năng sử dụng
Tiếng Việt trong giao tiếp.
- Về phương pháp dạy học, các kĩ năng nói trên được dạy thông qua hệ thống
bài tập thực hành, phù hợp với những tình huống giao tiếp tự nhiên đồng thời cá thể
hoá hoạt động học tập tới từng học sinh.
Dạy học Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp thực chất là dạy học vì mục
đích giao tiếp, dạy về giao tiếp và dạy trong giao tiếp.
Khi dạy theo quan điểm giao tiếp, giáo viên phải dạy cho học sinh được học,
13
14
Tuy nhiên, năng lực giao tiếp còn tùy thuộc vào tình huống hay ngữ cảnh mà
trong đó sự tương tác diễn ra. Giao tiếp được coi là thành công đối với một nhóm
khác nhau trong một tình hình khác. McCroskey (“Tự báo cáo như là một cách tiếp
cận để đo”) giải thích rằng: “Phạm vi của năng lực giao tiếp bao gồm cả kiến thức
và kỹ năng học tập, những cái sẵn có, cách họ đã được làm việc trong các tình
huống khác nhau trong quá khứ, và có thể xác định được thành công có khả năng
xảy ra cao nhất trong một tình huống nhất định.
Có thể hiểu năng lực giao tiếp là khả năng lựa chọn, vận dụng ngôn ngữ vào
giao tiếp xã hội của mỗi cá nhân. Để có năng lực giao tiếp mỗi người trước hết phải
có năng lực ngôn ngữ. Tuy vậy, năng lực giao tiếp của mỗi cá nhân còn tùy thuộc
vào nhiều nhân tố nhờ khả năng nhận thức, hoàn cảnh sống, đặc điểm tính cách,
trình độ văn hóa… của mỗi người.
Từ quan điểm giao tiếp, Đặng Thành Hưng cũng đưa ra quan niệm về kỹ
năng giao tiếp: “Kỹ năng giao tiếp cũng là kỹ năng nên bản chất triết học cũng
giống như mọi kỹ năng của con người: Đó là một dạng hành động giúp cá nhân tiến
hành giao tiếp, được thực hiện tự giác dựa trên tri thức về công việc liên quan, khả
năng vận động và những điều kiện sinh học – tâm lý và xã hội khác của cá nhân để
đạt được mục đích hay lợi ích giao tiếp đã định”.[5]
Kỹ năng giao tiếp hiệu quả luôn được xem là yếu tố then chốt đối với sự phát
triển toàn diện của một người, dù là trong công việc hay các mối quan hệ riêng tư.
Vì vậy, nghệ thuật giao tiếp - hiểu người và làm cho người khác hiểu mình là một
trong những kỹ năng quan trọng cần phải rèn luyện để thực sự thành công.
Nhiều người nhầm lẫn giữa giao tiếp với nói chuyện dài dòng. Giao tiếp hiệu
quả không phải là nói nhiều, liên miên mà đây là nghệ thuật truyền tải thông điệp
nhẹ nhàng, cô đọng để hầu hết số đông đều hiểu và nắm bắt được thông tin nhanh
chóng. Trên thực tế, có những người rất tài năng và đạt được nhiều thành quả trong