Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trên báo cáo tài chính giữa niên độ của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam - Pdf 52

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

DƢƠNG NGỌC NHƢ QUỲNH

NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG
ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TÙY Ý
TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH GIỮA NIÊN ĐỘ
CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ
TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN

Đà Nẵng - Năm 2017


ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

DƢƠNG NGỌC NHƢ QUỲNH

NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG
ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TÙY Ý
TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH GIỮA NIÊN ĐỘ
CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ
TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Mã số: 60.34.03.01

Ngƣ

CÔNG BỐ THÔNG TIN TÙY Ý TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH GIỮA
NIÊN ĐỘ..........................................................................................................7
1.1. CƠ CỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI
CHÍNH GIỮA NIÊN ĐỘ..................................................................................7
1.1.1. Nội dung báo cáo tài chính giữa niên độ...................................... 7
1.1.2. Vai trò của báo cáo tài chính giữa niên độ....................................8
1.1.3. Đo lƣờng mức độ công bố thông tin trên báo cáo tài chính giữa
niên độ...............................................................................................................9
1.2. LÝ THUYẾT KHUNG VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TÙY Ý...............12
1.2.1. Lý thuyết thông tin hữu ích.........................................................13
1.2.2. Lý thuyết tín hiệu........................................................................13
1.2.3. Lý thuyết đại diện.......................................................................14
1.2.4. Lý thuyết thông tin bất cân xứng................................................15
1.2.5. Lý thuyết tính kinh tế của thông tin............................................16
1.3. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU................................................................18
1.3.1. Các nghiên cứu về ảnh hƣởng của nhân tố mức độ trì hoãn công
bố báo cáo tài chính........................................................................................ 18
1.3.2. Các nghiên cứu về ảnh hƣởng của nhân tố chủ thể kiểm toán thực

hiện soát xét báo cáo tài chính........................................................................19


1.3.3. Các nghiên cứu về ảnh hƣởng của nhân tố tỉ lệ vốn nhà nƣớc trên

vốn điều lệ.......................................................................................................21
1.3.4. Các nghiên cứu về ảnh hƣởng của nhân tố tỉ lệ vốn sở hữu của
nhà quản lý......................................................................................................22
1.3.5. Các nghiên cứu về ảnh hƣởng của nhân tố mức độ độc lập của
Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc............................................................... 23
1.3.6. Các nghiên cứu về ảnh hƣởng của nhân tố quy mô công ty......24

TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM.................................44
3.1.1. Mức độ công bố thông tin tùy ý theo từng chỉ tiêu.....................44
3.1.2. Tổng hợp mức độ công bố thông tin tùy ý..................................49
3.2. PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG
BỐ THÔNG TIN TÙY Ý TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH GIỮA NIÊN ĐỘ Ở
VIỆT NAM..................................................................................................... 50
3.2.1. Đối với Báo cáo tài chính bán niên năm 2016............................51
3.2.2. Đối với trƣờng hợp Báo cáo tài chính quý 2 năm 2016.............62
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3...............................................................................72
CHƢƠNG 4. HÀM Ý CHÍNH SÁCH VÀ KẾT LUẬN............................74
4.1. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO MỨC ĐỘ CÔNG BỐ
THÔNG TIN TÙY Ý TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH GIỮA NIÊN ĐỘ Ở
VIỆT NAM..................................................................................................... 74
4.1.1. Chú trọng hơn nữa đến tính độc lập của Ban giám đốc và Hội
đồng quản trị................................................................................................... 74
4.1.2. Hàm ý từ sự ảnh hƣởng của tỉ lệ sở hữu vốn của Nhà nƣớc......75
4.1.3. Hàm ý từ sự ảnh hƣởng của khả năng thanh toán nhanh...........76
4.1.4. Các kiến nghị khác......................................................................77
4.2. KẾT LUẬN..............................................................................................79
4.2.1. Kết quả đạt đƣợc........................................................................ 79
4.2.1. Hạn chế của nghiên cứu..............................................................81


KẾT LUẬN CHƢƠNG 4...............................................................................82
PHỤ LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản s o)


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Số ệu
Bảng

Tên bảng

Trang

2.1

Thang đo các chỉ tiêu về mức độ CBTT tùy ý

39

2.2

Mô tả và đo lƣờng các biến độc lập

41

3.1

Chi tiết mức độ CBTT tùy ý trên BCTC bán niên năm
2016 theo từng chỉ tiêu

44

3.2

Chi tiết mức độ CBTT tùy ý trên BCTC quý 2 năm
2016 theo từng chỉ tiêu

3.7

Kết quả kiểm định tự tƣơng quan ở Mô hình 1a

55

3.8

Kết quả kiểm định phƣơng sai không đồng nhất ở Mô
hình 1a

56

3.9

Kết quả thống kê sự ảnh hƣởng của các nhân tố đến
mức độ CBTT tùy ý trên BCTC bán niên năm 2016

59

3.10

Thống kê mô tả các biến độc lập trên BCTC quý 2 năm
2016

62

3.11

Hệ số tƣơng quan cặp của các biến độc lập (Mô hình


3.15

Kết quả thống kê sự ảnh hƣởng của các nhân tố đến
mức độ CBTT tùy ý trên BCTC quý 2 năm 2016

69


1

MỞ ĐẦU
1. Tín

ấp t ết ủ đề tà

Cùng với sự phát triển kinh tế đất nƣớc thì thị trƣờng chứng khoán ở
Việt Nam ngày càng phát triển. Tính đến nay, trên cả nƣớc, ở cả hai Sở giao
dịch chứng khoán Hà Nội và Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí
Minh có hơn 700 công ty niêm yết (CTNY). Thị trƣờng chứng khoán ngày
càng trở thành một kênh đầu tƣ hấp dẫn thu hút nhiều cá nhân và tổ chức
tham gia. Trên thị trƣờng đó, một trong những điều nhà đầu tƣ quan tâm nhất
khi tham gia trên thị trƣờng chứng khoán chính là thông tin, đặc biệt là thông
tin liên quan đến tài chính. BCTC giữa niên độ chính là một trong những kênh
thông tin đƣợc nhiều nhà đầu tƣ quan tâm, vì loại BCTC này phản ánh khá
kịp thời những thông tin liên quan đến tài chính của CTNY. Hiện nay, chuẩn
mực kế toán Việt Nam số 27 (BCTC giữa niên độ) đã quy định một số thông
tin mà các doanh nghiệp cần phải công bố trên BCTC giữa niên độ. Tuy
nhiên, do chuẩn mực không quy định mức độ rõ mức độ chi tiết của từng chỉ
tiêu phải công bố, nên trên thực tế doanh nghiệp có thể tùy ý điều chỉnh về

Phạm vi nghiên cứu của luận văn giới hạn trong phạm vi là các BCTC
quý 2 và BCTC bán niên đã soát xét năm 2016 của 100 CTNY (đƣợc lựa
chọn theo phƣơng pháp chọn ngẫu nhiên hệ thống) trên Sở giao dịch chứng
khoán Hà Nội và Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh.
4. P ƣơng p áp ng ên ứu
- Xác định mức độ CBTT tùy ý thông qua việc vận dụng phƣơng pháp
phân tích nội dung. Cụ thể, trên cơ sở thang đo mức độ CBTT tùy ý đã đƣợc
xây dựng trên cơ sở các quy định về CBTT có liên quan, luận văn đã đo
lƣờng mức độ CBTT tùy ý trên BCTC bán niên và quý 2 năm 2016 của các
CTNY đƣợc khảo sát.
- Xác định các nhân tố ảnh hƣởng đến mức độ CBTT tùy ý trên BCTC
bán niên của các CTNY thông qua việc kiểm định mô hình hồi quy. Cụ thể,
trên cơ sở mô hình hồi quy đã đƣợc xây dựng, luận văn đã thực hiện phân tích
hồi quy bằng mô hình hồi quy (kết hợp tất cả các quan sát – Pooled Ordinary
List Squares) để đánh giá mức độ ảnh hƣởng của các nhân tố có liên quan đến
các giả thuyết đã đƣợc xây dựng.


3
5. Bố ụ đề tà
Ngoài phần danh mục các tài liệu tham khảo, phụ lục, bố cục của luận
văn gồm 04 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu về công bố thông tin
tùy ý trên báo cáo tài chính giữa niên độ
Chƣơng 2: Thiết kế nghiên cứu
Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu
Chƣơng 4: Hàm ý chính sách và kết luận
6. Tổng qu n tà l ệu ng

ên ứu

hƣởng của các nhân tố đến mức độ CBTT tự nguyện giữa niên độ, nghiên cứu
của Schadewitz và Blevins [29] đã kiểm tra các yếu tố quyết định về việc
CBTT bắt buộc và tự nguyện trên BCTC giữa niên độ của các CTNY không
thuộc lĩnh vực tài chính ở Phần Lan trong giai đoạn từ năm 1985 đến năm
1993 bằng cách sử dụng phƣơng pháp hồi quy bình phƣơng bé nhất (OLS) và
mức độ CBTT đƣợc đo bằng hệ thống chỉ mục do chính các nhà nghiên cứu
tự xây dựng nên. Nghiên cứu của họ đã chỉ ra rằng rủi ro kinh doanh (đo
lƣờng bằng độ lệch tiêu chuẩn về sự thay đổi tỷ lệ phần trăm trong doanh thu
thuần hoặc độ lệch chuẩn của thay đổi tỷ lệ cố định đến tổng tài sản) và quy
mô doanh nghiệp (đo lƣờng bằng số lƣợng nhân viên) có ảnh hƣởng đáng kể,
cụ thể là có mối quan hệ thuận chiều với mức CBTT của các CTNY; ngƣợc
lại, tiềm năng tăng trƣởng lại có mối quan hệ ngƣợc chiều với mức CBTT.
Ngoài ra, trong lĩnh vực CBTT cũng còn có một số nghiên cứu khác
khảo sát sự ảnh hƣởng của nhân tố đến mức độ CBTT bắt buộc và tự nguyện
trên BCTC năm của các CTNY ở Vƣơng quốc Anh [23] cũng sử dụng hồi quy
OLS. Kết quả đã chỉ ra rằng quyền sở hữu cổ phần của ủy ban kiểm toán có
quan hệ cùng chiều với mức độ CBTT của BCTC giữa niên độ; nhƣng
chuyên môn về kiểm toán tài chính của nhóm kiểm toán có quan hệ nghịch
chiều; còn quy mô của ủy ban kiểm toán lại không có sự liên quan đáng kể
nào. Ngoài ra, quy mô doanh nghiệp (đo lƣờng bằng tổng tài sản), sự tham
gia của kiểm toán viên có mối liên hệ tích cực đáng kể với mức độ CBTT trên


5
BCTC giữa niên độ. Nhƣ vậy, hạn chế là nghiên cứu trên là chỉ dừng lại ở
việc nghiên cứu sự ảnh hƣởng của một số rất ít các nhân tố (đặc biệt là chú
trọng đến các nhân tố thuộc về đặc trƣng của ủy ban kiểm toán) đến mức độ
CBTT trên BCTC giữa niên độ.
Ở các nƣớc đang phát triển nhƣ Malaysia, Ấn Độ, đã có những nghiên
cứu để kiểm tra các mức độ CBTT trên BCTC giữa niên độ và các nhân tố

định sự tác động của các nhân tố đến mức độ CBTT bắt buộc trên BCTC năm.
Trong đó có các nhân tố nhƣ nhân tố khả năng thanh toán [12] hay khả năng
sinh lời và tài sản cố định [11].
Về khía cạnh nghiên cứu về CBTT tự nguyện, có thể kể đến nghiên cứu
của Nguyễn Thị Thu Hào [10], đã nghiên cứu về các nhân tố ảnh hƣởng đến
mức độ CBTT tự nguyện của các CTNY ở Sở Giao dịch chứng khoán thành
phố Hồ Chí Minh. Bà đã sử dụng lý thuyết đại diện, lý thuyết tín hiệu để nhận
diện các nhân tố ảnh hƣởng thông qua phƣơng pháp OLS, kết quả là lợi
nhuận, quy mô và loại hình sở hữu có ảnh hƣởng tích cực đến mức độ CBTT
tự nguyện.
Nhìn chung, các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hƣởng đến mức độ CBTT
ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào CBTT trên BCTC năm, hiếm có nghiên cứu
về CBTT trên BCTC giữa niên độ, và càng hiếm hơn đối loại nghiên cứu về

CBTT tùy ý. Hơn nữa, trong điều kiện áp dụng Thông tƣ 155/2015/TT-BTC
[5]

về CBTT trên sàn giao dịch chứng khoán, thay thế Thông tƣ 52/2012/TT-

BTC [2] trƣớc đó, việc CBTT của các CTNY ít nhiều có thay đổi. Tuy nhiên,
đến nay chƣa có nghiên cứu nào về CBTT tùy ý đƣợc tiến hành trong điều
kiện áp dụng Thông tƣ 155/2015/TT-BTC [5] này. Đây là một khoảng trống
nghiên cứu về mức độ CBTT của các CTNY ở Việt nam.


7
CHƢƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN
CỨU VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TÙY Ý TRÊN

1.1.2. V trò ủ báo áo tà

ín g ữ n ên độ

Thông tin trên BCTC là hệ thống các dữ kiện liên quan đến hoạt động
của các CTNY tham gia trên thị trƣờng chứng khoán. Nguyễn Hữu Cƣờng
[27] đã tóm lƣợc rằng trong những nghiên cứu thời kì đầu trƣớc khi BCTC
giữa niên độ đƣợc quy định bắt buộc phải công bố, các nhà nghiên cứu đã chỉ
ra rằng những nhà đầu tƣ mong muốn biết đƣợc nhiều thông tin hơn trên thị
trƣờng chứng khoán (Sanders, 1934). Do vậy họ cần nhiều BCTC thƣờng
xuyên hơn, nên BCTC giữa niên độ đóng vai trò rất quan trọng.
Nguyễn Hữu Cƣờng [27] cũng tóm lƣợc rằng theo thời gian, BCTC giữa
niên độ trở nên phổ biến hơn, và trong những nghiên cứu ở châu Âu (Opong,
1995) đã chứng minh rằng CBTT trên BCTC giữa niên độ đã cải thiện tình
trạng thông tin bất cân xứng, tác động tích cực đến giá cổ phiếu và các giao
dịch trên thị trƣờng chứng khoán. Nhờ vậy, tính thanh khoản của chứng
khoán trên thị trƣờng đƣợc cải thiện, đồng thời sự giao dịch mua – bán chứng
khoán cũng đƣợc tăng lên.
Đầy đủ hơn, trong một nghiên cứu gần đây, Claudia & Lucia [17] đã chỉ
ra rằng BCTC giữa niên độ cung cấp thông tin kế toán kịp thời cho ngƣời sử
dụng để xây dựng các kế hoạch hoạt động và ra các quyết định đầu tƣ. Đồng
thời, loại BCTC này cũng cung cấp những thông tin ý nghĩa về định hƣớng
phát triển của doanh nghiệp và những thông tin mang tính mùa vụ của một số
hoạt động có thể ảnh hƣởng đến năm tài chính của doanh nghiệp. Những
thông tin này còn hữu ích trong việc giúp ngƣời đọc đánh giá những thay đổi
về quy mô và cấu trúc của doanh nghiệp trong ngắn hạn.
Bên cạnh đó, nghiên cứu của Claudia & Lucia [17] cũng cho rằng BCTC
giữa niên độ có thể cung cấp tình hình cân bằng tài chính của doanh nghiệp,
dựa vào đó ngƣời đọc có thể dự đoán đƣợc nhu cầu tài chính của doanh
nghiệp trong tƣơng lai và có thể nắm bắt nhu cầu vay mƣợn của doanh

mà CTNY không bắt buộc phải công bố. Hay nói cách khách, các CTNY tự


10
nguyện công bố thêm những thông tin này để nhà đầu tƣ có thể hiểu rõ hơn
về tình hình hoạt động của đơn vị mình. Việc CBTT tự nguyện nhằm đáp ứng
tốt hơn và đầy đủ hơn nhu cầu của ngƣời sử dụng. Thông tin tự nguyện công
bố bổ sung những thiếu hụt của thông tin bắt buộc nhằm thỏa mãn nhu cầu
ngƣời sử dụng. Mức độ công bố những thông tin này tùy thuộc vào sự lựa
chọn của doanh nghiệp.
Để đánh giá mức độ CBTT tự nguyện, trong số các nghiên cứu hiện có
về lĩnh vực này, Nguyễn Trọng Nguyên [13] đã tóm lƣợc rằng các nghiên cứu
đã đo lƣờng mức độ công bố những thông tin thuộc loại này thông qua danh
mục thông tin tự nguyện công bố từ những nghiên cứu trƣớc đó hoặc của các
hội nghề nghiệp, dựa trên việc cho điểm từng khoản mục. Khi khảo sát BCTC
của các đơn vị, điểm 1 sẽ đƣợc gán cho những khoản mục có công bố và
điểm 0 sẽ đƣợc gán cho những khoản mục không công bố. Trong đó, danh
mục thông tin tự nguyện công bố có sự khác nhau ở các nghiên cứu khác
nhau. Chẳng hạn nhƣ, danh mục này gồm 71 yếu tố ở nghiên cứu của Jouini
Fathi (2013), hay gồm 72 tiêu chí ở nghiên cứu của Eugene và Stephen (2006)
(theo [27]) Ở Việt Nam, Nguyễn Thị Thu Hào [10] khi nghiên cứu về mức độ
CBTT tự nguyện trên các BCTC năm ở Sở giao dịch chứng khoán thành phố
Hồ Chí Minh đã thiết lập danh mục thông tin công bố tự nguyện dựa trên các
nghiên cứu trên thế giới và Thông tƣ 52 [2] hƣớng dẫn về CBTT trên thị
trƣờng chứng khoán ở Việt Nam. Tiếp đến, bà tiến hành khảo sát lấy ý kiến
của những ngƣời làm trong lĩnh vực kế toán – kiểm toán, tài chính, ngân hàng
về tầm quan trọng của các mục CBTT tự nguyện. Sau khi loại trừ các mục có
điểm thấp hơn điểm trung bình, nghiên cứu này đã đƣa ra đƣợc danh mục
thông tin tự nguyện công bố bao gồm 34 chỉ mục.
Về CBTT bắt buộc: Thông tin phải công bố bắt buộc là các thông tin mà các

nghiên cứu vừ CBTT, còn có loại CBTT tùy ý. CBTT tùy ý là một trƣờng hợp
đặc biệt của CBTT bắt buộc. CBTT tùy ý phát sinh khi những thông tin bắt buộc
phải công bố theo quy định của pháp luật nhƣng chƣa đƣợc các văn bản


12
pháp luật quy định chi tiết về chừng mực (chiều sâu) của thông tin đƣợc công
bố nên doanh nghiệp có thể tùy ý điều chỉnh mức độ CBTT nhiều hay ít. Để
đo lƣờng mức độ CBTT tùy ý, phƣơng pháp tiếp cận không trọng số thƣờng
đƣợc áp dụng trên nhiều nghiên cứu để đánh giá độ sâu của thông tin trên
BCTC. Theo đó, trƣớc hết từng mục thông tin đƣợc đánh giá là có đƣợc công
bố hay không và sau đó bản thân từng mục thông tin đƣợc đánh giá ở bƣớc
tiếp theo là đã đƣợc đơn vị công bố chi tiết đến mức độ nào; tƣơng ứng với
từng mức độ chi tiết là các trọng số khác nhau. Nhƣ vậy, phƣơng pháp đo
lƣờng này khác với phƣơng pháp đo lƣờng có trọng số đã nêu trên ở điểm là
trọng số đƣợc so sánh bởi bản thân trong từng mục tin chứ không phải giữa
các mục tin với nhau. Chẳng hạn, trong nghiên cứu của Botosan (1997) hay
nghiên cứu của Inchausti (1997) (theo [27]), các điểm số từ 0 đến 3 đƣợc gán
cho các mức độ CBTT của từng mục thông tin. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu
còn có thể thêm vào việc gán cho một mục thông tin giá trị “không thích hợp”
để loại trừ những mục thông tin này khi xác định chỉ số CBTT mục thông tin
này hiển nhiên không phát sinh doanh nghiệp đƣợc khảo sát và do vậy không
phải công bố trên BCTC tƣơng ứng [27].
1.2. LÝ THUYẾT KHUNG VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TÙY Ý
Trên thực tế, mức độ CBTT tùy ý của các doanh nghiệp là khác nhau do
nhiều yếu tố. Đó có thể là do mục đích của nhà quản lý, yêu cầu cung cấp
thông tin của ngƣời sử dụng hoặc do sự cân đối về mặt chi phí – lợi ích khi
CBTT, v.v. Sự ảnh hƣởng của các nhân tố đến mức độ CBTT nói chung và
thông tin tùy ý nói riêng có thể đƣợc lý giải theo nhiều lý thuyết khác nhau
trong các nghiên cứu trƣớc đây thuộc lĩnh vực CBTT, gồm lý thuyết thông tin

1.2.2. Lý t uyết tín

ệu

Tiếp tục phát triển lý thuyết của Akerlof [16], Spence [32] đã nghiên cứu
trên thị trƣờng lao động. Spence [32] xem việc thuê lao động là một quyết


14
định đầu tƣ không chắc chắn. Tính không chắc chắn ở đây là việc thuê lao
động mà ngƣời chủ không biết đƣợc khả năng đóng góp, khả năng tạo ra
năng suất của ngƣời lao động là bao nhiêu. Vì thế, việc thuê lao động có thể
thuê đƣợc lao động có chất lƣợng hoặc không. Một trong những phƣơng
cách giúp ngƣời chủ thuê đƣợc lao động có năng lực đó là ông chủ có thể
xem qua chất lƣợng bằng cấp, kinh nghiệm làm việc, v.v. của ngƣời lao động
hoặc có thời gian thử việc. Đó đƣợc gọi là những tín hiệu đƣợc phát ra của
ngƣời lao động. Nhƣ vậy, việc phát tín hiệu này đã làm giảm thông tin bất
cân xứng giữa những ngƣời lao động và ông chủ.
Đối với các CTNY, các nhà quản lý CBTT ra thị trƣờng một cách tự
nguyện và đƣa các tín hiệu đến nhà đầu tƣ. Do vậy, CBTT là một trong
những công cụ mà các công ty dùng để tạo ra sự khác biệt về chất lƣợng hoạt
động của đơn vị mình so với đơn vị khác. CBTT đƣợc xem là tín hiệu của
riêng công ty phát ra cho nhà đầu tƣ; chẳng hạn nhƣ tín hiệu (thông qua
CBTT) nhằm thu hút đầu tƣ nhƣ sự tăng trƣởng về quy mô, lợi nhuận và khả
năng thanh toán nhanh, hoặc là tín hiệu về nhu cầu vay vốn nhƣ tính tự chủ
về tài chính, v.v.
Vì vậy, khi vận dụng lý thuyết này, các nhà nghiên cứu đã kiểm chứng sự
ảnh hƣởng của các nhân tố nhƣ quy mô, lợi nhuận hay sự tăng trƣởng đến
mức độ CBTT trên BCTC (chẳng hạn nhƣ, [13], v.v).
1.2.3. Lý t uyết đạ

Vận dụng lý thuyết đại diện, các nhà nghiên cứu thƣờng kiểm chứng ảnh
hƣởng của các nhân tố đến mức độ CBTT gồm mức độ độc lập của hội đồng
quản trị HĐQT với ban giám đốc (BGĐ), tỉ lệ sở hữu cổ phiếu của nhà quản
lý, tỉ lệ vốn nhà nƣớc trên vốn điều lệ (chẳng hạn nhƣ, [13], [10], v.v).
1.2.4. Lý t uyết t ông t n bất ân xứng
Có nhiều nghiên cứu liên quan đến lý thuyết thông tin bất cân xứng.
Akerlof [16] là ngƣời đầu tiên giới thiệu về lý thuyết thông tin bất cân xứng
vào những năm 1970. Thông tin bất cân xứng xảy ra khi một bên giao dịch có
ít thông tin hơn bên đối tác hoặc có thông tin nhƣng thông tin không chính
xác. Điều này khiến cho bên có ít thông tin hơn có những quyết định không
chính xác khi thực hiện giao dịch đồng thời bên có nhiều thông tin hơn cũng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status