ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------------------
NGUYỄN BẢO THOA
NGƢỜI KỂ CHUYỆN
TRONG TIỂU THUYẾT MA VĂN KHÁNG
(qua Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy giá thú,
Côi cút giữa cảnh đời)
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Hà Nội - 2018
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------------------
NGUYỄN BẢO THOA
NGƢỜI KỂ CHUYỆN
TRONG TIỂU THUYẾT MA VĂN KHÁNG
(qua Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy giá thú,
Côi cút giữa cảnh đời)
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60.22.01.20
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Đoàn Đức Phƣơng
Hà Nội, ngày 19 tháng 4 năm 2018
Học viên
Nguyễn Bảo Thoa
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài......................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................ 3
3. Đối tƣợng, mục đích và phạm vi nghiên cứu............................................. 7
4. Phƣơng pháp nghiên cứu ........................................................................... 8
5. Cấu trúc luận văn ....................................................................................... 9
Chƣơng 1. KHÁI LƢỢC VỀ NGƢỜI KỂ CHUYỆN VÀ HÀNH TRÌNH
SÁNG TÁC CỦA MA VĂN KHÁNG ......................................................... 10
1.1. Giới thuyết về ngƣời kể chuyện trong tác phẩm tự sự .................... 10
1.2. Phân loại ngƣời kể chuyện ................................................................. 13
1.3. Chức năng của ngƣời kể chuyện trong tác phẩm tự sự .................. 15
1.3.1. Người kể chuyện với chức năng tổ chức kết cấu tác phẩm ............ 15
1.3.2. Người kể chuyện với chức năng dẫn dắt người đọc tiếp nhận thế
giới nghệ thuật của tác phẩm ................................................................... 17
1.3.3. Người kể chuyện thay mặt nhà văn trình bày quan điểm về cuộc
sống, nghệ thuật ........................................................................................ 18
1.4. Hành trình sáng tác của Ma Văn Kháng .......................................... 20
1.4.1. Cuộc đời và sự nghiệp văn học ....................................................... 20
1.4.2. Quan điểm nghệ thuật của Ma Văn Kháng .................................... 24
Tiểu kết ........................................................................................................ 26
Chƣơng 2. NGƢỜI KỂ CHUYỆN VỚI NGÔI KỂ VÀ ĐIỂM NHÌN
TRẦN THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT MA VĂN KHÁNG ................ 28
2.1 Ngôi kể trần thuật ................................................................................ 28
Tiểu kết ...................................................................................................... 102
KẾT LUẬN .................................................................................................. 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 107
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Sau đại thắng Mùa xuân năm 1975, cả nƣớc ta bƣớc vào kỉ nguyên độc
lập, thống nhất và đi lên Chủ nghĩa xã hội. Cùng với niềm hân hoan chiến
thắng khi giang sơn thu về một mối, đất nƣớc ta phải đối mặt với biết bao khó
khăn và thách thức khi nền kinh tế khủng hoảng trầm trọng. Vì thế, yêu cầu
đổi mới xã hội là hết sức bức thiết. Văn học là một loại hình nghệ thuật, một
hình thái ý thức xã hội đặc thù luôn vận động, biến chuyển. Diễn tiến của văn
học nhƣ một hệ thống chỉnh thể với sự hình thành, tồn tại, phát triển qua các
thời kì lịch sử. Bởi vậy có thể nói, văn học là con đẻ của thời đại, mang nhịp
đập, dáng dấp, hơi thở của thời đại. Nó là một phần da thịt của lịch sử. Nếu ví
văn học nhƣ một dòng sông uốn mình theo chiều dài của lịch sử dân tộc thì
những biến động từ bối cảnh lịch sử đã làm cho dòng sông ấy cuộn sóng, trào
dâng lên những dòng chảy khác nhau.
Giai đoạn 1975 – 1985 đƣợc coi là giai đoạn khởi động của văn học
thời kỳ Đổi mới. Văn học nghệ thuật lúc này vẫn vận động theo quán tính của
văn học thời chiến. Đề tài về chiến tranh và ngƣời lính vẫn là đề tài cơ bản
của nhiều sáng tác văn học. Các sáng tác ấy vẫn thể hiện nhãn quan giá trị và
nguyên tắc tƣ duy nghệ thuật của nền văn học sử thi viết theo phƣơng pháp
hiện thực xã hội chủ nghĩa.
Sau năm 1986, văn học Việt Nam thực sự chuyển mình với những bƣớc
tiến lớn. Văn xuôi nói chung, tiểu thuyết nói riêng đã có sự lột xác và cách tân
mạnh mẽ. Đổi mới văn học suy đến cùng là đổi mới quan niệm: quan niệm về
con ngƣời, về đời sống và quan niệm về bản thân văn học nghệ thuật. Với khả
năng đi sâu phân tích, khám phá những giá trị thuộc về con ngƣời, tiểu thuyết
đời. Với các công trình nhƣ luận văn, luận án tiến sĩ cũng đã đi vào các khía
cạnh chuyên biệt nhƣ: kiểu nhân vật, cảm hứng nghệ thuật hoặc những dấu
hiệu đổi mới văn học qua những sáng tác của ông. Tuy nhiên, chƣa có công
trình nào, đi sâu, tìm hiểu, nghiên cứu tiểu thuyết Ma Văn Kháng từ góc độ
2
ngƣời kể chuyện qua điểm nhìn trần thuật, ngôn ngữ trần thuật và giọng điệu
trần thuật để cảm nhận một cách sâu sắc về quan niệm của nhà văn về hiện
thực cuộc sống và con ngƣời trong một giai đoạn phát triển đầy phức tạp của
xã hội Việt Nam.
Với những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn vấn đề Người kể
chuyện trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng (qua Mùa lá rụng trong vườn,
Đám cưới không có giấy giá thú, Côi cút giữa cảnh đời ) làm đề tài nghiên
cứu của mình.
2. Lịch sử vấn đề
Ma Văn Kháng với gia tài tác phẩm khá đồ sộ trong gần nửa thế kỉ cầm
bút đã đặt rất nhiều tâm huyết vào những trang văn của đời mình. Chất liệu
làm nên những tác phẩm của ông, chẳng phải đâu xa mà chính là cuộc sống
gần gũi, hằng ngày. Ngày từ năm 1959, khi tác phẩm Phố cụt ra đời, và đặc
biệt những tác phẩm xuất hiện trong giai đoạn đầu những năm 80 của thế kỉ
XX, tên tuổi nhà văn Ma Văn Kháng đã đƣợc đông đảo độc giả, dƣ luận và
ngƣời trong giới quan tâm. Có nhiều công trình nghiên cứu, phê bình của giáo
sƣ Phong Lê, Lã Nguyên, Trần Đăng Xuyền, Nguyễn Bích Thu...Trong sự
nghiệp của mình, Ma Văn Kháng thành công nhất trong lĩnh vực tiểu thuyết,
khi nhắc đến ông, ngƣời ta không thể không nhắc đến những cái tên nhƣ:
Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy giá thú, Côi cút giữa
cảnh đời...
Với vai trò là một trong những cuốn sách "tiền trạm" của Đổi mới mà ở
đó chứa đựng nhiều dự báo sáng suốt, ngay khi vừa ra đời, Mùa lá rụng
thẳng vào cuộc sống của những gia đình với mỗi ngƣời. Trong “Đọc Mùa lá
rụng trong vườn” in trong tạp chí Văn hóa nghệ thuật, tác giả Trần Bảo
Hƣng cũng viết: “ Cần giữ gìn truyền thống văn hóa dân tộc cùng với nếp
sống của gia đình Việt Nam cùng sự đổi mới và thích ứng của nó trong xã hội
mới. Tuy nhiên giữ vững tất cả sẽ không tránh khỏi đổ vỡ, sứt mẻ, nhƣng
muốn thoát ly truyền thống, phá vỡ tất cả cũng sẽ dẫn tới bi kịch.” [14; tr.37]
4
Tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn có thể coi là đỉnh cao trong sự
nghiệp của Ma Văn Kháng. Tác phẩm đã đƣợc đạo diễn Quốc Trọng dựng
thành một bộ phim 19 tập với tên Mùa lá rụng. Nhận xét về cuốn tiểu thuyết
này, Vân Thanh cho rằng : “Có thể xem Mùa lá rụng trong vườn là một tiếng
nói của tác giả trƣớc hiện thực hôm nay: Một tiếng nói về quan hệ giữa cá
nhân, gia đình và xã hội về trách nhiệm của mỗi ngƣời đối với cuộc sống dành
cho mỗi ngƣời...tác phẩm đã khơi đƣợc vào dòng chảy cuộc sống chúng ta hôm
nay, đã lấy ra một mảng tƣơi nguyên của cuộc sống đó, gợi cho ta biết bao suy
nghĩ về nó, lo lắng, băn khoăn về nó, và cũng hi vọng, tin yêu ở nó. Từ đó đặt
ra cho mỗi chúng ta một thái độ sống, một trách nhiệm sống.” [43; tr.14]
Nghiên cứu tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú, Vũ Dƣơng
Quỹ có bài viết: Phải chăng đời là một vại dưa muối hỏng?, Nguyễn Văn Lƣu
viết Nếu Đám cưới không có giấy giá thú. Còn tác giả Mai Thục có bài Đám
cưới không có giấy giá thú có tính chất luận đề về mối quan hệ giữa những
giá trị văn hóa và đời sống con người. Trong bài viết: “Đọc Đám cưới không
có giấy giá thú”, Lê Thanh Hùng đã cho rằng: “Bằng cách nhìn tinh tế vào
hiện thực đời sống, tác giả đã mô tả những ngƣời giáo viên sống và làm việc
gặp quá nhiều khó khăn. Những vui buồn của thời thế đã phản ánh vào những
trang tiểu thuyết trở nên sống động”.[13; tr.21] Và tác giả nhấn mạnh: “Ma
Văn Kháng đã có cái nhìn hiện thực, tỉnh táo, nên không bị thói xấu, cái bất
bình thƣờng vốn nảy sinh trong xã hội đang vận động lấn át, hoặc chỉ thấy
tranh cuộc sống với những cuộc đấu tranh thể hiện nhiều bình diện, sắc thái
khác nhau. Đó là cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác...Tất cả đƣợc thể hiện
bằng ngòi bút mềm mại, uyển chuyển, ngôn ngữ hóm hỉnh, phong phú sắc
màu: kết thúc có hậu kiểu truyện cổ dân gian của tác giả Ma Văn Kháng.”
[35; tr.18]. Trong Ma Văn Kháng - sống rồi mới viết, về tiểu thuyết Côi cút
giữa cảnh đời, chính tác giả tâm sự: “Đó chính là cuốn sách tôi viết về gia
đình mình. Trong đó có hình ảnh của mẹ tôi, một ngƣời tôi luôn yêu thƣơng
kính trọng và không cầm đƣợc nƣớc mắt khi nghĩ đến” [20; tr.6]
6
Bên cạnh đó, cùng có nhiều luận văn, luận án nghiên cứu về tiểu
thuyết của Ma Văn Kháng nhƣ: Đặc điểm truyện ngắn Ma Văn Kháng (1997),
của Phạm Mai Anh, Đại học Sƣ phạm Hà Nội. Luận văn thạc sĩ của Lê Thanh
Hùng – Tiểu thuyết Ma Văn Kháng thời kỳ đầu Đổi mới ( Giai đoạn sáng tác
1980 -1989)- Đại học sƣ phạm Thái Nguyên. Nghệ thuật tiểu thuyết Ma Văn
Kháng thời kì đổi mới của Dƣơng Thị Hồng Liên – Đại học Sƣ phạm Thái
Nguyên, Đổi mới Nghệ thuật tổ chức cốt truyện trong tiểu thuyết Ma Văn
Kháng (2013) của Trần Thị Hoa – Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2, Cảm hứng phê
phán trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng (2013) của Nguyễn Thị Thuần – Đại
học Khoa học Xã hội & Nhân văn - ĐHQGHN, Yếu tố tự thuật trong tiểu
thuyết Ma Văn Kháng ( 2013) của Nguyễn Thị Phƣợng - Đại học Khoa học
Xã hội & Nhân văn - ĐHQGHN...
Từ việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu, các bài viết về tiểu thuyết
của Ma Văn Kháng ở từng khía cạnh cụ thể, chúng tôi có thêm cái nhìn đầy đủ,
toàn diện về đối tƣợng nghiên cứu của mình. Dù đã có khá nhiều các vấn đề đã
phần nào đƣợc làm sáng tỏ, nhƣng chúng tôi nhận thấy yếu tố Người kể chuyện
trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng chƣa đƣợc tìm hiểu, nghiên cứu một cách cụ
thể, triệt để. Chính lí do đó đã thúc đẩy chúng tôi nghiên cứu đề tài này.
3. Đối tƣợng, mục đích và phạm vi nghiên cứu
Trong quá trình thƣc hiện luận văn, chúng tôi sẽ trích dẫn một số đoạn
trích tiêu biểu trong các tác phẩm để đƣa ra những phân tích, đánh giá, minh
họa cho những lập luận của mình. Qua đó, chúng tôi tiến hành tổng hợp để để
đánh giá, làm rõ các khía cạnh thẩm mĩ trong thế giới nghệ thuật tiểu thuyết
của nhà văn cũng nhƣ phong cách nghệ thuật của Ma Văn Kháng.
4.2. Phương pháp lịch sử - xã hội
Văn chƣơng không nằm ngoài cuộc sống. Văn chƣơng nói chung và văn
chƣơng của Ma Văn Kháng nói riêng đều mang hơi thở của thời đại. Vì thế,
nếu không xem xét yếu tố hiện thực đời sống, xã hội thì không thể nào thấy
đƣợc những thay đổi, những thành tựu đạt đƣợc của văn học. Sử dụng phƣơng
8
pháp lịch sử - xã hội sẽ giúp cho việc lý giải những cơ sở thực tiễn và nguyên
nhân chuyển hƣớng của nghệ thuật trong tác phẩm của Ma Văn Kháng.
4.3. Phương pháp so sánh
Văn học chịu sự chi phối rất mạnh mẽ của hoàn cảnh xã hội. Sự đổi mới,
chuyển biến của xã hội cùng nghĩa với việc kéo theo sự chuyển biến đổi mới
của văn học. Sử dụng phƣơng pháp so sánh (đồng đại và lịch đại) giúp chúng
tôi có sự so sánh sự chuyển hƣớng nghệ thuật về phƣơng diện ngƣời kể chuyện
trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng với các tác giả và tác phẩm cùng thời.
5. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính
của luận văn gồm 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Khái lƣợc về ngƣời kể chuyện và hành trình sáng tác của Ma Văn
Kháng
Chƣơng 2: Ngƣời kể chuyện với ngôi kể và điểm nhìn trần thuật trong tiểu
thuyết Ma Văn Kháng
Chƣơng 3: Ngƣời kể chuyện với ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật trong tiểu
thuyết Ma Văn Kháng
thuật từ ngôi thứ ba không nhân vật hóa, mà đằng sau là tác giả. Nhƣng ngƣời
10
trần thuật có thể hoàn toàn xuất hiện trong tác phẩm với hình thức một cái
“tôi” nào đó. Những ngƣời trần thuật đƣợc nhân vật hóa nhƣ vậy, kể câu
chuyện từ ngôi thứ nhất của chính mình, có thể gọi một cách tự nhiên là ngƣời
kể chuyện.”.[36; tr.46]
Để định nghĩa về khái niệm ngƣời kể chuyện, Tz Todorov cho rằng:
“Ngƣời kể chuyện là yếu tố tích cực trong việc kiến tạo thế giới tƣởng tƣợng.
Không thể có trần thuật thiếu ngƣời kể chuyện. Ngƣời kể chuyện không nói
nhƣ các nhân vật tham thoại khác mà kể chuyện. Nhƣ vậy kết hợp trong mình
đồng thời cả nhân vật cả ngƣời kể, nhân vật mà nhân danh nó cuốn sách đƣợc
kể có một vị thế hoàn toàn đặc biệt.”[46;tr.79]. Trong khi đó W. Kayser viết
về ngƣời kể chuyện nhƣ sau: “Trong nghệ thuật kể, ngƣời kể chuyện không
bao giờ là tác giả đã hay chƣa từng biết đến, mà là một vai trò đƣợc tác giả
nghĩ ra và ƣớc định.” [48; tr.168]. Tiếp đó ông cho rằng: “Ngƣời trần thuật đó
là một hình hài đƣợc sáng tạo ra, thuộc về toàn bộ chỉnh thể tác phẩm văn
học. Ở nghệ thuật kể không bao giờ ngƣời trần thuật là vị tác giả đã hay chƣa
nổi danh, nhƣng là cái vai mà tác giả bịa ra, chấp nhận.” [48; tr.245]
Trong giới nghiên cứu Việt Nam, Giáo sƣ Trần Đình Sử cho rằng:
“Mọi nội dung, tƣ tƣởng, ý đồ sáng tạo đều do tác giả nghĩ ra, nhƣng anh ta
không trực tiếp đứng ra trần thuật, mà sáng tạo ra một ngƣời trần thuật để
thay mình làm điều đó. Khi sáng tác, nhà văn nhƣ ngƣời chép hộ lời lẽ của
ngƣời trần thuật do mình sáng tạo ra.” [42; tr.145]
Còn theo nhà nghiên cứu Ngô Tự Lập thì ngƣời kể chuyện có vai trò
nhƣ một “kẻ mang thông điệp” chuyển tải những thông điệp từ ngƣời phát
ngôn đến ngƣời nhận: “Các thông điệp của một văn bản bao giờ cũng đƣợc
chuyển đi, trực tiếp hoặc gián tiếp, nhờ một hay một vài phát ngôn viên
(speaker, hoặc narrator), mà tôi gọi là kẻ mang thông điệp: một ngƣời sĩ quan
mở, sắp đặt câu chuyện đƣợc kể. Ngƣời kể chuyện có thể là bất cứ ai, con
ngƣời của quá khứ hoặc tƣơng lai, nhƣng là ngƣời kể lại câu chuyện trong tác
phẩm bằng một chỗ đứng, một điểm nhìn phù hợp với ý đồ sáng tạo của nhà
12
văn. Ngƣời kể chuyện có thể xuất hiện, hoặc ẩn, có thể trực tiếp tham gia câu
chuyện, có thể không. Thậm chí, có một hoặc nhiều ngƣời kể chuyện, lúc đó
sẽ xuất hiện các tầng bậc trần thuật khác nhau. Nhƣng dù dƣới hình thức nào
đi chăng nữa thì ngƣời kể chuyện cũng là ngƣời phát ngôn cho câu chuyện.
Anh ta đứng từ đâu để quan sát và kể câu chuyện đó thì đó chính lầ điểm nhìn
của tác phẩm. Tác giả là ngƣời sáng tạo ra ngƣời kể chuyện, nhƣng cả khi tác
giả xƣng “tôi” để kể thì giữa ngƣời kể chuyện và tác giả cũng không thể là
một, giữa họ có một khoảng gián cách.
Tóm lại, có nhiều quan điểm khác nhau về ngƣời kể chuyện, song tất cả
đều thống nhất ở điểm khẳng định vai trò của nhân vật này. Bởi trong tiểu
thuyết hiện đại, cái ngƣời ta quan tâm nhất là cách kể chứ không chỉ đơn
thuần là cái đƣợc kể. Ngƣời kể chuyện lúc đó nắm vai trò rất quan trọng tạo
nên cái cách kể đó.
1.2. Phân loại ngƣời kể chuyện
Ngƣời kể chuyện nắm một vai trò rất quan trọng trong tác phẩm văn
học. Đó là ngƣời sắp đặt, môi giới, dẫn dắt các sự kiện, kể lại câu chuyện
trong tác phẩm. Trong các công trình tự sự học, có rất nhiều cách phân loại
ngƣời kể chuyện đƣợc các nhà nghiên cứu đƣa ra. Và ngƣời kể chuyện cũng
đƣợc gọi bằng nhiều tên khác nhau: ngƣời kể chuyện ở ngôi thứ nhất và ngƣời
kể chuyện ở ngôi thứ ba, ngƣời kể chuyện chứng nhân, ngƣời kể chuyện sử
quan, ngƣời kể chuyện toàn tri...
Trong một truyện kể có ít nhất một ngƣời kể chuyện. Ngƣời đó có thể
công khai hoặc mờ nhạt, có thể đƣợc nhận biết thông qua những chi tiết trong
văn bản. Nhân vật này hiện diện khắp nơi trong tác phẩm, có khả năng tự nhận
Người kể chuyện hàm ẩn: là ngƣời kể chuyện ở ngôi thứ ba không xuất
hiện trực tiếp trong tác phẩm, không thuộc vào thế giới truyện kể, mà ở cách
xa, ở trên, ở ngoài quan sát và kể lại câu chuyện các nhân vật. Ngƣời kể
chuyện hàm ẩn có thể chia thành các trƣờng hợp sau:
14
+ Ngƣời kể chuyện hàm ẩn kể theo điểm nhìn của chính mình, chỉ nhƣ
một ngƣời quan sát, miêu tả những hành động bên ngoài của nhân vật mà
không biết gì thế giới nội tâm của nhân vật. Ngƣời kể chuyện thuật lại câu
chuyện một cách khách quan, lạnh lùng hoặc luôn sẵn sàng xen vào giữa câu
chuyện để giải thích, bình luận.
+ Ngƣời kể chuyện toàn tri: đứng ngoài thế giới đƣợc trình bày để
quan sát, kể và bình luận, lý giải, am tƣờng mọi chuyện.
+ Ngƣời kể chuyện hàm ẩn dựa vào điểm nhìn của một nhân vật trong
truyện để kể. Ngƣời kể chuyện thấu đáo thế giới nội tâm, kể cả những suy nghĩ
thầm kín nhất của nhân vật. Anh/ cô ta đã hòa nhập vào nhân vật đến mức ta
khó có thể phân biệt giọng kể của anh/ cô ta với giọng kể của nhân vật.
Nhìn chung, xu hƣớng của nghệ thuật tự sự hiên đại là rời bỏ tính “biết
tuốt” của ngƣời kể chuyện, vận động đi đến sự khách quan, chân thực trong
trần thuật. Sự hiện diện, can thiệp vào thế giới truyện kể của ngƣời kể chuyện
ngày càng giảm đi, thay vào đó, ngƣời đọc sẽ đƣợc tiếp xúc trực tiếp với nhân
vật, sự kiện.
1.3. Chức năng của ngƣời kể chuyện trong tác phẩm tự sự
Việc nhà văn lựa chọn kiểu ngƣời kể chuyện nào để kể không bao giờ
là một sự ngẫu nhiên. Khi lựa chọn bất cứ kiểu ngƣời kể chuyện nào, tác giả
qua đó đều gửi gắm những ý tƣởng, tâm tƣ, tình cảm của mình.
1.3.1. Người kể chuyện với chức năng tổ chức kết cấu tác phẩm
Ngƣời kể chuyện có chức năng tổ chức hệ thống các sự kiện, liên kết
chuyển, ở đó quá khứ, hiện tại, tƣơng lai đều có khả năng đồng hiện và những
giấc mơ có sức ám ảnh dữ dội đến cuộc đời nhân vật.
Nhƣ vậy, ngƣời kể chuyện đóng một vai trò rất quan trọng trong việc
định hƣớng, lựa chọn kết cấu, hình thức cốt truyện cho tác phẩm tự sự. “Khái
niệm hình tƣợng tác giả nói lên bản chất của tác phẩm nghệ thuật và là nơi tập
trung sự thống nhất về tƣ tƣởng, kết cấu, hình tƣợng và ngôn từ của tác phẩm.
Đó là phạm trù thi pháp cao nhất quyết định đặc điểm và nội dung của cấu
16
trúc tác phẩm, quyết định cả tính khuynh hƣớng và sự triển khai tác phẩm
đó.”[12; tr.215]
1.3.2. Người kể chuyện với chức năng dẫn dắt người đọc tiếp nhận
thế giới nghệ thuật của tác phẩm
Ngoài vai trò là ngƣời tổ chức kết cấu trong tác phẩm tự sự, ngƣời kể
chuyện còn có chức năng dẫn dắt ngƣời đọc tiếp nhận thế giới nghệ thuật của
tác phẩm. Có nghĩa là ngƣời kể chuyện giữ vai trò trung giới giữa tác giả, tác
phẩm và ngƣời đọc. Ngƣời kể chuyện sẽ đƣa ngƣời đọc tiếp cận với từng tính
cách, số phận của từng nhận vật. Qua đó sẽ giúp độc giả thấu hiểu, đồng cảm
với nhân vật và câu chuyện đƣợc kể.
Vai trò của ngƣời kể chuyện là tổ chức hệ thống hình tƣợng nhân vật,
từ đó tổ chức các quan hệ của nhân vật dƣới các hình thức nhƣ: đối lập, tƣơng
phản hay bổ sung nhau. Trong Đám cưới không có giấy giá thú, nhƣ một
ngƣời quan sát đứng bên ngoài câu chuyện, ngƣời kể chuyện tƣờng thuật lại
những hành động, lời nói, suy nghĩ của các nhân vật. Đó là cuộc sống của
những ngƣời tri thức trong một ngôi trƣờng trung học, nhƣng mỗi ngƣời
mang một tính cách, một nội tâm khác nhau. Tự là một giáo viên dạy văn tài
năng, đức độ nhƣng anh phải sống trong bi kịch gia đình và làm việc trong
một tập thể giáo viên với những ngƣời đứng đầu là Dƣơng, Cẩm thiển cận và
hẹp hòi. Mùa lá rụng trong vườn cũng là một cuốn tiểu thuyết mà ở đó ngƣời
đời mà tác giả gửi gắm.
Trong một lần chia sẻ với báo chí, nhà văn Ma Văn Kháng đã tâm sự:
“Nhân vật trong tiểu thuyết, truyện ngắn ít nhiều đều là phân thân của tác giả,
ít nhất thì chúng cũng phản ánh quan niệm nhân sinh, thẩm mỹ của nhà văn,
cha đẻ ra chúng. Đó gần nhƣ là quy tắc của nghệ thuật. Các nhân vật của tôi
cũng vậy. Chúng vừa là tôi vừa không phải là tôi. Nói cách khác, tôi vừa sống
trong bóng hình họ vừa tách ra khỏi họ để phân tích, lý giải, mở đƣờng cho
họ. Khắc khoải, trăn trở, đau đớn nhƣng lại phải đứng cao hơn bi kịch thì mới
có ích cho cuộc sống. Nói chung, mô hình nhân vật của tôi phản ánh quan
niệm thẩm mỹ của tôi: Cái đẹp thật sự là cái đẹp khi ra đời trong bi tráng,
trong đớn đau, thiệt thòi với tâm thức ngạo nghễ, ngẩng cao đầu!”. [20; tr.14]
18
Qua tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn, nhà văn Ma Văn Kháng
gióng lên hồi chuông cảnh báo về sự lung lay của những giá trị truyền thống
trong gia đình, sự biến chất của những cá nhân, không thể đứng vững trƣớc sự
cám dỗ của đồng tiền. Bên cạnh đó nhà văn cũng lên tiếng kêu gọi con ngƣời
hãy giữ lấy truyền thống tốt đẹp của ông cha. Gia đình là nơi thiêng liêng nhất
kết nối tình thân, là nơi những cánh chim bay mỏi trở về tìm chỗ trú. Và cuối
cùng, tác giả chỉ ra rằng, sau tất cả những biến cố, chỉ có gia đình là nơi bến
đỗ an toàn, bình yên nhất cho những con ngƣời đã từng mắc sai lầm. Tiểu
thuyết Đám cưới không giấy giá thú ra đời đã tạo ra một cuộc tranh luận sôi
nổi, dài dòng trên báo chí và ở bàn hội nghị. Giáo sƣ Phan Cự Đệ nhận xét:
“Tiểu thuyết này đã phản ánh đƣợc cái bi kịch của nhà giáo, một trí thức bị
ném vào một môi trƣờng mà các giá trị tinh thần bị đảo lộn” [5; tr.126]. Đây
là tiểu thuyết có tính luận đề sâu sắc, xung quanh về đề tài ngƣời trí thức, tác
giả đã đề cập đến những vấn nạn của tình hình giáo dục nói chung, tình trạng
tha hóa của một bộ phận giáo viên nói riêng. Đặc biệt, tác phẩm đã đề cập
trực tiếp đến vấn đề nhân cách của ngƣời thầy giáo trong cơ chế đời sống mới.