Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại ngân hàng thương mại việt nam - Pdf 52

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

NGÂN HÀNG NHÀ NƢỚC VIỆT NAM

TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP. HỒ CHÍ MINH

----------

CHU MINH DUY

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN NỢ XẤU
TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

NGÂN HÀNG NHÀ NƢỚC VIỆT NAM

TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP. HỒ CHÍ MINH

----------

CHU MINH DUY

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN NỢ XẤU
TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VIỆT NAM



LỜI CAM ĐOAN
Luận văn này chưa từng được trình nộp để lấy học vị thạc sĩ tại bất cứ một
trường đại học nào. Luận văn này là công trình nghiên cứu riêng của tác giả, kết quả
nghiên cứu là trung thực, trong đó không có các nội dung đã được công bố trước
đây hoặc các nội dung do người khác thực hiện ngoại trừ các trích dẫn được dẫn
nguồn đầy đủ trong luận văn.
Tác giả luận văn

Chu Minh Duy


LỜI CÁM ƠN
Trước hết, tôi xin gởi lời cám ơn đến TS. Bùi Diệu Anh (Khoa Ngân hàng, Đại
học Ngân hàng TPHCM), người trực tiếp hướng dẫn thực hiện đề tài này. Xin cám
ơn cô vì những lời khuyên hữu ích cho đề tài, hướng dẫn cách thức bố cục cũng như
tận tình sửa chữa những điểm sai sót, những chi tiết quan trọng trong đề tài.
Đồng thời, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình và các đồng nghiệp tại
cơ quan đã tạo những điều kiện hết sức thuận lợi cũng như dành những lời động
viên, chia sẻ để tôi có thể hoàn thành luận văn này.
Chu Minh Duy
30/10/2017


MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT.....................................................................................i
DANH MỤC BẢNG BIỂU ...................................................................................... ii
DANH MỤC HÌNH ẢNH ....................................................................................... iii
LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................1
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN .....5


KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 ........................................................................................49
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG
THƢƠNG MẠI VIỆT NAM ..................................................................................50
3.1. GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI ....................50
3.2. KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG NHÀ NƢỚC ..................................55
3.3. KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CHÍNH PHỦ, CÁC BỘ NGÀNH..........................58
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 ........................................................................................61
KẾT LUẬN CHUNG .............................................................................................. 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................63
PHỤ LỤC 1: TỔNG HỢP DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU .........................................66


i

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt

Ý nghĩa

ACB

Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu

BCTC

Báo cáo tài chính

BIDV


NHTMCP

Ngân hàng thương mại cổ phần

NHTMNN

Ngân hàng thương mại nhà nước

NHTMVN

Ngân hàng thương mại Việt Nam

NHNN

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

RRTD

Rủi ro tín dụng

SGDCK

Sở Giao dịch Chứng khoán

SHB

Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội

STB



ii

DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Phân loại nhóm nợ theo phương pháp định lượng

7

Bảng 1.2: Bảng mô tả các biến chính được sử dụng trong nghiên cứu

16

Bảng 2.1: Danh sách văn bản quy định về phân loại nợ xấu tại Việt Nam

28

Bảng 2.2: Bảng mô tả các biến đo lường được sử dụng trong nghiên cứu

41

Bảng 2.3: Giả thuyết nghiên cứu

42

Bảng 2.4: Kết quả ước lượng với mô hình Pooled OLS

43

Bảng 2.5: Kết quả ước lượng với mô hình FEM


Hình 2.2: Quy mô vốn chủ sở hữu của 8 NHTM

23

Hình 2.3: Quy mô vốn điều lệ của 8 NHTM

23

Hình 2.4: Dư nợ tín dụng của 8 NHTM

24

Hình 2.5: Tốc độ tăng trưởng dư nợ, tăng trưởng huy động vốn của hệ thống
Ngân hàng Việt Nam và tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2009 – 2016

25

Hình 2.6: Tốc độ tăng trưởng dư nợ ngắn, trung và dài hạn của 8 NHTM giai
đoạn 2009 – 2016

27

Hình 2.7: Tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống ngân hàng giai đoạn 2008-2016

30

Hình 2.8: Tỷ lệ nợ xấu của 8 NHTM giai đoạn 2008 – 2016

31


trường tài chính Đông Á năm 1997 khiến bốn quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề, với
mức tăng gấp 3 lần khối lượng các khoản nợ xấu trong giai đoạn đầu dẫn đến khủng
hoảng. Ví dụ, tại Indonesia có hơn 60 ngân hàng bị sụp đổ trong cuộc khủng hoảng,
nợ xấu chiếm khoảng 75% tổng danh mục nợ vay (Caprio and Klingebiel, 2003).
Chính vì vậy, nợ xấu là vấn đề trọng tâm của hoạt động quản lý rủi ro trong ngân
hàng, với mục tiêu là kiểm soát và xử lý rủi ro nợ xấu nhằm giảm thiểu rủi ro nợ
xấu trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng. Việc xây dựng và phát triển cơ
chế, hệ thống quản lý rủi ro trong ngân hàng nhằm đảm bảo hiệu quả hoạt động
ngân hàng theo các tiêu chuẩn do NHNN quy định phù hợp với Hiệp ước vốn Basel


2

II đang được chú trọng quan tâm trong thời gian gần đây. Trong bối cảnh này, việc
nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu có ý nghĩa hết sức cần thiết, nhằm
góp phần đề xuất các giải pháp và kiến nghị thông qua các nhân tố ảnh hưởng gây
hiệu ứng tích cực đến hoạt động ngân hàng và quản lý nợ xấu. Xuất phát từ lý do
nêu trên, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu
tại ngân hàng thương mại Việt Nam”.
Tính đến nay, đã có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước tập trung tìm hiểu
về nợ xấu và các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu. Qua quá trình khảo lược các
nghiên cứu trước, tác giả nhận thấy hầu hết các nghiên cứu chủ yếu tập trung trong
việc phân tích các nhân tố thông qua các mô hình định lượng. Cũng có một số
nghiên cứu khác thì tiếp cận dưới góc độ định tính. Tuy nhiên, trong thực tế thì có
nhiều nhân tố định tính liên quan đến năng lực quản trị rủi ro của ngân hàng, vấn đề
đạo đức trong kinh doanh… có ảnh hưởng quan trọng đến nợ xấu. Trong bài nghiên
cứu này, tác giả sử dụng kết hợp cả phương pháp nghiên cứu định tính và phương
pháp nghiên cứu định lượng nhằm phân tích thực trạng nợ xấu, chỉ ra các nhân tố
định tính và đồng thời ước lượng mức độ tác động của một số nhân tố định lượng
ảnh hưởng đến nợ xấu thông qua mô hình hồi quy tuyến tính dữ liệu bảng với 3 mô

Về Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại 8
NHTM Việt Nam đang niêm yết trên sàn chứng khoán: NHTMCP Công Thương
Việt Nam (CTG), NHTMCP Ngoại Thương Việt Nam (VCB), NHTMCP Sài Gòn
Thương Tín, NHTMCP Á Châu (ACB), NHTMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam
(EIB), NHTMCP Quân Đội (MBB), NHTMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB),
NHTMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BID). Đây là những NHTM hàng đầu tại
Việt Nam trong thời điểm hiện nay xét về quy mô, nguồn vốn, hiệu quả hoạt động,
thương hiệu. Do đó qua xem xét thực trạng 8 NHTM nói trên sẽ thấy được thực
trạng của hệ thống ngân hàng Việt Nam tại thời điểm này. Ngoài ra do niêm yết trên
sàn chứng khoán nên việc tiếp cận thông tin và lấy số liệu về tình hình hoạt động
của các NHTM nói trên cũng thuận lợi hơn các ngân hàng khác.
- Phạm vi về thời gian: nghiên cứu tình hình nợ xấu bắt đầu từ năm 2008 đến
năm 2016. Đây là khoảng thời gian bắt đầu từ khủng hoảng tài chính thế giới và ảnh
hưởng đến thị trường tài chính Việt Nam, nhằm phân tích đánh giá các nhân tố ảnh
hưởng đến nợ xấu tại NHTM Việt Nam.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp định tính: thông qua phương pháp thống kê, so sánh, phân tích và
tổng hợp nhằm đánh giá được thực trạng nợ xấu của NHTM Việt Nam
Phương pháp định lượng: tác giả sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính dữ liệu
bảng để đo lường một số nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu. Để đảm bảo tính bền vững


4

của mô hình, nghiên cứu này thực hiện 3 phương pháp ước lượng là mô hình bình
phương tối thiểu dạng gộp (Pooled Ordinary Least Square), mô hình tác động cố
định (Fixed Effects Model) và mô hình tác động ngẫu nhiên (Random Effects
Model). Dữ liệu của mô hình được lấy trong giai đoạn từ năm 2008-2016 từ các báo
cáo tài chính, báo cáo thường niên của các NHTM Việt Nam, số liệu vĩ mô của

1.1. KHÁI NIỆM NỢ XẤU
Theo các sách giáo khoa tài chính, các tác giả thường đưa ra những thuật ngữ về
nợ xấu như “bad debt”, “non-performing loan”, “doubtful debt” hoặc là các khoản
cho vay bắt đầu được đưa vào nợ xấu khi đã quá hạn trả nợ gốc và lãi 90 ngày trở
lên (Peter Rose, 2009).
Khái niệm của nhóm chuyên gia tƣ vấn Advisory Expert Group (AEG)
Nhóm chuyên gia tư vấn AEG của Liên Hợp Quốc cho rằng định nghĩa về nợ xấu
không nên mang tính chất mô tả mà chỉ nên được sử dụng như hướng dẫn cho các
ngân hàng. AEG thống nhất định nghĩa như sau: “Một khoản nợ được coi là nợ xấu
khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày
trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các
khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi
ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”. Nói cách khác, nợ xấu
được xác định dựa trên 2 yếu tố: quá hạn trên 90 ngày; khả năng trả nợ bị nghi ngờ.
Theo Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS): BCBS không đưa ra định
nghĩa cụ thể về nợ xấu. Tuy nhiên, trong các hướng dẫn về các thông lệ chung tại
nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng, BCBS xác định, việc khoản nợ bị coi là
không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: (i)
ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa
thực hiện hành động gì để gắng thu hồi ví dụ như giải chấp chứng khoán (nếu đang
nắm giữ); (ii) người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày.
Trong đoạn văn 4.84 và 4.85 của Hướng dẫn để tính toán các chỉ số lành mạnh
tài chính tại các quốc gia (FSIs), Quỹ tiền tệ thế giới (IMF) đưa ra định nghĩa về
nợ xấu “một khoản vay được coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90
ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa,
cơ cấu lại, hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới
90 ngày nhưng có thể nhận thấy các dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không
thể hoàn trả nợ đầy đủ (ví dụ khi người vay phá sản). Sau khi khoản vay được xếp
vào danh mục nợ xấu, nó hoặc bất cứ khoản vay thay thế nào cũng nên được xếp
vào danh mục nợ xấu cho tới thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi được lãi và gốc

nợ thống nhất hay các quy trình chuẩn hóa để đánh giá rủi ro tín dụng.
Ở Việt Nam trước đây quy định về phân loại nợ và trích lập dự phòng được thực
hiện theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 và Quyết định số
18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 điều chỉnh bổ sung 493/2005/QĐ-NHNN. Từ
năm 2013, theo thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 và thông tư số
09/2014/TT-NHNN ngày 18/03/2014 sửa đổi bổ sung 02/2013/TT-NHNN thì đối


7

với doanh nghiệp có từ hai khoản nợ tại các TCTD, nếu có một khoản nợ nào bị
phân loại vào nhóm có mức độ rủi ro cao hơn các khoản nợ thì các khoản nợ còn lại
ở các TCTD phải phân loại vào nhóm có rủi ro cao nhất.
Bảng 1.1: Phân loại nhóm nợ theo phƣơng pháp định lƣợng
Nhóm nợ

Phân loại theo phƣơng pháp định lƣợng (số ngày quá hạn)

1

Dưới 10 ngày

2

Từ 10 đến 90 ngày

3

Từ 91 ngày đến 180 ngày


Nhân tố từ phía khách hàng vay vốn

Việc làm ăn thua lỗ của các doanh nghiệp ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động
kinh doanh của ngân hàng. Do năng lực điều hành kinh doanh kém, nhiều doanh


8

nghiệp có năng lực tài chính yếu, nên nguồn vốn hoạt động chủ yếu là vay từ ngân
hàng. Trong khi đó các khoản vay ngắn hạn doanh nghiệp dùng để đầu tư dài hạn,
hoặc đầu tư ra ngoài ngành như mua bất động sản, chứng khoán … Khi môi trường
kinh doanh xấu đi, chính sách kinh tế vĩ mô thắt chặt, lãi suất tăng lên thì các doanh
nghiệp gặp khó khăn trong việc kinh doanh cũng như khả năng trả nợ cho ngân
hàng.
Sự bành trướng sang các lĩnh vực ngoài ngành của các DNNN
Nợ xấu của các DNNN hiện rất cao do đây là nhóm có nhiều thuận lợi hơn cả
trong tiếp cận tín dụng và chiếm thị phần lớn trong tổng dư nợ tín dụng của nền
kinh tế… nên những yếu kém của DNNN đã bóp méo hiệu quả phân bổ nguồn lực,
khiến vốn khó đến được với những doanh nghiệp hoạt động hiệu quả. DNNN được
Chính phủ trợ cấp ngân sách và nguồn lực để cung cấp dịch vụ công, nhưng chất
lượng dịch vụ kém, trong khi gánh nặng nợ nần ngày càng lớn. Một số tập đoàn
kinh tế kiểm soát một số ngân hàng và sử dụng chính các ngân hàng để tài trợ cho
hoạt động kinh doanh của mình, dẫn đến đầu tư quá mức, đầu tư ngoài ngành và sở
hữu chéo nên khả năng xảy ra rủi ro là rất cao.
1.3.1.2.

Nhân tố từ phía ngân hàng

Nhóm nhân tố thuộc chiến lược, chính sách của ngân hàng:
- Chính sách tín dụng của ngân hàng không phù hợp hoặc không được chấp hành

không đúng và khả năng nợ quá hạn xảy ra là rất cao.
- Thiếu kiểm tra, giám sát sau cho vay: Thông thường việc kiểm tra tình hình sử
dụng vốn của khách hàng rất quan trọng ngay cả trước và sau cho vay. Nếu khách
hàng sử dụng vốn vay đúng với mục đích như cam kết để tạo ra nguồn trả nợ khả thi
theo đánh giá từ ban đầu sẽ hạn chế được phát sinh nợ quá hạn. Khi đó, ngân hàng
sẽ xem xét tăng mức cấp tín dụng cho khách hàng để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động
thiếu hụt hoặc nhu cầu đầu tư. Nếu khách hàng sử dụng không đúng mục đích vốn
vay vào lĩnh vực không thuộc ngành chính của mình thì rủi ro kinh doanh rất cao,
dễ dẫn đến trường hợp không thanh toán được khoản nợ khi đến hạn làm phát sinh
nợ quá hạn tại ngân hàng. Qua kiểm tra, giám sát ngân hàng kịp thời phát hiện và
thu hẹp tín dụng, không cho vay thêm hoặc cho vay có điều kiện. Do đó, sẽ hạn chế
được rủi ro cho cả ngân hàng và khách hàng.
- Kiểm tra, quản lý và giám sát đối với Tài sản đảm bảo: Tài sản đảm bảo là yếu
tố quan trọng cuối cùng trong việc bảo đảm khả năng trả nợ vay của khách hàng.
Công tác kiểm tra, quản lý và giám sát đối với tài sản đảm bảo có vai trò quan trọng
trong hoạt động tín dụng và hạn chế xử lý nợ xấu, bởi các khách hàng dùng tài sản
của mình để thấp chấp/cầm cố vay vốn thì sẽ có trách nhiệm hơn trong việc trả nợ,
đồng thời ngân hàng cũng có nguồn trả nợ khác từ thanh lý tài sản đảm bảo nếu nợ
xấu xảy ra.


10

- Thiếu thông tin thị trường: Ngân hàng thường gặp khó khăn về tính chính xác
của thông tin do khách hàng cung cấp. Thiếu thông tin khách hàng có thể sẽ dẫn đến
thẩm định dự án/ phương án vay vốn không chính xác, đánh giá không đúng năng
lực thật sự của khách hàng, không phát hiện được những âm mưu lừa đảo.
- Công tác quản trị và phòng ngừa rủi ro: Đây là một nhân tố quan trọng thể
hiện năng lực kiểm soát và đối phó với các rủi ro của ngân hàng trong các giai đoạn
biến động kinh tế-tài chính. Một ngân hàng có công tác quản trị phòng ngừa rủi ro

sai lầm trong các quyết định cho vay, có thể đưa đến nợ xấu.
Do tình trạng sở hữu chéo: Hệ thống ngân hàng với doanh nghiệp tại Việt Nam
đã hình thành một mạng lưới sở hữu chéo và cho vay theo quan hệ rất phức tạp,
nhằm mục đích thâu tóm ngân hàng, thu xếp vốn cho những dự án đầu tư chưa minh
bạch.
1.3.1.3. Nhân tố khách quan từ môi trường
Ngoài lý do chính đến từ con nợ và chủ nợ, còn bao gồm nhiều nhân tố khác
được dồn tích từ nhiều năm qua bởi cơ chế, bởi môi trường kinh doanh cũng như
trình độ năng suất lao động chung của nền kinh tế. Khi nền kinh tế trong giai đoạn
thịnh vượng, việc sản xuất kinh doanh thuận lợi và như vậy việc trả nợ của khách
hàng cho ngân hàng dễ dàng nên rủi ro tín dụng thấp, ngược lại lúc kinh tế trong
trong thời kỳ suy thoái thì rủi ro tín dụng cao và tỷ lệ nợ xấu có xu hướng gia tăng.
Môi trường kinh tế: Trong thời kỳ hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, sự biến
động quá nhanh của thị trường thế giới là nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến thị
trường và kinh tế trong nước. Trước những biến động không thể dự đoán được của
nền kinh tế trong và ngoài nước đã khiến doanh nghiệp vay vốn phải đối mặt với rất
nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Quá trình tự do hóa tài chính
và hội nhập quốc tế tạo ra môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến nhiều doanh nghiệp
vay vốn phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ tất yếu dẫn đến nợ xấu gia tăng.
Môi trường pháp lý: Hoạt động của NHTM thực hiện trong khuôn khổ hành lang
pháp lý của NHNN. Vì vậy, một hệ thống pháp lý càng hoàn chỉnh, đồng bộ thì sẽ
càng đem lại hiệu quả hoạt động cao cho ngân hàng, cho doanh nghiệp, giảm thiểu
nhiều rủi ro trong hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng,
đặc biệt là rủi ro về nợ xấu. Trong nền kinh tế thị trường các chính sách kinh tế vĩ
mô của nhà nước bao gồm: chính sách tài chính tiền tệ, chính sách lãi suất, chính
sách đối ngoại… có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế ảnh hưởng đến hoạt động
của các ngân hàng, doanh nghiệp. Vì vậy các chủ trương, chính sách của nhà nước
phù hợp, đúng đắn thì sẽ thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển.
Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng,
từ đó đòi hỏi ngành ngân hàng phải đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu mô hình hoạt

phỏng cho thấy sự ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng kinh tế có mối liên quan
đến mức độ suy giảm của nợ xấu; trong khi những cú sốc vĩ mô bất lợi cùng với chi
phí vốn cao và biên lợi nhuận thấp có mối liên quan đến sự gia tăng nợ xấu. Những
kết quả này được rút ra từ những ước lượng của khoản nợ xấu trong dài hạn được
suy ra từ mô hình dự báo dựa trên dữ liệu bảng giả định. Kết quả của nghiên cứu
cũng đưa ra gợi ý cho Chính phủ cần xem xét khi đối mặt với thách thức trong việc
theo đuổi mục tiêu tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh nguồn thu
thuế bị thu hẹp, và thâm hụt ngân sách ngày càng gia tăng, cùng với sự suy giảm và
phá sản của ngân hàng.


13

Messai và Jouini (2013) với nghiên cứu “Micro and Macro Determinants of Nonperforming Loans” (Các nhân tố vĩ mô và nhân tố vi mô ảnh hưởng đến nợ xấu):
Nghiên cứu này đã cố gắng khám phá ra các nhân tố của nợ xấu trong một mẫu gồm
85 ngân hàng tại 3 quốc gia (Ý, Hy Lạp và Tây Ban Nha) trong giai đoạn từ năm
2004 đến năm 2008. Những quốc gia này đã và đang đối mặt với các vấn đề tài
chính sau cuộc khủng hoảng dưới chuẩn năm 2008. Các biến được sử dụng là các
biến vĩ mô và các biến đặc trưng ngành ngân hàng. Các biến vĩ mô gồm có tăng
trưởng GDP, tỷ lệ thất nghiệp và lãi suất thực, cùng với các biến đặc trưng ngành
ngân hàng gồm có lợi nhuận trên tài sản ROA, thay đổi nợ vay và tỷ lệ dự phòng
tổn thất nợ nay trên tổng nợ. Sau khi ứng dụng phương pháp dữ liệu bảng, nghiên
cứu đã tìm ra nợ có vấn đề biến đổi ngược chiều với tỷ lệ tăng trưởng GDP, lợi
nhuận trên tài sản của ngân hàng, và cùng chiều với tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ dự phòng
tổn thất nợ nay trên tổng nợ và lãi suất thực. Kết quả nghiên cứu đưa ra gợi ý từ
phía các ngân hàng cần chú trọng đến các nhân tố trong cho vay để giảm thiểu nợ
xấu. Ngân hàng cần tính đến lợi nhuận kinh tế thực khi mở rộng tín dụng. Các ngân
hàng cũng cần bám sát trong theo dõi và phân tích những biến động của nền kinh tế
vĩ mô, chẳng hạn như chỉ tiêu tăng trưởng GDP để đánh giá chính xác được sức
khỏe và sự ổn định của hệ thống ngân hàng.

xóa bỏ các trở ngại về thuế, pháp lý và quy định để giúp các ngân hàng đẩy mạnh
quá trình làm sạch danh mục của mình, đồng thời có tính đến khả năng chịu đựng
thiệt hại của các ngân hàng.
Vasiliki Makri, Athanasios Tsagkanos and Athanasios Bellas (2014) với nghiên
cứu “Determinants of Non-Performing Loans: The Case of Eurozone” (Các nhân tố
ảnh hưởng nợ xấu: trường hợp khu vực Đồng Euro): Mục đích bài nghiên cứu nhằm
xác định các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nợ xấu NPL của hệ thống ngân hàng khu
vực đồng Euro trong giai đoạn năm 2000-2008, ngay trước khi bắt đầu cuộc suy
thoái kinh tế. Ngày nay, khu vực đồng Euro đang nằm ở giữa cuộc khủng hoảng tài
chính chưa từng có, từ đó đặt ra câu hỏi cho các quốc gia Châu Âu về sức mạnh của
hệ thống ngân hàng. Xem xét biến vĩ mô (như là phần trăm tỷ lệ tăng trưởng GDP
hàng năm, tỷ lệ nợ công trên GDP, tỷ lệ thất nghiệp) và biến vi mô (như tỷ lệ nợ
trên tổng tiền gửi huy động, lợi nhuận trên tài sản ROA, lợi nhuận trên vốn chủ sỡ
hữu ROE), nghiên cứu đã khám phá các nhân tố ảnh hưởng nợ xấu ở mức độ tổng
thể. Tóm lại, các khám phá của nghiên cứu đã chứng minh được mối tương quan
mạnh mẽ giữa nợ xấu và các biến kinh tế vĩ mô (nợ công, thất nghiệp, tỷ lệ tăng
trưởng GDP hàng năm) và các biến đặc trưng ngành ngân hàng (tỷ lệ an toàn vốn
tối thiểu, tỷ lệ nợ xấu năm trước và ROE).


15

Nhận xét: các nghiên cứu trên đều xác định hai nhóm nhân tố chính tác động đến
nợ xấu, đó là nhóm nhân tố vi mô (hay còn gọi là nhóm nhân tố đặc thù ngành), và
nhóm nhân tố vĩ mô. Các nhân tố vi mô chủ yếu tập trung về vấn đề sức khỏe tài
chính và hiệu quả hoạt động liên quan đến khả năng quản lý hoạt động kinh doanh
và quản trị rủi ro của ngân hàng, từ đó có mối quan hệ tác động đến nợ xấu của
ngân hàng. Các nhân tố vĩ mô thường được đề cập về sự phát triển, ổn định của nền
kinh tế và được đại diện chủ yếu bởi nhân tố tăng trưởng GDP, lạm phát; và có mối
quan hệ tác động đến nợ xấu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status