NGHIÊN cứu tác ĐỘNG của BIẾN đổi KHÍ hậu, cấu TRÚC sở hữu lên HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG của các CÔNG TY PHÁT điện tại VIỆT NAM tt - Pdf 52

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
__________________________

NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU,
CẤU TRÚC SỞ HỮU LÊN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
CỦA CÁC CÔNG TY PHÁT ĐIỆN TẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Quản Trị Kinh Doanh
Mã số: 9340101

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

TP.HỒ CHÍ MINH – THÁNG 01 NĂM 2019


Công trình được hoàn thành tại:
Trường Đại học Kinh tế TP.HCM:
Người hướng dẫn khoa học:

Phản biện 1: ....................................................................................................................
........................................................................................................................................
Phản biện 2: ....................................................................................................................
........................................................................................................................................
Phản biện 3: ....................................................................................................................
........................................................................................................................................
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp trường họp tại: ...................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
Vào hồi…………………. giờ……….ngày ……….tháng……….năm……….
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện: .............................................................................

khi cách đây 20 năm tỷ lệ này chỉ ở mức 14%.
Từ năm 2009, ngành điện Việt Nam đã bắt đầu thay đổi từ phát điện độc quyền sang phát điện cạnh
tranh, đánh dấu sự đổi mới trong cấu trúc thị trường ngành điện (phụ lục 1 giới thiệu về lộ trình phát triển thị
trường điện tại Việt Nam). Thị trường phát điện cạnh tranh đã tạo điều kiện cho các công ty tư nhân gia nhập
ngành. Đây cũng là xu hướng chung của nhiều quốc gia trên thế giới.
1.1.3 Các nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu đến công ty phát điện
Cùng với BĐKH, trong hai thập kỷ gần đây, có một xu hướng đáng quan tâm khác trong ngành điện
tại nhiều quốc gia trên thế giới là sự dịch chuyển từ hệ thống phát điện độc quyền sang phát điện cạnh tranh.
Hầu hết các nghiên cứu trước đây về BĐKH được thực hiện ở các quốc gia có thị trường phát điện có sự tham
gia của nhiều công ty tư nhân như các quốc gia Châu Âu hay Mỹ với các nghiên cứu điển hình như của
Hamilton (1995); Klassen & McLaughlin (1996); Khanna và các tác giả (1998); Cho & Patten (2007); Artiach
và các tác giả (2010); Eleftheriadis và các tác giả (2012). Trong khi đó tại các nền kinh tế mới nổi như Trung
Quốc, Ấn Độ và các nước Đông Nam Á, các công ty năng lượng có sở hữu chi phối của nhà nước chiếm đến
2/3 sản lượng của ngành (Rajavuori, 2016) lại chưa có nhiều nghiên cứu tranh luận. Việt Nam cũng là trường
hợp điển hình, tỷ lệ sở hữu nhà nước (SHNN) tại 32 công ty phát điện đang niêm yết trên thị trường chứng
khoán ở mức trung bình 45% - 52%. Các tác động của BĐKH xảy ra trên phạm vi toàn cầu, nhưng ứng phó
với BĐKH có thể tùy theo nhận thức và hành động của mỗi quốc gia và mỗi doanh nghiệp. Bên cạnh cổ phần
hóa công ty phát điện, thị trường phát điện cạnh tranh cũng đã hình thành ở nhiều nước như Trung Quốc,
Brasil; trong giai đoạn từ 2006-2014, Việt Nam cũng thực hiện vận hành thị trường phát điện cạnh tranh. Do
vậy, việc thiếu vắng các nghiên cứu về ảnh hưởng của BĐKH đến hiệu quả kinh doanh (HQKD) các công ty
phát điện ở các nền kinh tế mới nổi là khoảng trống nghiên cứu cần được bổ sung.


2

Với vai trò điều tiết của SHNN trong ứng phó với BĐKH, Clò và các tác giả (2017) là các nhà khoa
học tiên phong chỉ ra bằng chứng khoa học cho vấn đề này. Tuy nhiên, nghiên cứu này thực hiện với mẫu
nghiên cứu các công ty ở các quốc gia Châu Âu và dựa trên dữ liệu phát thải khí nhà kính của các công ty phát
điện. Tại các quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam, chưa có các nghiên cứu thảo luận chuyên sâu
chủ đề này.

HQKD; (4) Đề xuất một số hàm ý chính sách đối với các cấp quản lý của các công ty phát điện, các đơn vị đối
tác, các nhà đầu tư vào các công ty phát điện và các cơ quan quản lý nhà nước của ngành điện Việt Nam, đặt
trong bối cảnh Việt Nam đang hình thành và phát triển thị trường điện và dưới sự tác động của BĐKH.
1.3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Tác giả lựa chọn các công ty phát điện ở Việt Nam để thực hiện chọn mẫu nghiên cứu. Các dữ liệu đo
lường HQKD được xác định dựa trên dữ liệu báo cáo tài chính. Do vậy, mẫu nghiên cứu bao gồm các công ty
phát điện đang niêm yết trên các sở giao dịch chứng khoán của Việt Nam.
Đối với phương pháp khảo sát chuyên gia, tác giả tham vấn ý kiến các chuyên gia hàng đầu trong
ngành năng lượng ở Việt Nam.
Từ câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu được quan tâm bao gồm HQKD các công ty phát điện
và các yếu tố tác động lên HQKD các công ty này.


3

1.4. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích dựa trên mô hình định lượng và phương pháp phỏng vấn
sâu các chuyên gia.
Trên cơ sở lý thuyết và thừa kế các công trình nghiên cứu trước đây, nghiên cứu đề xuất mô hình phân
tích định lượng tác động của cấu trúc sở hữu và BĐKH và các yếu tố khác đến HQKD các công ty phát điện
ở Việt Nam dưới dạng hàm số đa biến. Trong đó, biến phụ thuộc là các biến đại diện cho biến HQKD bao gồm
ROA, ROE, giá vốn hàng bán/doanh thu và Tobin’Q. Các biến độc lập bao gồm BĐKH, tỷ lệ sở hữu vốn của
nhà nước, tỷ lệ đòn bẩy, tỷ lệ thanh toán hiện hành, chi tiêu vốn, quy mô công ty. Dữ liệu mô hình định lượng
thu thập dưới dạng dữ liệu bảng. Dạng dữ liệu này có nhiều ưu điểm khi giải quyết vấn đề bỏ sót các biến
không quan sát được và khắc phục hạn chế mẫu nhỏ nếu phân tích riêng lẻ theo từng công ty.
Với dữ liệu bảng, nghiên cứu áp dụng phương pháp ước lượng đơn phương trình theo mô hình tác
động cố định – FEM (Fixed effects model) và phương pháp ước lượng hệ phương trình theo mô hình GMM
hệ thống. Ngoải ra, để làm sáng tỏ các vấn đề phát sinh từ kết quả nghiên cứu, phương pháp phỏng vấn chuyên
gia cũng được sử dụng. Nghiên cứu thực hiện phỏng vấn các chuyên gia bao gồm các nhà khoa học công tác
tại các trường đại học, viện nghiên cứu, đơn vị tư vấn thiết kế hệ thống điện, các nhà quản trị của các công ty

nghiệm liên quan đến câu hỏi nghiên cứu.
 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu, trình bày phương pháp ước lượng mô hình thực nghiệm và các
vấn đề liên quan đến thu thập ý kiến chuyên gia.
 Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu, trình bày các kết quả thu thập dữ liệu và kết quả thu được từ
ước lượng mô hình thực nghiệm, kết quả phỏng vấn các chuyên gia.
 Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị, tổng kết các kết quả chính của nghiên cứu và nêu các kiến nghị
để xây dựng chính sách và các biện pháp nâng cao HQKD của công ty phát điện.


4

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1. Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Trong lĩnh vực kinh doanh, với cách hiểu thông thường hiệu quả kinh doanh là tỷ số giữa kết quả đầu
ra thu được từ kinh doanh và yếu tố đầu vào để vận hành hoạt động kinh doanh. Trong nghiên cứu hàn lâm,
các nhà nghiên cứu thảo luận nhiều đến vấn đề làm thế nào để doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả hay các biểu
hiện kinh doanh có hiệu quả. Adam Smith (1776) cho rằng HQKD là kết quả đạt được trong hoạt động kinh
tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa. Hoặc hiệu quả hoạt động kinh doanh là quan hệ tỷ lệ giữa phần tăng thêm
của kết quả và phần tăng thêm của chi phí (Marshall 1920).
Trong nước, nhiều nghiên cứu cũng có chung quan điểm khi cho rằng HQKD được phản ánh thông
qua tỷ số giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Theo Nguyễn Văn Tạo (2004), ngoài
chỉ tiêu kết quả đầu ra so với yếu tố đầu vào, HQKD còn được hiểu là mức độ hoàn thành mục tiêu đã đặt ra,
và nếu không đạt được mục tiêu thì không thể có hiệu quả và để hoàn thành mục tiêu ta cần phải sử dụng
nguồn lực như thế nào. Hoặc, hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là phạm trù kinh tế phản ánh
trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp nhằm đạt được kết quả của mục tiêu hoạt động trong lĩnh
vực kinh doanh (Bùi Thanh Phong 2010).
Tuy có nhiều cách khác nhau để phản ảnh khái niệm HQKD của công ty nhưng hầu hết các nghiên
cứu trong và ngoài nước đều hàm ý HQKD là việc nhà quản trị sử dụng các nguồn lực giới hạn để đạt hiệu
quả mong muốn cao nhất trong kinh doanh. HQKD thường gắn liền với các mục tiêu kinh tế cụ thể.
Để đo lường HQKD, các nhà nghiên cứu đã đề xuất nhiều chỉ tiêu khác nhau, nhưng phổ biến và được

Nguyên Môi Trường 2008). Nghiên cứu này đã sử dụng biến đổi nhiệt độ so với trung bình 50 năm trước đó
để đánh giá BĐKH tại Việt Nam. Một nghiên cứu khác của Viện khoa học khí tượng thủy văn và môi trường
do Nguyễn Văn Thắng và các tác giả khác (2010) thực hiện cũng định nghĩa BĐKH với nội dung tương tự.


5

Nghiên cứu này cũng sử dụng mốc những năm 1960 để đánh giá BĐKH ở Việt Nam (tương đương trung bình
50 năm). Nguyễn Đức Huỳnh và Lê Thị Phượng (2016) cũng cho rằng yếu nhiệt độ là mối quan tâm chính liên
quan đến BĐKH.
Với mục tiêu nghiên cứu BĐKH ảnh hưởng đến HQKD của các công ty phát điện ở Việt Nam, việc
lựa chọn chỉ tiêu biến đổi nhiệt độ trung bình và lượng mưa trung bình phù hợp với đặc thù của ngành điện và
đảm bảo việc thu thập đầy đủ các dữ liệu để phân tích định lượng thích hợp.
2.2.2 Biến đổi khí hậu như một loại rủi ro trong kinh doanh
Nếu xem quản trị tài chính công ty phát điện như quản trị một danh mục đầu tư, mô hình CAPM do
Markowitz (1959) xây dựng chỉ ra mối quan hệ giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi của khoản đầu tư. Trong mô hình
này, rủi ro bao hàm rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệ thống. Rủi ro hệ thống tác động đến tất cả các công ty trong
ngành nên BĐKH có thể xem như một loại rủi ro hệ thống mà các công ty ngành điện phải đối diện. Schwartz
(2007) cho rằng BĐKH có thể xảy ra bất ngờ và có thể làm sụp đổ cả thị trường kinh doanh của các công ty
đa quốc gia nếu các công ty không có chính sách ứng phó kịp thời. Esty và Simmons (2011) chỉ ra tất cả các
doanh nghiệp phải đối mặt với “rủi ro sinh thái” (eco-risk) và những rủi ro này có thể làm sụp đổ các công ty
nếu rủi ro không được quản trị đúng mức.
BĐKH đang ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các công ty cả trực tiếp như làm gia tăng chi
phí kiểm soát khí thải nhà kính và gián tiếp như hoạt động di cư hay thay đổi kênh vận chuyển hàng hóa dịch
vụ của khách hàng hay nhà cung cấp. Một số công ty sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro hơn so với các công ty
khác tùy thuộc vào đặc điểm sản phẩm kinh doanh và chiến lược mà các công ty này sử dụng để ứng phó với
BĐKH (Porter và Reinhardt, 2007; Schwartz, 2007). BĐKH và chính sách giảm khí thải nhà kính tạo ra rủi ro
hệ thống trên nền kinh tế toàn cầu, do ảnh hưởng đến năng lượng và thực phẩm, giá cả, thu nhập quốc dân và
chi phí y tế.
2.2.3 Biến đổi khí hậu tác động đến cung cầu thị trường điện


6

lãnh thổ Việt Nam thời kỳ 1961-2007 cho thấy nhiệt độ tăng rõ rệt trên toàn Việt Nam. Kết quả nghiên cứu
tìm thấy nhiệt độ tăng cao hơn ở khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Lượng mưa giảm xuống ở khu vực
phía Bắc vĩ tuyến 17 và lượng mưa nhiều hơn ở khu vực phía Nam.
2.2.3.2 Tác động của biến đổi khí hậu lên nguồn cung về điện và truyền dẫn điện
Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến nguồn cung thủy điện
Lượng mưa tăng và lưu lượng dòng chảy lớn hơn làm tăng tiềm năng phát điện của các dự án thủy
điện. Tuy nhiên, nếu lưu lượng dòng chảy vượt quá công suất của các hồ thủy điện sẽ tạo ra các hiệu ứng xấu
đối với thủy điện. Barnett và các tác giả (2004) cho thấy sản xuất thủy điện trên sông Colorado – Mỹ có thể
giảm đến 40% vào giữa thế kỷ 21.
Dựa trên kịch bản BĐKH làm tăng gấp đôi nồng độ CO2 trong khí quyển vào năm 2050 so với thời
kỳ tiền công nghiệp, Bye (2008) phân tích ảnh hưởng của BĐKH lên nguồn thủy điện và năng lượng gió ở
Bắc Âu. Tác giả cho rằng dòng chảy sông và tốc độ gió sẽ tăng lần lượt ở mức là 11% và 1% trong giai đoạn
2001-2040, sẽ làm tăng cung cấp năng lượng lên 1,8% so với năm 2001 và giảm 22% giá bán buôn điện.
Nguyễn Minh Bảo (2012) cho biết các nhà máy thủy điện cũng bị ảnh hưởng đáng kể do tác động của
BĐKH. Kết quả nghiên cứu cho thấy, so với năm 2009 đến năm 2030 sản lượng điện trung bình hàng năm của
thủy điện Trị An giảm 1,13% trong khi thủy điện Tuyên Quang và Hủa Na tăng lên lần lượt là 0,56% và 0,21%.
Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến truyền tải điện
Theo Nguyễn Minh Bảo (2012), khi nhiệt độ môi trường tăng cao sẽ tác động trực tiếp đến hệ thống
truyền tải điện. Theo đó, nếu BĐKH làm tăng nhiệt độ thêm 10C, tổn thất từ đường dây truyền tải tăng 1%.
Nhiệt độ tăng cao do BĐKH còn tác động đến các máy biến áp, kết quả tính toán cho thấy tổn thất của máy
cũng tương đương với tổn thất từ đường dây truyền tải với mỗi 0C tăng thêm.
Peters và các tác giả (2006) nghiên cứu ảnh hưởng của BĐKH đối với truyền tải điện ở Mỹ, ước tính
chi phí trung bình hàng năm của việc gián đoạn cung cấp điện do bão gây ra cho khu vực công cộng và người
dùng xác định trong giai đoạn 1994-2004 lần lượt là 270 triệu USD và 2,5 tỷ USD mỗi năm.
2.2.4 Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến suất sinh lợi cổ phiếu
Các nghiên cứu về tài chính gần đây cho thấy có mối liên hệ mật thiết giữa yếu tố khí hậu và suất sinh
lợi của cổ phiếu trên thị trường chứng khoán vì những lý do sau: (1) Công ty có thể thu hút người tiêu dùng

quốc gia Liên Minh Châu Âu (45%) và Mỹ (20%). Các doanh nghiệp thuộc SHNN có vai trò quan trọng trong
việc thực thi hiệu quả chính sách BĐKH, bởi vì các doanh nghiệp nhà nước kiểm soát phần lớn cổ phần tại
các đơn vị kinh doanh phát thải khí nhà kính cao như các công ty khai thác, tinh chế và phân phối dầu khí và
than, cũng như các công ty sản xuất điện sử dụng nhiên liệu hóa thạch.
Kết quả nghiên cứu thực nghiệm các doanh nghiệp ngành điện của Clò và các tác giả (2017) tại các
quốc gia Châu Âu, giai đoạn 1990-2012, cho thấy các DNNN ngành điện có tỷ suất sinh lợi thấp hơn so với
mức trung bình khi đảm đương các nhiệm vụ giảm phát thải khí nhà kính. Các DNNN chấp nhận một mức
sinh lợi thấp để cân bằng nhu cầu của xã hội là bảo vệ môi trường.
2.4. Các yếu tố khác ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh công ty
2.4.1 Cấu trúc vốn
Theo Modigliani và Miller 1958, 1963 (MM) các công ty quan tâm đến lợi ích từ tấm lá chắn thuế để
xác định cấu trúc vốn. MM chỉ ra các nhà quản trị có thể tối đa hóa giá trị công ty bằng cách sử dụng nhiều nợ
do hưởng được lợi ích từ tấm lá chắn thuế. Theo đó, giá trị công ty và HQKD có mối quan hệ cùng chiều với
tỷ lệ sử dụng đòn bẩy tài chính vì các công ty có sử dụng đòn bẩy tài chính có thể giảm được số tiền thuế phải
nộp so với các công ty chỉ sử dụng toàn bộ vốn cổ phần (Modigliani và Miller, 1963).
2.4.2 Tỷ lệ thanh toán hiện hành
Mối quan hệ giữa tỷ lệ thanh toán hiện hành với HQKD được phản ánh thông qua giả thuyết đánh đổi.
Khi khả năng thanh toán hiện hành ở mức cao, hàm ý công ty đang có tài sản bằng tiền mặt nhiều hơn. Thông
thường các tài sản bằng tiền mặt có suất sinh lợi thấp hơn. Vì vậy các công ty có tỷ lệ thanh toán hiện hành
cao có thể có HQKD thấp. Các nghiên cứu điển hình của Saleem và Rehman (2011); Raheman và Nasr (2007);
Mousavi và Jari (2012); Vural, Sokmen và Setenak (2012).
2.4.3 Quy mô công ty
Quy mô công ty có thể được đo bằng tổng tài sản. Quy mô công ty có thể có mối quan hệ cùng chiều
với HQKD của công ty. Một mặt, các công ty có quy mô lớn hơn có thể có lợi thế trong tăng trưởng doanh thu
nên có thể có tỷ suất sinh lợi cao hơn. Mặt khác, với quy mô lớn hơn, rủi ro trong kinh doanh cũng lớn hơn
nên các cổ đông cũng mong muốn mức sinh lời cao hơn. Vì vậy, các nhà quản trị công ty phải nỗ lực để đạt
HQKD cao, có như vậy mới giữ được cổ đông và nhà đầu tư.
2.5. Tóm lược một số nghiên cứu gần đây
2.5.1 Nhóm các nghiên cứu về biến đổi khí hậu
Một số nghiên cứu ban đầu về tác động của sự kiện liên quan đến ô nhiễm môi trường và giá cổ phần

Đoàn Vinh Thăng (2016) nghiên cứu xem xét ảnh hưởng của cấu trúc vốn lên HQKD (ROA, ROE)
của 2.888 công ty cổ phần có vốn nhà nước tại Việt Nam. Kết quả phân tích chỉ ra hiệu quả hoạt động và tỷ lệ
nợ trên tổng tài sản và hiệu quả hoạt động có mối quan hệ hình chữ U ngược. Bên cạnh đó, nghiên cứu này
còn cho thấy ảnh hưởng tương tác của SHNN lên mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và HQKD, trong đó, ảnh
hưởng của tỷ lệ nợ trên tổng tài sản (cấu trúc vốn) lên HQKD càng yếu hơn trong trường hợp các doanh nghiệp
bị chi phối bởi nhà nước.
2.6. Mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh công ty phát điện
Trên khía cạnh lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm trước đây, mối quan hệ giữa kết quả kinh
doanh và các yếu tố tác động đến kết quả kinh doanh có thể được phân tích qua dạng hàm số đa biến. Mô hình
này đã được nhiều nghiên cứu áp dụng như Iwata và Okada (2011), Rokhmawatia và các tác giả (2015),
Vithessonthia và Jittima Tongurai (2015), Clò và các tác giả (2016). Luận án đưa ra định hướng nghiên cứu
tác động của cấu trúc sở hữu và BĐKH và các yếu tố khác đến HQKD các công ty phát điện ở Việt Nam dưới
dạng hàm số đa biến. Hàm tổng quát của mô hình có dạng:
Y= f(X1, X2, X3, X4, X5, X6, X7)
(1)
Trong đó:
 Y: HQKD công ty phát điện.
 X1: BĐKH.
 X2: Tỷ lệ sở hữu vốn của nhà nước.
 X3: Chi phí đại diện được đo bằng tỷ lệ chi phí hoạt động/doanh thu.
 X4: Chi phí đại diện được đo bằng tỷ lệ doanh thu/tổng tài sản.
 X5: Tỷ lệ đòn bẩy.
 X6: Tỷ lệ thanh toán hiện hành.
 X7: Quy mô công ty.
2.7. Giả thuyết mô hình nghiên cứu định lượng
Từ mô hình lý thuyết (1) và thừa kế kết quả các nghiên cứu trước như Iwata và Okada (2011),
Rokhmawatia và các tác giả (2015), Vithessonthia và Jittima Tongurai (2015), Clò và các tác giả (2016),
luận án thiết lập mô hình định lượng để kiểm chứng các mối quan hệ giữa kết quả kinh doanh và các yếu tố
ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh tại các công ty phát điện ở Việt Nam như mô hình (2).
3

Nếu giá trị trung bình hàng năm lớn hơn giá trị trung bình 50 năm phản ánh lượng mưa tăng lên quá
mức, ngược lại nó phản ánh hạn hán gia tăng nghiêm trọng.
(2)
Nhiệt độ trung bình hàng năm so với mức trung bình của 50 năm trước đó. Tương tự như lượng mưa,
khi nhiệt độ trung bình tăng quá cao so với giá trị trung bình phản ánh tình hình khí hậu cực đoan hay
khắc nghiệt hơn.
Nếu BĐKH gia tăng với biểu hiện lượng mưa trung bình hàng năm giảm đi. Điều này có thể xảy ra hiệu ứng:
Đối với thủy điện, nguồn nước tự nhiên được xem như yếu tố đầu vào quan trọng để tạo ra điện năng.
Vì vậy, lượng nước từ các hồ thủy điện có vai trò quan trọng để đảm bảo công ty có đủ nguồn điện cung ứng
ra thị trường. Nếu không đủ lượng nước cần thiết các công ty phát điện có thể phát sinh gánh nặng về chi phí
khấu hao, chi phí quản lý, chi phí bảo trì, bảo dưỡng,… Như vậy, BĐKH có thể làm tăng chi phí cho công ty
phát điện. Điều này trực tiếp làm giảm HQKD của công ty.
Trường hợp BĐKH biểu hiện qua lượng mưa hàng năm tăng so với giá trị trung bình:
Lượng nước từ các hồ thủy điện dư thừa để vận hành các tổ máy phát điện, khi đó công suất nhà máy
sẽ toàn dụng và nếu chi phí bảo dưỡng hồ đập không quá lớn, doanh thu các công ty phát điện có thể tăng.
Như vậy, BĐKH có thể làm tăng HQKD.
Nhiệt độ trung bình hàng năm: Nếu nhiệt độ hàng năm tăng lên so với giá trị trung bình có thể làm
hạn hán xuất hiện, nên có thể khiến cho các nhà máy thủy điện phải ngừng hoặc giảm công suất hoạt động.
Điều này chắc chắn sẽ làm giảm HQKD của công ty phát điện. Tuy nhiên, nhiệt độ trung bình tăng lên cũng
làm tăng nhu cầu sử dụng điện trong sản xuất và sinh hoạt nên cũng có thể làm tăng sản lượng điện tiêu thụ
của các công ty phát điện nếu công ty có đủ lượng nước dự trữ.
Giả thuyết:
 H1a: Giả thuyết về mối quan hệ cùng chiều giữa BĐKH và HQKD của công ty phát điện nếu BĐKH
được đại diện bằng mức thay đổi lượng mưa hàng năm so với giá trị trung bình 50 năm trước đó.
 H1b: Giả thuyết về mối quan hệ ngược chiều giữa BĐKH và HQKD của công ty phát điện nếu BĐKH
được đại diện bằng mức thay đổi lượng mưa hàng năm so với giá trị trung bình 50 năm trước đó.
 H1c: Giả thuyết về mối quan hệ cùng chiều giữa BĐKH và HQKD của công ty phát điện nếu BĐKH
được đại diện bằng mức thay đổi nhiệt độ hàng năm so với giá trị trung bình 50 năm trước đó.
 H1d: Giả thuyết về mối quan hệ ngược chiều giữa BĐKH và HQKD của công ty phát điện nếu BĐKH
được đại diện bằng mức thay đổi nhiệt độ hàng năm so với giá trị trung bình 50 năm trước đó.

Bảng 2.2: Kỳ vọng mối quan hệ giữa giá vốn hàng bán và BĐKH

Nguồn: Tổng hợp của tác giả
2.9. Tỷ lệ sở hữu nhà nước tại các công ty phát điện
Mô hình (2) nghiên cứu mối quan hệ phi tuyến của SHNN và HQKD được thể hiện lại như mô hình
(3):
3

𝐹𝑃𝐹𝑖,𝑗 = 𝛼 + 𝛽1 𝐴𝑅𝑗 + 𝜆1 𝑂𝑊𝑁𝑖,𝑗 +

2
𝜆2 𝑂𝑊𝑁𝑖,𝑗

+ 𝛿1 𝐴𝐶1𝑖,𝑗 + 𝛿2 𝐴𝐶2𝑖,𝑗 + ∑ 𝜃𝑘 𝑋𝑖,𝑗 + 𝑢𝑖,𝑗 (3)
𝑘=1

Trong đó: OWN là biến sở hữu nhà nước bình phương, các biến còn lại tương tự mô hình (2).
Giả thuyết:
H2a: Tỷ lệ sở hữu nhà nước có quan hệ ngược chiều (𝜆 < 0) với HQKD (ROA, ROE, Tobin’Q) và tỷ lệ sở hữu
nhà nước bình phương có quan hệ cùng chiều (𝜆1 > 0) với HQKD công ty phát điện.
H2b: Tỷ lệ sở hữu nhà nước có quan hệ cùng chiều (𝜆 > 0) với HQKD (COR) và tỷ lệ sở hữu nhà nước bình
phương có quan hệ ngược chiều (𝜆1 < 0) với HQKD (COR) công ty phát điện.
2.10. Vai trò điều tiết của cấu trúc sở hữu trong kiểm soát biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến hiệu quả
kinh doanh
Tác giả cho rằng Chính phủ Việt Nam có thể thực hiện kiểm soát DNNN để có thể giải quyết các vấn
đề giảm nhẹ BĐKH. Nếu vai trò SHNN phát huy như lý thuyết các công ty phát điện có SHNN lớn có thể chịu
chi phối nhiều hơn, tỷ suất sinh lợi của các công ty này có thể thấp hơn. Để kiểm chứng điều này, tác giả bổ
sung biến tương tác giữa biến đo lường BĐKH và biến SHNN vào mô hình thực nghiệm (𝐴𝑅xOWN).
2


HQKD của công ty. Luận án bổ sung các biến chi phí đại diện vào các mô hình nghiên cứu, tương tự như
Singh và Davidson (2003) các biến chi phí đại diện gồm AC1 và AC2 được xác định như sau:
 AC1: Biến này được đo lường bằng tỷ trọng chi phí quản lý và chi phí bán hàng so với tổng doanh thu
thuần. AC1 cho biết mức chi trả ngoài giá vốn của công ty để có được doanh thu. AC1 có thể phản
ánh tình trạng chi tiêu quá mức hay tiêu dùng tối ưu của các nhà quản lý đại diện phần vốn nhà nước.
 AC2: Tỷ trọng doanh thu thuần trên tổng tài sản. Đây là thước đo mức độ sử dụng tài sản hiệu quả của
nhà quản lý đại diện phần vốn nhà nước. Tỷ lệ doanh thu trên tài sản cao cho thấy tỷ lệ lớn số lượng
doanh thu cao hơn được tạo ra trên đơn vị tài sản.
Tóm lại, nếu chi phí đại diện được đo lường bằng biến AC1 thì nó có mối quan hệ ngược chiều với HQKD
(ROA, ROE, Tobin’Q) công ty phát điện (δ1 < 0). Trong trường hợp chi phí đại diện đo lường bằng biến AC2
thì nó có quan hệ cùng chiều với HQKD (ROA, ROE, Tobin’Q) của công ty phát điện (δ2 > 0).
Tuy nhiên nếu kết quả kinh doanh được đo lường gián tiếp qua chi phí hoạt động thì AC1 cùng chiều (δ1 > 0)
và AC2 có mối quan hệ ngược chiều (δ2 < 0), vì nếu sử dụng hiệu quả các tài sản, chi phí đại diện sẽ giảm.
2.11.2 Đòn bẩy tài chính (LEV)
Theo định đề 2 của MM, các công ty có sử dụng nợ có thể có tỷ suất sinh lợi cao hơn so với công ty
không sử dụng nợ. Điều này hàm ý đòn bẩy tài chính có mối tương quan cùng chiều với HQKD của công ty.
Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây cũng tìm thấy mối quan hệ cùng chiều giữa đòn bẩy tài chính và HQKD
như Li và các tác giả (2009). Tuy nhiên, cũng có nghiên cứu chỉ ra rằng, đòn bẩy có mối quan hệ ngược chiều
với HQKD công ty. Trong tình huống này gia tăng nợ không đem lại hiệu quả như mong đợi (Prasentyatoko
và Rachmadi 2008).
2.11.3 Tỷ lệ thanh toán hiện hành (LIQ)
Mối quan hệ giữa tỷ lệ thanh toán hiện hành với HQKD được phản ánh thông qua giả thuyết đánh đổi.
Khi khả năng thanh toán hiện hành ở mức cao, hàm ý công ty đang có tài sản bằng tiền mặt nhiều hơn. Thông
thường các tài sản bằng tiền mặt có suất sinh lợi thấp hơn. Vì vậy các công ty có tỷ lệ thanh toán hiện hành
cao có thể có HQKD thấp.
2.11.4 Quy mô công ty (SIZE)
Quy mô công ty có thể được đo bằng tổng tài sản. Quy mô công ty có thể có mối quan hệ cùng chiều
với HQKD của công ty. Một mặt, các công ty có quy mô lớn hơn có thể có lợi thế trong tăng trưởng doanh thu
nên có thể có tỷ suất sinh lợi cao hơn. Mặt khác, với quy mô lớn hơn, rủi ro trong kinh doanh cũng lớn hơn
nên các cổ đông cũng mong muốn mức sinh lời cao hơn. Vì vậy, các nhà quản trị công ty phải nỗ lực để đạt

thống nhất hoặc trái với các cơ sở lý thuyết có liên quan.
 Bước 4: Kết luận và nêu các đề xuất từ kết quả nghiên cứu định lượng và định tính.

Hình 3.1: Tóm lược quy trình nghiên cứu định lượng
Bảng 3.1: Chỉ tiêu đo lường các biến từ dữ liệu báo cáo tài chính

Nguồn: Tổng hợp của tác giả


13

3.2. Nghiên cứu định lượng
3.2.1. Dữ liệu và đo lường các biến trong mô hình nghiên cứu định lượng
Các biến trong mô hình định lượng được đo lường qua dạng tỷ lệ, so với cách đo lường số tuyệt đối,
các đo lường này giúp giảm khác biệt yếu tố quy mô. Ngoài biến đo lường BĐKH, các biến còn lại sử dụng
dữ liệu từ báo cáo tài chính để đo lường. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu báo cáo tài chính của 32 công ty phát
điện ở Việt Nam (danh sách 32 công ty phát điện được trình bày trong phụ lục 2). Số liệu báo cáo tài chính sẽ
giúp phản ảnh khách quan tình hình kết quả kinh doanh của công ty. Việc theo dõi số liệu báo cáo tài chính
qua nhiều năm cũng giúp phát hiện các trường hợp tăng trưởng bất thường. Các chỉ tiêu đo lường biến thể hiện
qua bảng 3.1.
Dữ liệu về lượng mưa và nhiệt độ trung bình hàng năm được thu thập từ chuyên trang đặc biệt về kiến
thức biến đổi khí hậu CCKP của WB ( Dữ liệu thay đổi nhiệt độ
và lượng mưa hàng năm giai đoạn 2006-2016 sẽ được so sánh với trung bình giai đoạn 10 năm 1950-1960 và
so sánh với trung bình giai đoạn 1970-1980. Các giá trị được tính như (3) và (4):
𝑇𝑖 − 𝐴𝑉𝑇𝑛−𝑘
(3)
𝐴𝑉𝑇𝑛−𝑘
𝑅𝑖 − 𝐴𝑉𝑅𝑛−𝑘
(4)
∆𝑅𝑖 =


3.2.2.3 Phương pháp ước lượng
Các tham số mô hình 2-5 được ước lượng dựa trên dữ liệu báo cáo tài chính của công ty phát điện và
dữ liệu thu thập về BĐKH qua các năm tương ứng. Gujarati (2002), Hill và các tác giả (2015) nêu các phương
pháp dựa trên phương trình đơn lẻ. Tuy nhiên, trong trường hợp các biến số có vấn đề mối quan hệ nội sinh
hay tự tương quan thì ước lượng của Arellano và Bover (1995), Blundell và Bond (1998) rất phù hợp. Các tác
giả này đã bổ sung phương trình sai phân vào mô hình để tạo ra hệ phương trình khi ước lượng các tham số
mô hình. Vì vậy các ước lượng dạng hệ phương trình thường cho kết quả chính xác hơn.
3.2.2. Các phương pháp ước lượng phương trình
Thứ nhất, mô hình hồi quy gộp (Pooled model): Sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS)
với giả định không có đơn vị chéo đặc biệt nào hoặc thời kỳ đặc biệt nào ảnh hưởng đến các hệ số trong mô
hình. Mô hình Pooled bỏ qua những mối quan hệ không đồng nhất giữa các công ty theo thời gian (ví dụ như
vị trí đặt trụ sở, phong cách lãnh đạo, văn hóa doanh nghiệp…), các khác biệt (nếu có) được giải thích trong
phần sai số của mô hình. Tuy nhiên giả định này ràng buộc quá chặt về các đơn vị chéo, khó xảy ra trong thực
tế. Do vậy, mô hình Pooled không phù hợp với thực tế các công ty phát điện nên không được áp dụng trong
nghiên cứu này.
Thứ hai, mô hình tác động cố định - FEM (Fixed effects model): Phương pháp này khắc phục được
hạn chế của Pooled. Với mô hình (2), FEM bổ sung vào mô hình thành phần 𝜇𝑖 trong phần dư của mô hình.
Thành phần này chứa đựng những tác động của các biến giải thích đến biến phụ thuộc và giả định yếu tố này
tác động đến các công ty giống nhau (cố định tác động). Như vậy tính không đồng nhất của dữ liệu bảng đã
được kiểm soát và 𝜇𝑖 đóng vai trò như hệ số chặn khác nhau cho các đơn vị chéo nhưng không thay đổi theo
thời gian hoặc đơn vị chéo. FEM có thể được ước lượng với kỹ thuật biến giả (least squares dummy variable
- LSDV) hoặc bằng các phương pháp như chuyển đổi nội tại (the within transformation), ước lượng “ở giữa”
(the between) và ước lượng với sai phân bậc 1.
Thứ ba, mô hình tác động ngẫu nhiên - REM (Random effects model): Giống như mô hình FEM, REM
đưa vào mô hình thành phần 𝜀𝑖 (thành phần sai số ngẫu nhiên) để phân tích các tác động của biến giải thích
(các yếu tố không đồng nhất) đến biến phụ thuộc và giả định các yếu tố tác động khác nhau lên biến phụ thuộc
thay đổi theo thời gian (ngẫu nhiên) nhưng không thay đổi theo đơn vị chéo. Vì vậy, 𝜀𝑖 khác nhau cho từng
đơn vị chéo nhưng không khác nhau theo thời gian. Tuy nhiên khác với FEM, REM bổ sung 𝜀𝑖 vào mô hình
nên hệ số chặn của mô hình sẽ là (𝛼 + 𝜀𝑖 ).

Krueger (1994), Morgan (1997), Silverman (2001) cho rằng phỏng vấn chuyên sâu và thảo luận nhóm
là cách tốt nhất để điều tra một chủ đề trong bối cảnh xã hội. Cách này khuyến khích mọi người chia sẻ các
kinh nghiệm mà mình hiểu biết. Vì vậy, tác giả sử dụng phương pháp phỏng vấn chuyên gia và thảo luận nhóm
để hoàn chỉnh mô hình nghiên cứu và kiểm chứng lại các cơ sở lý thuyết trong mô hình có phù hợp với những
suy nghĩ của những nhà quản lý công ty phát điện ở Việt Nam hay không.
 Cỡ mẫu: Số lượng mẫu sử dụng trong phương pháp phỏng vấn chuyên sâu nói chung dưới 50 nhưng
cũng có trường hợp sử dụng nhiều hơn (Witkin và Altschuld 1995). Ludwig (1997) cho biết đa số các
nghiên cứu sử dụng phương pháp phỏng vấn chuyên sâu sử dụng số lượng chuyên gia từ 10-15 người.
Do vậy, tác giả sử dụng số lượng chuyên gia khảo sát 15 người trong đó số chuyên gia là giảng viên
của các trường đại học, học viện từ 6 người. Nhà quản trị công ty phát điện 9 người (phụ lục 3).
 Mục tiêu điều tra: Thu thập các ý kiến nhận định ảnh hưởng của BĐKH và cấu trúc sở hữu cùng các
yếu tố khác đến HQKD các công ty phát điện ở Việt Nam, tìm kiếm các đề xuất nâng cao HQKD các
công ty phát điện ở Việt Nam. Bộ câu hỏi gồm 12 câu hỏi khảo sát chuyên gia được thiết kế, xây dựng
dựa trên cơ sở khung lý thuyết đã được hệ thống hóa, được trình bày trong chương 2. Nội dung cụ thể
các câu hỏi khảo sát được trình bày trong bảng 3.3.
 Quá trình khảo sát: Quá trình phỏng vấn 15 chuyên gia được thực hiện trong khoảng thời gian từ ngày
15/3/2018 đến ngày 20/4/2018. Theo đó, bộ câu hỏi được gửi đến 15 chuyên gia bằng thư điện tử
(email). Tác giả đã chủ động liên lạc bằng điện thoại với từng chuyên gia, và trao đổi làm rõ nội dung
câu hỏi với chuyên gia nhằm thu thập được các ý kiến xác đáng nhất của các chuyên gia đối với từng
vấn đề trọng tâm liên quan đến mục tiêu nghiên cứu. Bên cạnh đó, sau khi hoàn tất mô phỏng các mô
hình định lượng, tác giả đã tổng hợp các ý kiến chuyên gia đối chiếu với các kết quả mô phỏng và các
hàm ý chính sách đối với các nhà quản lý ngành điện, để các chuyên gia xem xét lần nữa và có ý kiến
phản hồi. Kết quả thu được là các chuyên gia đều nhất trí với các hàm ý đối với nhà quản trị đặt trong
bối cảnh BĐKH có tác động đến HQKD của các nhà máy phát điện.


16

CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Thống kê mô tả

thuyết đã đặt ra ban đầu. Các kết quả này cần được kiểm chứng lại trong ước lượng bằng hệ phương trình.
4.2.1.2 Ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả kinh doanh
Khi ước lượng các mô hình thể hiện mối quan hệ tuyến tính (không có biến OWN2) giữa SHNN với
HQKD của công ty phát điện, các kết quả ở bảng 4.3 và 4.5 cho thấy SHNN có tương quan ngược chiều với
HQKD nhưng các hệ số đều chưa có ý nghĩa thống kê. Mối quan hệ ngược chiều hàm ý tăng tỷ lệ SHNN dẫn
đến HQKD các công ty phát điện giảm. Vì hệ số tương quan âm nhưng chưa có ý nghĩa thống kê nên kết quả
này chưa đủ bằng chứng kết luận chấp nhận hay bác bỏ giả thuyết về tác động của tỷ lệ SHNN đến HQKD
công ty phát điện.
Khi áp dụng mô hình thể hiện mối quan hệ phi tuyến (có biến OWN2), các kết quả ở bảng 4.4 và 4.6
(tương ứng mô hình 3 và 5) cho thấy SHNN có tác động đáng kể đến HQKD trong mức ý nghĩa thống kê 5%.
Theo kết quả tính toán, nếu vốn nhà nước cao hơn ngưỡng 137-164% thì mối quan hệ giữa tỷ lệ SHNN và
HQKD ngược chiều. Tuy nhiên, ngưỡng này không thể tồn tại trong thực tế vì vượt qua mức 100% vốn của
công ty. Do vậy chỉ có mối quan hệ dạng chữ U ngược giữa SHNN và HQKD của công ty phát điện chỉ tồn
tại về mặt lý thuyết. Từ kết quả này, tác giả cho rằng việc sử dụng mô hình phi tuyến chưa phù hợp với thực
tế tại các công ty phát điện ở Việt Nam.
4.2.1.3 Vai trò của cấu trúc sở hữu trong kiểm soát biến đổi khí hậu và hiệu quả kinh doanh
Ở bảng 4.5 và 4.6 chỉ có một trường hợp tương tác giữa SHNN và BĐKH có ảnh hưởng ngược chiều
đến HQKD như giả thuyết H3a, các trường hợp còn lại đều có quan hệ cùng chiều. Tuy nhiên tất cả các mô
hình, hệ số ước lượng đều chưa có ý nghĩa thống kê. Vì vậy, vẫn chưa đủ bằng chứng để kết luận chấp nhận
hay bác bỏ giả thuyết.

Các bảng kết quả từ phần này trở đi của báo cáo (bao gồm từ bảng 4.3 đến bảng 4.10 và bảng 4.13 đến bảng 4.17) được tính toán từ
phần mềm thống kê. *, **,*** lần lượt biểu thị mức ý nghĩa thống kê 1%, 5%, 10%. Giá trị trong ngoặc đơn biểu thị sai số thống kê.
1


18

4.2.1.4 Tác động của biến kiểm soát chi phí đại diện
AC1 và AC2 là các biến đo lường chi phí đại diện, phản ánh xung đột lợi ích giữ nhà quản lý đại diện

4.2.2.1 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hiệu quả kinh doanh
Trong các kết quả, cột 3 bảng 4.8 cho thấy thay đổi lượng mưa trung bình hàng năm so với những năm
1960 (DRVN1960) có mối quan hệ ngược chiều với ROA, hệ số có ý nghĩa thống kê 5%. Tuy nhiên, kết quả
bảng 4.8 thuộc về mô hình có mối quan hệ phi tuyến giữa SHNN và HQKD, mô hình này đã được nhận định
chưa phù hợp với các công ty phát điện ở Việt Nam. Tất cả các kết quả ở các mô hình còn lại, hệ số biến
DRVN1960 đều không có ý nghĩa thống kê. Như vậy nếu sử dụng biến DRVN1960 để đo lường BĐKH, cả
ước lượng đơn phương trình và hệ phương trình đều chưa đủ bằng chứng để chấp nhận giả thuyết đã đặt ra
trong phần 3.1.1.1
Kết quả mô hình (4), mô hình tuyến tính, bảng 4.9 cột 5 và 6, các kết quả tìm thấy thay đổi nhiệt độ
trung bình hàng năm so với những năm 1960 (DTVN1960) có quan hệ ngược chiều với HQKD, các hệ số có
ý nghĩa thống kê 5%. Mối quan hệ ngược chiều trong mức ý nghĩa thống kê cũng tìm thấy trong bảng 4.10 tại
cột 6. Theo đó, nếu nhiệt độ hàng năm tăng lên so với giá trị trung bình có thể biểu hiện bằng hiện tượng hạn
hán xuất hiện, nên có thể khiến cho các nhà máy thủy điện phải ngừng hoặc giảm công suất hoạt động. Điều
này chắc chắn sẽ làm giảm HQKD của công ty phát điện. Kết quả này cũng phù hợp với thực tế ở Việt Nam
vào những tháng mùa khô người tiêu dùng thường nhận được nhiều lời kêu gọi hưởng ứng tiết kiệm điện từ
ngành điện và có thể xảy ra trường hợp bị cúp điện luân phiên ở một số khu vực. Thiếu hụt nguồn nước để sản
xuất điện cho thị trường trong khi các chi phí khấu hao, bảo dưỡng máy móc, thiết bị truyền tải điện, chi phí
quản lý vẫn duy trì. Cho nên việc giảm HQKD là điều khó tránh.
Các kết quả này là bằng chứng chấp nhận giả thuyết H1c đã nêu trong phần 2.8.1: Giả thuyết về mối
quan hệ cùng chiều giữa biến đổi khí hậu và HQKD của công ty phát điện nếu BĐKH được đại diện bằng mức
thay đổi nhiệt độ hàng năm tăng lên so với giá trị trung bình 50 năm trước đây.


20

4.2.2.2 Ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả kinh doanh
Tương tự như phương pháp FE, các ước lượng bằng phương pháp GMM hệ thống hai bước cho thấy
trong mô hình tuyến tính (bảng 4.7 và 4.9) tỷ lệ SHNN (OWN) có quan hệ ngược chiều với HQKD, tất cả các
hệ số đều có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên kết quả trong mô hình phi tuyến (bảng 4.8 và 4.10) cho thấy mối
quan hệ theo dạng chữ U ngược, các hệ số trong trường hợp này cũng có ý nghĩa thống kê. Các ngưỡng giá trị

công ty phát điện
4.2.3.1 Ảnh hưởng của BĐKH đến giá trị thị trường công ty phát điện
Bảng 4.12 trình bày tóm tắt các kết quả ước lượng mô hình (2)2 với biến phụ thuộc là giá trị thị trường
xác định theo chỉ số Tobin’Q (TQ)3. Kết quả cho thấy biến DRVN1960 có tương quan ngược chiều với TQ,
trong khi biến DTVN1960 có tương quan cùng chiều với TQ. Tất cả các hệ số đều có ý nghĩa thống kê. Kết
quả này khác với kết quả tìm được khi HQKD đại diện bằng ROA và ROE.
4.2.3

Kết quả này cho biết khi lượng mưa hàng năm lớn hơn so với trung bình của những 1960 thì giá trị thị
trường của công ty phát điện giảm. Ngược lại, khi nhiệt độ trung bình hàng năm tăng lên so với những năm
1960 thì giá trị thị trường của công ty phát điện tăng lên. Kết quả này không tương đồng với kết quả tìm thấy
ở phần 4.2.2.1 (mô hình ước lượng với GMM). Sự khác biệt này cho thấy quan điểm của nhà đầu tư trên thị
trường chứng khoán khác với những gì đang diễn ra tại công ty phát điện. Có thể nhà đầu tư hiểu rằng khi
truyền thông đưa tin về diễn biến của BĐKH với hiện tượng mưa nhiều, nhà đâu tư cho rằng vấn đề an toàn
hồ đập trở thành rủi ro lớn và nhu cầu sử dụng điện cho tưới tiêu, làm mát của người tiêu dùng cũng giảm. Vì
vậy, nhà đầu tư không định giá cao các cổ phiếu công ty phát điện. Trái lại, khi truyền thông đưa tin về biến
đổi khí hậu với hiện tượng nhiệt độ trung bình cao hơn, nhà đầu tư nghĩ rằng nhu cầu điện để làm mát và phục
vụ sản xuất nông nghiệp tăng lên, nhà đầu tư kỳ vọng thu nhập của công ty phát điện tăng lên nên sẵn lòng trả
giá cao hơn để sở hữu cổ phiếu.
Bảng 4.13 và 4.14 cũng cho thấy SHNN tăng sẽ làm giảm giá trị thị trường của công ty. Tuy chỉ có hệ
số ở cột 3 bảng 4.13 có ý nghĩa thống kê, các trường hợp còn lại chưa có ý nghĩa thống kê. Kết quả này tương
đồng với kết quả tìm được ở phần trên. Nghĩa là nhà đầu tư cũng đánh giá thấp những công ty có tỷ lệ SHNN
cao.
Tương tự, chi phí đại diện tăng cũng làm giảm giá trị thị trường của công ty phát điện. Hệ số của biến
AC1 có quan hệ cùng chiều với TQ, TQ80 và TQ70 trong mức ý nghĩa thống kê. Hệ số biến AC2 cũng có
tương quan cùng chiều với TQ, TQ80 và TQ70 trong mức ý nghĩa thống kê. Mối quan hệ giữa DRVN1960 và
DTVN1960 với TQ80 và TQ70 ở bảng 4.14 cũng tương đồng với TQ.
Ngoài ra, bảng 4.13 và 4.14 cũng cho thấy sử dụng nợ nhiều làm tăng giá trị thị trường của công ty
phát điện. Các hệ số phần nhiều có ý nghĩa thống kê. Kết quả này trái với kết luận sử dụng nợ làm giảm HQKD
của công ty phát điện ở phần 2. Tuy nhiên, trường hợp này các hệ số chưa có ý nghĩa thống kê. Cuối cùng, các

thực hiện trong phần này. Các ước lượng được thực hiện với phương pháp GMM hệ thống hai bước.

Trái với giả thuyết bảng 2.2, kết quả ước lượng tại cột 3 và cột 6 cho thấy biến DRVN1960 có tác
động cùng chiều với chi phí hoạt động, hệ số có ý nghĩa thống kê 5%; biến DTVN1960 có tác động ngược
chiều với chi phí hoạt động, hệ số có ý nghĩa thống kê 5%. Kết quả này cho thấy nếu mưa nhiều hơn chi phí
giá vốn tăng trong khi nhiệt độ cao hơn chi phí giá vốn giảm
Cột 3 bảng 4.17 cũng cho thấy SHNN có tương quan cùng chiều với giá vốn, hệ số có ý nghĩa thống
kê 10%. Tương quan cùng chiều cho biết tỷ lệ SHNN cao, chi phí giá vốn cũng cao hơn. Tất cả các kết quả
bảng 4.17 cho thấy AC1 và AC2 có tác động cùng chiều đến giá vốn và có ý nghĩa thống kê 1%.
Biến tương tác giữa tỷ lệ sở hữu và BĐKH tại cột (4) và (6) có tương quan cùng chiều với giá vốn, hệ
số có ý nghĩa thống kê 1% và 10%. Kết quả này cho biết các công ty có SHNN cao, khi BĐKH tăng lên, giá
vốn cũng tăng lơn hơn. Cuối cùng, bảng 4.17 cho thấy vay nợ nhiều và quy mô công ty lớn hơn sẽ làm cho chi
phí tăng lên. Các hệ số trong các trường hợp này đều có ý nghĩa thống kê. Mối quan hệ giữa tỷ lệ thanh toán
hiện hành và giá vốn là cùng chiều nhưng hệ số chưa có ý nghĩa thống kê. Các kết quả chính của mô hình định
lượng được tóm tắt bảng 4.18.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status