BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
--------------------
NGUYỄN THỊ KIM DUNG
ẢNH HƯỞNG CỦA NHÂN TỐ QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẾN MỨC
ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI – BẰNG
CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN
SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN TP. HỒ CHÍ MINH (HOSE)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-----------------
NGUYỄN THỊ KIM DUNG
ẢNH HƯỞNG CỦA NHÂN TỐ QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẾN MỨC
ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI – BẰNG
CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN
SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN TP. HỒ CHÍ MINH (HOSE)
Chuyên ngành: Kế toán
Mã ngành: 8340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
5. Đóng góp mới của nghiên cứu ..........................................................................6
6. Kết cấu của đề tài ..............................................................................................6
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ....................................8
1.1.
Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến CBTTTNXH ................................8
1.2.
Bàn luận kết quả đạt được từ việc tổng hợp các nghiên cứu trước .............12
1.2.1.
Mối quan hệ giữa sở hữu quản lý với CBTTTNXH .............................12
1.2.2.
Mối quan hệ giữa sở hữu nhà nước với CBTTTNXH ..........................13
1.2.3.
Mối quan hệ giữa sở hữu nước ngoài với CBTTTNXH .......................14
1.2.4.
Mối quan hệ giữa thành viên độc lập HĐQT với CBTTTNXH ...........15
1.2.5. Mối quan hệ giữa vai trò kiêm nhiệm giữa CEO và chủ tịch HĐQT với
CBTTTNXH .......................................................................................................16
1.2.6.
Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder theory) ................................32
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ......................................................34
3.1.
Thiết kế nghiên cứu .....................................................................................34
3.2.
Giả thuyết và mô hình nghiên cứu...............................................................35
3.2.1.
Giả thuyết nghiên cứu ...........................................................................35
3.2.2.
Mô hình nghiên cứu ..............................................................................40
3.3.
Thang đo ......................................................................................................42
3.3.1.
Biến phụ thuộc ......................................................................................42
3.3.2.
4.4.1. Mô hình 1: Tác động của sở hữu quản lý (MOWN) đến mức độ
CBTTTNXH .......................................................................................................58
4.4.2. Mô hình 2: Tác động của sở hữu nhà nước (GOVOWN) đối với
CBTTTNXH .......................................................................................................58
4.4.3. Mô hình 3: Tác động của sở hữu nước ngoài (FOROWN) đối với
CBTTTNXH .......................................................................................................58
4.4.4. Mô hình 4: Tác động của thành viên độc lập HĐQT (BIND) đối với
CBTTTNXH .......................................................................................................59
4.4.5. Mô hình 5: Tác động của thành viên kiêm nhiệm vị trí CEO với chủ tịch
HĐQT (CEODU) đối với CBTTTNXH .............................................................59
4.4.6. Mô hình 6: Tác động của tổng số thành viên trong ủy ban kiểm toán
(AUDCOM) đối với CBTTTNXH .....................................................................59
4.4.7. Mô hình 7: Kiểm định độ tin cậy của mô hình.........................................60
CHƯƠNG 5: BÀN LUẬN VÀ KẾT LUẬN ............................................................61
5.1.
Bàn luận về kết quả .....................................................................................61
5.2.
Kết luận........................................................................................................62
5.3.
Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo ......................................63
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
: Quản trị công ty
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1. 1: Bảng tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTTTNXH ..........11
Bảng 3. 1: Bảng tổng hợp các biến ...........................................................................46
Bảng 4. 1: Thống kê mô tả của các biến ...................................................................50
Bảng 4. 2: Ma trận hệ số tương quan giữa các biến ..................................................52
Bảng 4. 3: Kiểm định sự khác biệt ............................................................................55
Bảng 4. 4: Kết quả mô hình hồi quy .........................................................................56
Bảng 4. 5: Bảng tổng hợp kết quả nghiên cứu so với giả thuyết .............................60
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2. 1: Hệ thống phân cấp trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp .......................20
Hình 2. 2: Hệ thống QTCT .......................................................................................28
Hình 3. 1: Quy trình thiết kế nghiên cứu ..................................................................34
Hình 3. 2: Mô hình nghiên cứu .................................................................................42
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thuật ngữ “Phát triển bền vững” xuất hiện trong báo cáo Brundtland từ năm
1987 nhưng vẫn giữ nguyên tính hấp dẫn và ngày càng trở nên phổ biến đối với doanh
nghiệp. Trong môi trường kinh doanh ngày nay, phát triển bền vững trở thành một xu
hướng tất yếu của doanh nghiệp. Để phát triển bền vững, đòi hỏi doanh nghiệp không
chịu trách nhiệm hoạch định chiến lược kinh doanh cũng như giám sát việc sử dụng
tài sản của doanh nghiệp, nên có ảnh hưởng đến các quyết định liên quan đến thực
hành TNXH, bao gồm CBTTTNXH. Một số nghiên cứu (Johnshon và Greening,
1999; Jo và Harjoto, 2011) khám phá ra rằng việc thực hành CBTTTNXH có mối
tương quan dương với cơ chế quản trị bên trong và bên ngoài của doanh nghiệp, ví
dụ như tính độc lập của hội đồng quản trị, ban lãnh đạo và sở hữu tổ chức. Ngoài ra,
Beltratti (2005) đã đưa ra bằng chứng thực nghiệm rằng cả cơ chế QTCT và
TNXHDN đều có mối tương quan dương đến giá trị thị trường của tổ chức. Nhiều
nghiên cứu đã được thực hiện tại các nước phát triển để khám phá mối tương quan
giữa nhân tố QTCT với CBTTTNXH.
Trong khi đó, những vấn đề liên quan đến QTCT, chưa bao giờ hết nóng. Đặc
biệt là sau những cuộc khủng hoảng toàn cầu mang tính hệ thống như khủng hoảng
hệ thống ngân hàng thứ cấp ở Anh quốc vào những năm 1970, cuộc khủng hoảng của
các tổ chức cho vay và tiết kiệm ở Mỹ vào những năm 1980,… Sự thất bại của các
doanh nghiệp trước đây thường bắt nguồn từ những chỉ trích về cấu trúc quản trị
không đầy đủ dẫn tới việc đưa ra những quyết sách không hợp lý của HĐQT của
những doanh nghiệp đó. Tầm quan trọng của các ủy ban này đã được công nhận trong
mọi môi trường kinh doanh (Petra, 2007). Điều này dấy lên một hồi chuông cho sự
quan trọng của QTCT cũng như sự cấp bách của những khuôn khổ QTCT có hiệu
quả. Tại Việt Nam, đã xuất hiện một số thay đổi về luật lệ QTCT. Tuy vậy, về phía
các doanh nghiệp vẫn chưa có nhiều chuyển biến tích cực, trừ một thiểu số.
Các nghiên cứu khám phá những yếu tố ảnh hưởng đến việc CBTTTNXH, ví
dụ áp lực từ nguồn lực liên quan, cộng đồng nói chung và đại diện cơ quan công
quyền, đã bùng nổ từ thập niên 1970 (Cowen, Ferreri, & Parker, 1987). Có rất ít
3
nghiên cứu về tác động của QTCT đến CBTTTNXH tại các nước có nền kinh tế mới
nổi (Khan và cộng sự, 2012). Đặc biệt, nghiên cứu về chủ đề CBTTTTXH ở Việt
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đạt mục tiêu tổng quát là cung cấp bằng
chứng thực nghiệm về sự ảnh hưởng của nhân tố QTCT đến mức độ CBTTTNXH
của các doanh nghiệp trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
(HoSE). Trong đó, quản trị công ty được đại diện bởi cấu trúc sở hữu (sở hữu quản
lý, sở hữu nhà nước và sở hữu nước ngoài) và đặc tính của quản trị doanh nghiệp
(thành viên độc lập HĐQT, vai trò kiêm nhiệm giữa CEO và chủ tịch HĐQT và ủy
ban kiểm toán).
Từ đó, mục tiêu cụ thể được xác định như sau:
(1) Xác định các nhân tố thuộc QTCT.
(2) Tính toán, đo lường mức độ CBTTTNXH tại các công ty trong phạm vi
nghiên cứu; sau đó, sử dụng kết quả vừa tính toán được để kiểm tra mối quan hệ giữa
nhân tố QTCT và vấn đề CBTTTNXH.
(3) Xem xét sự khác biệt về đặc điểm QTCT giữa nhóm công ty niêm yết có
mức độ CBTTTNXH cao và nhóm công ty niêm yết có mức độ CBTTTNXH thấp.
Câu hỏi nghiên cứu
Từ đó, mục tiêu nghiên cứu được khái quát qua câu hỏi nghiên cứu:
Có tồn tại mối quan hệ giữa nhân tố QTCT và CBTTTNXH trong các công ty
niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh hay không và nếu
có tồn tại mối quan hệ giữa hai nhân tố thì QTCT ảnh hưởng như thế nào đến vấn đề
CBTTTNXH?
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu mối quan hệ giữa nhân tố QTCT và mức độ CBTT TNXH
của 50 doanh nghiệp được lựa chọn ngẫu nhiên trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành
phố Hồ Chí Minh (HoSE). Qua đó, tác giả xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu
cho đề tài:
Đối tượng nghiên cứu
5
Với mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài được kỳ vọng sẽ mang lại những đóng
góp về mặt lý thuyết và thực tiễn như sau:
Về mặt lý thuyết
Thứ nhất, nghiên cứu đã bổ sung bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ
giữa QTCT và CBTTTNXH trong bối cảnh một nước có nền kinh tế mới nổi, đặc biệt
khi nghiên cứu liên quan đến CBTTTNXH tại Việt Nam còn rất hạn chế.
Thứ hai, Vấn đề CBTTTNXH được xác định bởi mối quan hệ giữa doanh
nghiệp với các bên liên quan; do đó, nghiên cứu một lần nữa khẳng định tầm quan
trọng của lý thuyết các bên liên quan đối với sự hiểu biết cũng như thực hành
CBTTTNXH.
Thứ ba, nghiên cứu bổ sung vào hệ thống cơ sở lý luận, là cơ sở cho các hướng
nghiên cứu tiếp theo có liên quan đến đề tài CBTTTTXH tại Việt Nam.
Về mặt thực tiễn
Đối với doanh nghiệp: Kết quả cung cấp thêm thông tin mang hàm ý quản trị
cho các doanh nghiệp đang và có ý định CBTTTNXH. Sự hiểu biết về mối quan hệ
giữa nhân tố QTCT, cụ thể, ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu và thành phần hội đồng
quản trị (HĐQT) đến mức độ CBTTTNXH. Từ đó, giúp nhà quản trị đưa ra những
quyết định chiến lược liên quan đến vấn đề CBTTTNXH của doanh nghiệp, hướng
đến phát triển bền vững.
Đối với nhà đầu tư: Thông qua mức độ CBTTTNXH của doanh nghiệp, nhà
đầu tư sẽ có cách nhìn nhận thận trọng hơn về những hoạt động của doanh nghiệp
trước khi quyết định đầu tư.
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, nghiên cứu được tác giả xây dựng thành 5 chương, cụ
thể:
7
Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu trước
nước ngoài, Thành viên độc lập HĐQT, Vai trò kiêm nhiệm giữa CEO và chủ tịch
HĐQT, Ủy ban kiểm toán.
Một số lượng lớn nghiên cứu thực nghiệm đã tiến hành điều tra tác động của
QTCT đến vấn đề CBTTTNXH. Một số biến đại diện cho QTCT được xem xét phổ
biến như cơ cấu và quy mô của HĐQT (Khan, 2010; Khan và cộng sự, 2013), giới
tính của thành viên HĐQT (Said và cộng sự, 2009), cấu trúc sở hữu doanh nghiệp
(Ghazali, 2007; Eng và Mak, 2003; Majeed và cộng sự, 2015). Tuy nhiên, kết quả
của các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ này thường mâu thuẫn và chưa thống
nhất. Cụ thể, một số kết quả nghiên cứu báo cáo các biến đại diện cho QTCT như sở
9
hữu nước ngoài, thành viên độc lập HĐQT, vai trò kiêm nhiệm CEO và chủ tịch
HĐQT, ủy ban kiểm toán có mối tương quan dương có ý nghĩa thống kê với
CBTTTNXH; trong khi một số nghiên cứu khác phát hiện ra mối tương quan âm; hay
thậm chí một số nghiên cứu không tìm thấy bất kỳ mối tương quan nào.
Tại Việt Nam, nghiên cứu về CBTTTNXH chỉ mới đề cập đến các nhân tố
ảnh hưởng đến việc thực hiện và báo cáo trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp
Việt Nam (Phạm Đức Hiếu); hay nghiên cứu của Hồ Thị Vân Anh tìm hiểu về mối
quan hệ giữa “Trách nhiệm xã hội và hiệu quả tài chính” với bằng chứng thực nghiệm
là các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam. Một số nghiên cứu khác khám phá vấn
đề CBTTTNXH trong phạm vi nhỏ hơn. Chẳng hạn nghiên cứu của Nguyễn Phương
Mai (2013), tìm hiểu về TNXHDN trong ngành dệt may tại Việt Nam. Trong khi đó,
số lượng các nghiên cứu khám phá tác động của nhân tố QTCT đến mức độ
CBTTTNXH còn rất hạn chế. Trong phạm vi tìm hiểu của mình, tác giả phát hiện có
nghiên cứu được thực hiện bởi Nguyễn Hữu Hòa (2017). Tuy nhiên nghiên cứu này
chỉ tập trung khám phá tác động của nhân tố QTCT đến việc CBTTTNXH tại các
doanh nghiệp thuộc lĩnh vực sản xuất niêm yết trên Thị trường Chứng khoán Việt
Nam chứ chưa đưa ra được kết luận cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực
Kết quả
Ghazali (2007)
_
Khan và cộng sự (2013)
_
(Tuy nhiên, khi xem xét
những doanh nghiệp định
hướng xuất khẩu, nhà quản lý
có xu hướng CBTTTNXH
nhiều hơn.)
Sở hữu nhà nước
Eng và Mak (2003)
+
Ghazali (2007)
+
Said và cộng sự (2009)
+
Khan và cộng sự (2013)
Không tìm thấy mối tương
quan có ý nghĩa thống kê.
Vai trò kiêm nhiệm Haniffa và Cooke (2005)
giữa CEO và chủ
tịch HĐQT
+
Jizi và cộng sự (2014)
+
(Đề xuất giả thuyết vai trò
kiêm nhiệm CEO tác động
nghịch chiều đến mức độ
CBTTTNXH. Chưa đưa ra lý
do giải thích cho kết quả.)
Khan và cộng sự (2013)
Không tìm thấy mối tương
quan có ý nghĩa thống kê.
Ủy ban kiểm toán
Said và cộng sự (2009)
+
công bố thông tin trên cả hai phương diện thông tin tài chính và phi tài chính, không
đánh giá riêng mức độ CBTTTNXH.
Trong khi đó, Ghazali (2007) thực hiện nghiên cứu tại Malaysia, chứng minh
những doanh nghiệp mà nhà quản lý và giám đốc điều hành nắm giữ tỷ lệ cổ phiếu
cao, có xu hướng công bố ít thông tin liên quan đến TNXH hơn trong BCTN. Bên
cạnh đó, theo Oh và cộng sự (2011), ở một số nước Châu Á, đặc biệt những nước mà
nhà quản lý chịu ít áp lực thể chế liên quan đến các vấn đề xã hội, thì nhiều khả năng
họ sẽ theo đuổi các chiến lược ngắn hạn để tăng lợi nhuận hơn là đầu tư hoạt động
cộng đồng và CBTTTNXH. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của Khan và cộng sự (2013)
tại Việt Nam cũng phát hiện ra mối tương quan âm giữa sở hữu quản lý và
CBTTTNXH. Tuy nhiên, khi xem xét những doanh nghiệp định hướng xuất khẩu,
các tác giả nhận thấy nhà quản lý có xu hướng báo cáo nhiều thông tin TNXH hơn
do áp lực từ khách hàng quốc tế.
1.2.2. Mối quan hệ giữa sở hữu nhà nước với CBTTTNXH
Nhiều nghiên cứu trước đã chứng minh rằng cấu trúc sở hữu phân tán sẽ góp
phần tăng thêm áp lực trong việc công bố tự nguyện (Ullmann, 1985, Chau and Gray,
2002). Kết quả nghiên cứu của Ghazali (2007) chỉ ra rằng những doanh nghiệp mà
nhà nước là cổ đông lớn, sẽ công bố nhiều thông tin TNXH hơn trong BCTN. Phần
lớn các doanh nghiệp trong số này được cổ phần hóa theo chính sách kinh tế, chính
14
trị quốc gia. Do được thành lập với mục đích đặc biệt, nên các doanh nghiệp càng
phải tham gia nhiều hơn vào hoạt động xã hội, cộng đồng để báo hiệu rằng doanh
nghiệp đang hoạt động theo kỳ vọng của quốc gia. Kết quả này phù hợp với nghiên
cứu của Eng và Mak (2003) về ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu và các thành phần
trong HĐQT đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của 158 doanh nghiệp niêm
yết trên sàn chứng khoán Singapore.
Thực hiện nghiên cứu tại Malaysian, Said và cộng sự (2009) kiểm chứng tác
đề cập đến trong các nghiên cứu, nhưng vẫn chưa thực sự thống nhất về kết quả.
1.2.4. Mối quan hệ giữa thành viên độc lập HĐQT với CBTTTNXH
Forker (1992, trang 112-113) lập luận rằng việc đưa các thành viên không điều
hành vào HĐQT sẽ cải thiện chất lượng công bố thông tin tài chính. Bằng chứng thực
nghiệm của Chen và Jaggi (2000) tại Hồng Kông, ủng hộ lập luận này, cho rằng tỷ lệ
tổng số thành viên độc lập HĐQT trên tổng số thành viên HĐQT có tác động tích cực
đến tính toàn diện của thông tin tài chính được công khai. Eng và Mak (2003) kế thừa
ý tưởng của Chen và Jaggi (2000), mở rộng nghiên cứu và đo lường mức độ công bố
thông tin tự nguyện. Tuy nhiên, công trình của hai tác giả này lại đạt được kết quả
đối lập, cho rằng việc gia tăng số thành viên độc lập HĐQT làm giảm mức độ công
bố thông tin tự nguyện.
Trong khi đó, Khan và cộng sự (2013) đưa ra bằng chứng cho thấy các doanh
nghiệp có tỷ lệ thành viên độc lập HĐQT cao công bố nhiều thông tin TNXH hơn.
Điều này phù hợp với kết quả được báo cáo từ những nghiên cứu trước (Barako,
Hancock, & Izan, 2006; Harjoto & Jo, 2011).
Bên cạnh đó, Majeed và cộng sự (2015) cũng nghiên cứu tác động của thành
viên độc lập HĐQT đến việc CBTTTTXH của các doanh nghiệp Pakistan; tuy nhiên,
các tác giả không tìm thấy mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa hai nhân tố và
nhận định rằng thành viên độc lập HĐQT có khả năng chú trọng thông tin tài chính
hơn các báo cáo hoạt động xã hội. Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu trước
đó của Ho và Wong (2001).
16
1.2.5. Mối quan hệ giữa vai trò kiêm nhiệm giữa CEO và chủ tịch HĐQT với
CBTTTNXH
Bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng của vai trò kiêm nhiệm giữa CEO và
chủ tịch HĐQT với CBTTTNXH chưa thực sự thống nhất. Kết quả nghiên cứu của
Haniffa và Cooke (2005) tìm ra mối tương quan dương giữa hai nhân tố này. Các tác