LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, tôi xin trân trọng cảm ơn trường Trường
Đại học Quảng Bình cùng toàn thể các giảng viên trong Khoa Sư phạm Tiểu học Mầm non, Khoa Âm nhạc - Mỹ thuật đã truyền đạt kiến thức cũng như đã trực tiếp chỉ
dẫn cho tôi trong thời gian tôi học tập và nghiên cứu tại trường.
Tôi xin đặc biệt bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo ThS. Nguyễn Chiêu
Sinh người đã tân tình hướng dẫn và đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho tôi trong suốt
thời gian qua học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận.
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể cô và cháu trường Mầm non Đồng Phú đã tạo
mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian công tác nghiên cứu.
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất
mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô, bạn bè để khóa luận của tôi được
hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Đồng Hới, tháng 5 năm 2018
Sinh viên
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp Đại học này do bản thân tôi thực hiện
duới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Chiêu Sinh. Các luận điểm, thông tin, dữ liệu,
hình ảnh minh họa trong khóa luận là khách quan, khoa học và đã được công bố, lưu
hành hợp pháp, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.
Đồng Hới, tháng 5 năm 2018
Người cam đoan
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT.
Viết tắt
GDMN
GV
GVMN
ảnh và làm nảy sinh ở trẻ sự tìm hiểu, khám phá những điều mới lạ. Điều đó làm cho
trẻ bắt đầu chú ý, quan sát thế giới xung quanh một cách có ý thức hơn, tư duy, trí
tuệ… trẻ quan tâm đến cấu trúc, hình dáng, màu sắc, kích thước của các sự vật, hiện
tượng trong cuộc sống. Trẻ dần có nhu cầu thể hiện những gì mà mình đã quan sát
được bằng đường nét, màu sắc. Trong quá trình hình thành và phát triển khả năng cảm
thụ cái đẹp, đặc biệt là khả năng tư duy, tích cực chủ động sáng tạo của trẻ. Từ những
hình dáng, màu sắc đó chính là cảm xúc, tình cảm, là ước mơ mà trẻ đã thể hiện vào
sản phẩm của mình.
Trong số các hoạt động của trẻ mầm non, thì HĐTH vô cùng hấp dẫn trẻ. Với sự
phong phú của các thể loại như vẽ, nặn, cắt – xé dán... HĐTH không những giúp trẻ
tiếp cận một cách tích cực với thế giới xung quanh mà còn là cơ hội để trẻ thể hiện
tình cảm, cảm xúc, và tư duy của mình về những gì mà trẻ lĩnh hội, tiếp thu, quan sát
được. Bên cạnh đó, còn phát triển ở trẻ khả năng phối hợp giữa kỹ năng và tư duy, sự
tập trung ghi nhớ, chú ý, phân tích, hoàn thiện thêm các kỹ năng cơ bản.
Trong HĐTH thì hoạt động VTT có vai trò quan trọng trong việc giáo dục trẻ
mầm non, hoạt động này giúp trẻ phát triển một cách toàn diện về thể lực, tư duy và
sáng tạo. Vì thế cần tạo điều kiện, tạo cơ hội cho trẻ được thực hiện hoạt động VTT để
nâng cao tính chủ động sáng tạo, khả năng tư duy, trí tưởng tượng phong phú trong khi
thực hiện hoạt động tạo hình. Nhằm kích thích được tính chủ động sáng tạo trong VTT
của trẻ thì GV phải tạo cho trẻ niềm say mê hứng thú sáng tạo, tạo cho trẻ sự tập trung
chú ý, hấp dẫn trẻ, thu hút trẻ vào giờ học, tạo không gian học tập có thể nâng cao tính
chủ động sáng tạo của trẻ trong hoạt động tạo vẽ trang trí.
Tuy nhiên, trong thực tế GDMN thìHĐTH nói chung và hoạt động VTT nói
riêng vẫn chưa được các GV thực sự chú ý, quan tâm, chưa tạo cơ hội, còn nhiều hạn
chế về việc điều kiện cho việc nâng cao tính chủ động sáng tạo trong hoạt VTT của trẻ
ở các trường mầm non. Các phương pháp tạo hình còn mang tính áp đặt, rập khuôn,
theo mẫu, chưa phát huy hết được khả năng sáng tạo của trẻ trong tổ chức HĐTH đặc
biệt là VTT.
- Nghiên cứu lý luận về tính chủ động sáng tạo của trẻ trong hoạt động vẽ trang
trí.
- Khảo sát thực trạng mức độ chủ động sáng tạo của trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động
vẽ trag trí ở trường Mầm non.
- Đề xuất và thực hiện một số hình thức nâng cao tính chủ động sáng tạo trong
hoạt động vẽ trang trí cho trẻ mẫu giáo lớn 5-6 tuổi .
- Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng hình thức đã đề ra.
7. Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu tính chủ động sáng tạo trong hoạt động vẽ trang trí cho trẻ mẫu giáo
lớn 5-6 tuổi.
8. Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện đề tài này, tôi sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
8.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Thu thập các loại sách, báo, tạp chí, tài liệu có liên quan đến đề tài
- Phân tích tổng hợp những vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến đề tài
nghiên cứu
8.2. Phương pháp quan sát:
- Phương pháp này được tôi sử dụng khi nghiên cứu, quan sát việc tổ chức hoạt
động dạy vẽ trang trí cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường Mầm non Đồng Phú qua đó đánh giá
một số hình thức nâng cao tính chủ động sáng tạo trong hoạt động vẽ trang trí cho trẻ
mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi tốt mà giáo viên đã sử dụng.
- Quan sát thái độ, biểu hiện của trẻ khi tham gia vào hoạt động vẽ trang trí.
8.3.Phương pháp điều tra:
Điều tra bằng phiếu câu hỏi, đưa ra hệ thống câu hỏi xung quanh hoạt động vẽ
trang trí và cách tổ chức tiết vẽ trang trí ra sao tạo trường Mầm non Đồng Phú đối
tượng trẻ mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi. Hệ thống các câu hỏi đưa ra cho giáo viên đánh dấu
vào những phần mình đã thực hiện được và ý kiến đề xuất một số hình thức nâng cao
Chương 3: Một số hình thức nâng cao tính chủ động sáng tạo trong hoạt động vẽ
trang trí cho trẻ mẫu giáo lớn 5-6 tuổi ở trường Mầm non Đồng Phú - Thành phố Đồng
Hới.
- Phần cuối khóa luận có tài liệu tham khảo và phụ lục
- Sản phẩm thực nghiệm trước và sau của trẻ
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.
1.1. Cơ sở lý luận
HĐTH là một hoạt động mang tính chất quan trọng không thể thiếu trong chương
trình chăm sóc GDMN. Cho trẻ làm quen với hoạt động tạo hình nhằm giáo dục tình
cảm, đạo đức, thẩm mĩ đồng thời tạo điều kiện cho trẻ phát huy năng khiếu góp phần
phát triển trí tuệ và thể chất cho trẻ. Khi tạo ra sản phẩm tạo hình trẻ tham gia một
cách tích cực kết hợp giữa tính tích cực của trí tuệ và thể lực. Đó là sự vận dụng kỹ
năng, sử dụng dụng cụ và các phương tiện tạo hình, trí nhớ, trí tưởng tượng sáng tạo
thông qua các hoạt động đó phát triển các nhóm cơ bàn tay, ngón tay từ vụng về đến
linh hoạt.
Thông qua HĐTH giúp trẻ phát triển trí tuệ nhận thức được thực hiện thật khách
quan bằng hình tượng nghệ thuật, phát triển khả năng tri giác về hình dạng, cấu trúc,
kích thước, màu sắc của đồ vật bằng mắt một cách có mục đích rõ ràng. Khi tham gia
các HĐTH trẻ đã tái tạo được hình tượng nghệ thuật của đồ vật mà chúng tri giác
được. Đó chính là những biểu tượng được hình thành trong quá trình trực tiếp đồ vật
hiện tượng trong khi dạo chơi, tham quan và vui chơi các đồ chơi trẻ em. Khi quan sát
trẻ so sánh hình dáng, kích thước, màu sắc, không gian của đồ vật như vậy hoạt động
tạo hình đã góp phần tích cực trong việc hình thành ở trẻ những thao tác tư duy như
“phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát, phát triển tư duy trực quan hình tượng và phát
triển trí nhớ, trí tưởng tượng sáng tạo” đồng thời trong quá trình trẻtham gia HĐTH
ngôn ngữ của trẻ cũng được phát triển theo,giáo dục đạo đức cho trẻ biết yêu quý cái
của trẻ. Đặc biệt trẻ 5 – 6 tuổi khả năng cảm nhận và lĩnh hội thế giới xung quanh
phong phú và do đó HĐTH trẻ càng đa dạng. Đối với trẻ, HĐTH rất cần thiết nhằm
phát triển kiến thức,kỹ năng thể hiện nghệ thuật và đặc biệt tính chủ động sáng tạo của
trẻ. Cùng với đó GDMN đòi hỏi chất lượng dạy và học ngày càng cao, đòi hỏi trẻ phải
chủ động, tích cực, sáng tạo hơn trong mọi hoạt động nhằm đáp ứng sự thay đổi của
đất nước, nhu cầu của phụ huynh cũng đặt vào giáo viên nhiều hơn. Hiểu được vai trò
quan trọng đó, tôi luôn tìm tòi một số hình thức nâng cao tính chủ động sáng tạo trong
hoạt động vẽ trang trí cho trẻ mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi.
1.2. Cơ sở thực tiễn
HĐTH - VTT là phương tiện để trẻ thể hiện ấn tượng, hiểu biết, ý muốn của
mình về thế giới xung quanh. Kết quả của HĐTH - VTT phụ thuộc vào kiến thức, kinh
nghiệm mà trẻ tích lũy được trong các hoạt động khác nhau. Việc tham gia vào các
hoạt động tạo hình sẽ tạo cho trẻ nguồn cảm hứng làm nảy sinh những ý tưởng, nâng
cao khả năng chủ động sáng tạo của trẻ nhằm phát triển toàn diện cho trẻ về trí tuệ,
đạo đức, thể chất, lao động và đặc biệt với giáo dục thẩm mỹ.
Với trẻ 5 – 6 tuổi HĐTH - VTT còn có ý nghĩa không nhỏ trong việc chuẩn bị
điều kiện thuận lợi cho trẻ vào tiểu học. Trong chương trình GDMN mục đích của việc
dạy tạo hình cho trẻ là phải tạo hứng thú và phát huy tính tích cực sáng tạo cho trẻ
trong học tập, lấy trẻ làm trung tâm nhằm phát triển khả năng cảm thụ của trẻ và xúc
cảm thẩm mỹ, bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ hình thành tình yêu đẹp với thiên nhiên,
cuộc sống con người và nghệ thuật. HĐTH - VTT còn giúp trẻ hình thành và hoàn
thiện các kỹ năng, kỹ xảo,năng lực quan sát, phát triển trí nhớ, trí tưởng tượng sáng
tạo. Thực hiện tốt HĐTH - VTT trong trường mầm non sẽ góp phần nâng cao ở trẻ tính
chủ động sáng tạo, sự phát triển tư duy, trí tuệ, thẩm mỹ, giáo dục trẻ một cách toàn
diện.
Đặc điểm chung của trẻ ở trường mầm non là rất thích vẽ, và đây là nhu cầu nên
trẻ rất say sưa nhưng phần lớn sản phẩm của trẻ có lúc thiếu có lúc lại thừa các chi tiết,
tỷ lệ, bố cục tranh thiếu cân xứng. Chính vì sự say mê của trẻ nên trẻ không quan tâm
một nhu cầu thiết yếu của con người, của xã hội và chiếm một vị trí quan trọng trong
đời sống con người (kiến trúc, đô thị trang trí nội thất, trang trí ngoại thất, trang trí ấn
loát, trang trí phục trang, trang trí điện ảnh sân khấu…). Từ xa xưa trang trí luôn là
nhu cầu thiết yếu của con người, bất kỳ dân tộc trên thế giới cũng có những màu sắc
văn hóa riêng biệt của mình. Khi nhìn vào những đồ vật, đồ dùng, những công trình
mang tính lịch sử chúng ta thấy sự thể hiện rất rõ nhất ở các hoa văn, họa tiết trong các
đồ dùng (trống đồng, mũi tên, thuyền bè, cán dao, thổ cẩm…), trên các đình chùa lăng
tẩm (hoa văn trên bia đá, họa tiết chim hạc ở trống đồng, họa tiết rồng phượng, họa tiết
trên các kèo cột…). Xung quanh chúng ta bất kỳ một đồ vật nào cũng được trang trí.
Từ những vật nhỏ như quyển sách, quyển vở, cây bút đã có hình dáng, màu sắc trang
trí khác nhau đến quần áo, vải vóc, bàn ghế, ấm chén, gạch hoa, các công trình văn hóa
(nhà hát, công viên…) thì hình dáng, màu sắc càng muôn vẻ và tinh tế. Những kết quả
đó nói lên sự sáng tạo về trang trí vô cùng phong phú và to lớn của con người.
1.3.1.2. Nguồn gốc, sự hình thành và phát triển của vẽ trang trí
VTT được hình thành và phát triển qua quá trình lao động sản xuất và đấu tranh
sinh tồn của con người. Kểtừ thời sơ khai của lịch sử, khi loài người còn ở trong hang
động, cuộc sống dọc theo các triền sông, họ đã biết sử dụng các công cụ thô sơ như
đoạn cây, hòn đá làm công cụ đào bới, săn bắt để sinh sống. Dần dần họ biết làm cho
những công cụ đó hoàn hảo và dễ dàng sử dụng hơn, biết đánh dấu công cụ để khẳng
định đồ vật của mình. Cứ như thế nâng dần lên những hình trang trí cho đẹp mắt và
chế tác ra công cụ phục vụ cho cuộc sống như: rìu, dao, ấm… Các loại hình nghệ thuật
chính là những dấu hiệu rõ nét ghi lại những bước tiến hóa ấy qua từng thời đại. Tại
các di tích khảo cổ được biết đến, người ta tìm thấy những hình khắc trên các hang,
vách đá mô tả cảnh săn bắn như: hang Ô-ri-nhắc (Pháp), hang động ở Tây Ban Nha…
Cùng các dân tộc khác trên Trái đất, người Việt cổ cũng có những phát triển tương tự
về mỹ thuật trang trí của mình trên các đồ dùng thực dụng bằng gỗ, đá, sắt, đồng…
Nghệ thuật trang trí ở Việt Nam cũng phát triển theo trào lưu chung của sự phát
triển xã hội. Thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn…mỗi giai đoạn đều có những công trình nghệ
hút được sự chú ý đối với trẻ hơn là những hình ảnh tối màu, xấu. Tạo yếu tố bất ngờ
trong hoạt động VTT để trẻ khám phá đối tượng và tìm ra đặc điểm, tính chất của đối
tượng đó qua các giác quan, đồng thời kết hợp với những trò chơi, bài hát, điệu nhạc,
những đoạn video về các sự vật, hiện tượng liên quan đến bài VTT của trẻ cũng là một
yếu tố kích thích trẻ hứng thú hơn trong các hoạt động học tập. Trong quá trình trẻ
VTT chúng ta không nên chê trẻ mà phải động viên, khen trẻ đúng lúc, kịp thời để trẻ
cósáng tạo, có hứng thú mong muốn hoàn thành sản phẩm.
1.3.3.Bồi dưỡng thị hiếu thẩm mĩ cho trẻ
Khi trẻ vẽ - đặc biệt VTT, việc quan sát, tìm hiểu sự vật hiện tượng giúp trẻ nhận
ra các đặc điểm thẩm mĩ của đối tượng được miêu tả (hình dáng, màu sắc, cấu trúc, tỉ
lệ, sự sắp xếp không gian...), là những yếu tố kích thích sự xuất hiện những xúc cảm
thẩm mĩ giúp trẻ biết thưởng thức cái đẹp từ thiên nhiên. Khi VTT cũng dẫn dắt trẻ
đến với những hiện tượng sôi động của đời sống, giúp trẻ hình thành sự liên tưởng
như: màu đỏ gợi cho trẻ niềm vui, hào hứng phấn khởi liên tưởng đến màu cờ, màu
vàng gợi cho trẻ liên tưởng tới cánh đồng lúa chín, màu xanh gợi liên tưởng tới đồng
cỏ xanh mướt... Trẻ càng được tiếp cận nhiều với thế giới xung quanh một cách có ý
thức bao nhiêu thì những tình cảm thẩm mĩ càng sâu sắc bấy nhiêu. Đối với hoạt động
dạy vVTT, tác dụng thẩm mĩ phụ thuộc vào đối tượng miêu tả có đẹp không? có hấp
dẫn không? để mang lại niềm vui, hứng khởi cho trẻ. Trên cơ sở đó, trẻ hứng thú và
nhu cầu hoạt động với vẽ, muốn thể hiện những hình ảnh, màu sắc đó vào trong tranh
vẽ theo cảm nhận của mình.
1.3.4. Bồi dưỡng khả năng sáng tạo cho trẻ
VTT sẽ giúp não hoạt động để nhận thức, xác định màu sắc, hình dạng, vị trí
không gian và có lợi cho sự phát triển trí tuệ, giúp trẻ thông minh hơn. Trong quá trình
VTT, trí tưởng tượng của trẻ sẽ tiếp tục phá vỡ những khuôn màu cố định. Sau khi
nhìn nhận được vẻ ngoài mới lạ của sự vật, trẻ sẽ tiếp tục có cảm hứng để sáng tạo
nhiều hơn. Để phát huy khả năng sáng tạo trong các hoạt động VTT cần tăng cường
những nội dung miêu tả theo chủ đề, theo dự định sáng tạo riêng của trẻ, cho trẻ tự lựa
tượng miêu tả trong tạo hình thực sự trở thành một quá trính cảm thụ thẩm mỹ.
Quá trình thể hiện sản phẩm là điều kiện thuận lợi cho trẻ vận dụng tích cực vốn
biểu tượng đã tích luỹ được để phối hợp, xây dựng hình tượng mới làm cho các sản
phẩm tạo thành của trẻ ngày càng trở nên sinh động đầy hấp dẫn và mang màu sắc
nghệ thuật. Sự thể hiện nội dung tạo hình bằng phương tiện truyền cảm mang tính trực
quan (đường nét, hình dạng, màu sắc…) sẽ làm cho cảm xúc thẩm mỹ của trẻ ngày
càng trở nên sâu sắc hơn, trí tưởng tượng của trẻ mang tính nghệ thuật của trẻ ngày
càng phong phú.
Hoạt động VTT không chỉ là cơ hội thuận lợi cho trẻ luôn được tiếp xúc với cái
đẹp, luôn được rèn luyện trong việc tìm kiếm, tìm hiểu về cái đẹp ở trong cuộc sống
cũng như ở trong thiên nhiên mà còn làm nảy sinh và nuôi dưỡng ở trẻ hứng thú và
niềm say mê, chủ động tích cực sáng tạo cái đẹp. Chính hứng thú trong hoạt động VTT
đã giúp trẻ khám phá cái đẹp, cái mới lạ trong thế giới xung quanh, cái mà khi chưa
tham gia vào hoạt động VTT trẻ chưa từng thể hiện lại. Khác với các hoạt động khác ở
trường mầm non, khi tham gia hoạt động VTT trẻ không chỉ làm quen với cái đẹp
trong cuộc sống mà cả cái đẹp trong nghệ thuật (tranh, ảnh, đồ thủ công mỹ nghệ...).
Các tác phẩm nghệ thuật phù hợp với lứa tuổi sẽ mở ra trước mắt trẻ sự phong phú,
sống động, vẻ đẹp rực rỡ các sắc màu, hình dạng, ánh sáng, không gian...và sự biến đổi
sinh động của chúng trong thế giới xung quanh. Qua đó trẻ sẽ so sánh đối chiếu giữa
hiện thực và các tác phẩm nghệ thuật sẽ giúp trẻ nhận ra cái đẹp của các sự vật, hiện
tượng xung quanh và mong muốn thể hiện cái đẹp đó một cách sáng tạo nhất.
Sự phản ánh hiện thực và biểu lộ tình cảm trong các phương tiện truyền cảm đặc
trưng cho các loại hình nghệ thuật vật thể như đường nét, màu sắc, bố cục không
gian... Chính là con đường lĩnh hội của các kinh nghiệm văn hoá thẩm mỹ rất phù hợp
với lứa tuổi của trẻ, trên cơ sở đó mà hình thành thị hiếu thẩm mỹ.
1.4.2. Ý nghĩa của hoạt động vẽ trang trí đối với việc nâng cao tính chủ động
sáng tạocho trẻ mẫu giáo lớn
Hoạt động VTT lấy việc nâng cao tính chủ động sáng tạocho trẻ mẫu giáo lớn
người, và cơ sở vật chất của sáng tạo chính là bộ não “Bộ não không những là một cơ
quan giữ lại và tái hiện kinh nghiệm cũ của chúng ta, nó còn phối hợp một cách sáng
tạo và xây dưng nên những tình thế mới và những hành vi mới bằng những yếu tố của
kinh nghiệm cũ đó”[19,Tr8]. Hoạt động sáng tạo được ông nhìn nhận như sau:“Sự
sáng tạo thật ra không chỉ có ở nơi nó tạo ra những tác phẩm vĩ đại, mà ở khắp nơi
nào con người tưởng tượng, phối hợp, biến đổi và tạo ra cái gì mới, cho dù cái ấy nhỏ
bé đến đâu đi nữa so với những sáng tạo của các thiên tài…”[18,Tr10]
Theo Freud “Sáng tạo cũng giống như giấc mơ hiện hình, là sự tiếp tục và thay
thế trò chơ trẻ con cũ”.[10,Tr28]
Theo tác giả Chu Quang Tiềm đã định nghĩa sáng tạo là: “Căn cứ vào những ý
tưởng đã có sẵn làm tài liệu rồi cắt xén gạt bỏ chọn lọc tổng hợp thành một hình
tượng mới”.[5,Tr295]
Trong từ điển Tiếng Việt:“Sáng tạo là tìm ra cái mới, giải quyết mới, không bị
gò bó, phụ thuộc vào cái đã có”.[5, Tr9]
Trong “Sổ tay tâm lý học”, tác giả Trần Hiệp và Đỗ Long cho rằng: “Sáng tạo là
một hoạt động tạo lập phát hiện những giá trị vật chất và tinh thần. sáng tạo đòi hỏi
cá nhân phải phát huy năng lực, phải có động cơ, tri thức, kỹ năng với điều kiện như
vậy mới tạo nên sản phẩm mới, độc đáo, sâu sắc”.[7, Tr5]
Theo tác giả Nguyễn Huy Tú thì: “Sáng tạo thể hiện khi con người đứng trước
hoàn cảnh có vấn đề. Quá trình này là tổ hợp các phẩm chất và năng lực mà nhờ đó
con người trên cơ sở kinh nghiệm của mình bằng các tư duy độc lập đã tạo ra được
những ý tưởng mới, độc đáo, hợp lý trên bình diện cá nhân hay xã hội. Ở đó con
người sáng tạo gạt bỏ các giải pháp truyền thống để đưa ra những giải pháp mới,độc
đáo và thích hợp cho vấn đề đặt ra”. [16,Tr25]
Tóm lại, những nhà nghiên cứu đã đưa ra những quan điểm khác nhau về sáng
tạo nhưng có điểm chung là sáng tạo là một quá trình tạo ra hay hướng đến cái mới.
Trên cơ sở phân tích một số quan niệm trên chúng ta có thể đồng ý với kết luận:
Sáng tạo là quá trình tư duy dộc lập, con người đã phối hợp, biến đổi và xây dựng nên
những cái mới trên bình diện cá nhân hay xã hội từ những kinh nghiệm có sẵn của
mình.
nhìn về thế giới xung quanh của trẻ còn rất hạn chế nên các sản phẩm sáng tạo của trẻ
còn mang tính ước lệ và rất ngây thơ. Sản phẩm của trẻ có thể hoàn hảo nhưng ưu thế
là trẻ đã sáng tạo trong quá trình tạo ra sản phẩm. Những cái mới, cáo độc đáo trong
sản phẩm của trẻ có ý nghĩa đối với sự phát triển bản thân trẻ, có vai trò to lớn trong
không chỉ trong việc phát triển trí tuệ, tư duy, nhân cách mà còn phát triển khả năng
chủ động sáng tạo của trẻ.
Ý nghĩa của sự sáng tạo của trẻ không nên xem xét ở kết quả, ở sản phẩm sáng
tạo mà làbản thân trẻ trong quá trình sáng tạo. Điều quan trọng là không phải cái mà
trẻ xây dựng nên, làm nên mà là trẻ đang được sáng tạo, đang được rèn luyện trong
hoạt động tưởng tượng sáng tạo và thể hiện sự tưởng tượng đó. Khi trẻ tạo ra sản phẩm
tạo hình cần tổ chức một cách nghiêm túc, giúp trẻ rèn luyện những khát vọng và kỹ
năng sáng tạo của mình. Hoạt động sáng tạo mang lại khoái cảm trong khi chơi cho
đứa trẻ, rèn luyện tính sáng tạo, các tư chất khác cho trẻ.
1.6. Đặc điểmchủ động sáng tạo trong hoạt động vẽ trang trí của trẻ mẫu
giáo 5-6 tuổi
Trẻ 5 – 6 tuổi khả năng ghi nhớ và chú ý đã có chủ định, khả năng quan sát của
trẻ đã biết đầy đủ về hình dáng, màu sắc, kích thước, tỷ lệ đối tượng. Ở lứa tuổi này,
trẻ không chỉ phát triển toàn diệncả trí tuệ, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm và tư duy.
Sự phát triển tư duy ở độ tuổi này mạnh mẽ về thể loại, các thao tác và thiết lập nhanh
chóng các mối quan hệ giữa các sự kiện, hiện tượng, thông tin giữa mới và cũ, gần và
xa... Đối với HĐTH - VTT trẻ không chỉ biết các kỹ năng cơ bản mà còn biết nhận xét
và diễn tả được ý định qua hành động và ngôn ngữ. Đây là giai đoạn trẻ phát triển
mạnh về tư duy, trẻ biết so sánh, đánh giá, trẻ thích làm theo ý thích của mình. Vì thế,
việc chủ động sáng tạo trong hoạt động VTT của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi cũng rất được
quan tâm.
Ở tuổi này, trẻ biết hướng ý thức, chú ý của mình vào các đối tượng cần cho các
hoạt động như: vui chơi, học tập hoặc lao động tự phục vụ.Trẻ có khả năng chú ý có
chủ định từ 37 - 51 phút, đối tượng chú ý hấp dẫn, nhiều thay đổi, kích thích được sự
hiện và phát triển mà nó chỉ được phát triển khi có sự kích thích hứng thú, sự hướng
dẫn chỉ đạo của các nhà giáo dục. Chính vì vậy để nâng cao tính chủ động sáng tạo của
trẻ trong hoạt động VTT cho trẻ mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi cần được các nhà giáo dục
quan tâm, đặc biệt là GVMN, cần có một số biện pháp, cách thức tổ chức hoạt động vẽ
trang trí một cách có hiệu quả.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG CHỦ ĐỘNG SÁNG TẠO CỦA
TRẺ TRONG HOẠT ĐỘNG TẠO HÌNH Ở TRƯỜNG MẦM NON ĐỒNG PHÚ
– THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI
I. Vài nét về trườngmầm non Đồng Phú - Thành phố Đồng Hới
1. Tình hình của nhà trường
Trường Mầm non Đồng Phú được thành lập từ năm 1975. Năm 1985, hai tổ nhà
trẻ và mẫu giáo sát nhập với nhau và trường có tên gọi mới là trường mầm non Đồng
Phú cho đến nay. Từ khi thành lập đến nay trường luôn chú trọng việc mở rộng mạng
lưới trường lớp, cơ sở vật chất của nhà trường khang trang, các lớp học rộng rãi đầy đủ
cho trẻ vui chơi và học tập. Việc nâng cao chất lượng giảng dạy chăm sóc trẻ cũng
được nhà trường chú trọng quan tâm hàng đầu thông qua các hoạt động như tổ chức
cuộc thi GV dạy giỏi, hội thi đồ dùng dạy học - đồ chơi, hội thi nấu ăn,mở các lớp tập
huấn chương trình đổi mới cho GV, động viên khen thưởng những cá nhân tập thể có
thành tích cao trong dạy học.
Trường mầm non Đồng Phú luôn “Là lá cờđầu” trong dạy học và thi đua, là địa
điểm đáng tin cậy của các bậc phụ huynh trong địa bàn thành phố, cũng như trong toàn
Tỉnh. Trường luôn đạt những thành tích cao trong các cuộc thi do phòng
- sở giáo dục đề ra.
Vì thế những năm gần đây trường luôn được sự quan tâm của Tỉnh và các cấp
chính quyền.
Bằng biện pháp tích cực trong công tác đào tạo bồi dưỡng, đặc biệt chú trọng bồi
dưỡng tại chỗ tự bồi dưỡng của GV, bồi dưỡng qua các lớp nâng cao trình độ chuyên
môn nghiệp vụ, qua tổ chức và tham gia các Hội thi, chất lượng đội ngũ chuyển biến
- Nhóm trẻ:
Tôi tiến hành trên 60 trẻ MGL (5 - 6 tuổi) ở trường mầm non Đồng Phú. Trẻ đều
có sức khỏe tốt, có điều kiện chăm sóc, giáo dục, năng lực như nhau.
- Giáo viên:
Tôi tiến hành khảo sát điều tra 15 GV đang trực tiếp giảng dạy tại trường Mầm
non Đồng Phú - Thành phố Đồng Hới. Hầu hết tất cả các giáo viên đều có sức khỏe
tốt, năng lực giáo dục và kinh nghiệm chăm sóc, giáo dục trẻ tương đương nhau, tất cả
đều đạt chuẩn GVMN.
* Thời gian khảo sát
Từ ngày 26/2 đến ngày 24/4 năm 2018
1.3. Nội dung khảo sát
Tìm ra một số hình thức tổ chức hoạt động VTT cho trẻ nhằm nâng cao tính chủ
động sáng tạo trong hoạt động VTT của trẻ mẫu giáo lớn tại trường Mầm non Đồng
Phú.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp quan sát
Trong quá trình dự giờ tôi tiến đã ghi chép lại các hoạt động của giáo viên và
hoạt động của trẻ, đặc biệt là quan sát khi trẻ vẽ trang trí. Ngoài ra, tôi còn chú ý quan
sát các biện pháp GV kích thích khả năng chủ động sáng tạo của trẻ.
Quan sát hoạt động VTT của trẻ trong giờ học vẽ trang trí để tìm ra những biểu
hiện sự chủ động sáng tạo của trẻ. Về hành động tri giác, tư duy, khả năng nhạy bén,
thái độ của trẻ khi tham gia hoạt hoạt tạo hình, khi trẻ nhìn thấy các sản phẩm đẹp, khi
trẻ tiếp xúc với thế giới xung quanh....
Quan sát cô đứng lớp: tôi quan sát cách thức GV tổ chức các hoạt động VTT cho
trẻ, quan sát thái độ và cách ứng xử của giáo viên trước nhu cầu, khả năng chủ động
sáng tạo của trẻ, trò chuyện, hướng dẫn trong quá trình trẻ VTT.
* Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Tôi đã sử dụng các bảng hỏi cho các GV phụ trách các lớp mẫu giáo lớn 5 - 6
“Vẽ trang trí chiếc khăn tay hình vuông” và “Vẽ trang trí hình tròn”. Trong đó, tôi
chọn cả 2 hoạt động học để đánh giá mức độ chủ động sáng tạo của trẻ trong hoạt
động VTT.
Cụ thể như sau:
Bảng 2.1: Kết quả khảo sát mức độ chủ động sáng tạo của trẻ trong hoạt động
vẽ trang trí
Nội dung
Trẻ chủ động sáng tạo
Trẻchưa chủ động sáng tạo
Số lượng
9
21
Tỷ lệ (%)
30
70
Nhận xét: Qua bảng kết quả khảo sát mức độ chủ động sáng tạo của trẻ trong
hoạt động VTT thì chỉ có 30% trẻ chủ động sáng tạo trong khi tham gia hoạt động
VTT.Đây là con số qua thấp, đáng báo động trong việc chủ động sáng tạo của trẻ trong
khi tham gia hoạt động VTT. Nhưng lại có tới 70% trẻ chưa chủ động sáng tạo trong
khi tham gia hoạt động VTT. Trẻ đang còn qua thụ động trong khi VTT, đa số trẻ chỉ
làm theo hướng dẫn của cô giáo mà chưa tự bản thân trẻ chủ động sáng tạo trong khi
VTT. Cũng có một số trẻ tự mình chủ động sáng tạo vẽ khác đi một chút so với bài vẽ
hướng dẫn của cô, những hình ảnh trẻ vẽ chỉ xoay quanh những gợi ý của cô đã hướng
dẫn trước khi trẻ bắt đầu thực hiện, một số trẻ thì chọn cách tô màu khác đi những màu
mà cô đãtô sẵn.
Qua khảo sát mức độ chủ động sáng tạo ở 30 trẻ qua 3 nội dung: