SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẢNG BÌNH
TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN
- NỘI DUNG 2 GIÁO DỤC MẦM NON
Quảng Bình, tháng 09/2017
1
TÀI LIỆU NỘI DUNG BỒI DƯỠNG 2- GIÁO DỤC MẦM NON
NĂM HỌC 2017- 2018
Một số nội dung cơ bản trong việc xây dựng trường Mầm non lấy trẻ làm trung tâm
I. Mục tiêu
Giúp học viên có thêm kiến thức, kỹ năng trong việc xây dựng kế hoạch, áp
dụng các phương pháp, hình thức tổ chức phù hợp với trẻ nhằm thực hiện có hiệu
quả công tác chăm sóc, giáo dục và tăng cường sự phát triển toàn diện cho trẻ mầm
non.
II. Yêu cầu đối với học viên
Mỗi học viên cần có đủ các tài liệu như: Chương trình GDMN, hướng dẫn
thực hiện chương trình theo độ tuổi, tài liệu chuyên đề lấy trẻ làm trung tâm trong
trường mầm non, tài liệu mô đun xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm
dành cho CBQL và GVMN, tiêu chí thực hành áp dụng quan điểm giáo dục lấy trẻ
làm trung tâm trong trường mầm non,…
Nghiên cứu kỹ Chương trình GDMN, tài liệu chuyên đề và căn cứ vào tình
hình thực tế của nhà trường, của lớp, đặc điểm tâm sinh lí của trẻ để thiết kế môi
trường trong và ngoài lớp học phù hợp, xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục đáp
ứng với nhu cầu, khả năng của trẻ và thực sự lấy trẻ làm trung tâm trong các hoạt
động nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đối với trẻ ở từng độ tuổi.
III. Thời gian: 30 tiết
Tự học 14 tiết; Học tập trung 16 tiết (lý thuyết 12 tiết, thực hành 04 tiết) .
IV. Nội dung cụ thể
- Khi được chỉ bảo hay hướng dẫn.
- Khi tiếp nhận sự giúp đỡ vật chất.
- Khi trẻ suy nghĩ, tưởng tượng, liên tưởng.
- Khi nói chuyện.
3
- Khi nhớ mọi thứ.
- Khi liên hệ với những hiểu biết đang có hoặc với cách thức đang thực hiện
điều gì đó.
- Khi giải quyết một vấn đề nào đó.
- Khi trẻ khỏe mạnh và được chăm sóc.
1.3. Trẻ chơi mà học, học bằng chơi
Trẻ nhỏ có mong muốn tự nhiên được cảm nhận và khám phá một cách tích
cực về thế giới. Quá trình học hỏi, khám phá của trẻ diễn ra thông qua nhiều hoạt
động trong đó hoạt động vui chơi có ý nghĩa rất quan trọng. Vui chơi không chỉ là
hoạt động giúp trẻ giải trí, thư giãn mà còn giúp trẻ cảm nhận và khám phá thế giới
xung quanh một cách tự nhiên, thuận lợi, nhanh chóng. Tất cả trò chơi đều có tiềm
năng hỗ trợ cho việc học của trẻ. Thông qua chơi, trẻ được:
- Khám phá, trải nghiệm và thử sức với những điều mới lạ.
- Mắc lỗi, thất bại và luyện tập.
- Phát triển tư duy và kỹ năng giải quyết vấn đề.
- Tham gia vào việc tổ chức, ra quyết định, lựa chọn các vấn đề.
- Phát triển trí tưởng tượng và sáng tạo.
- Phát triển ngôn ngữ và các kỹ năng giao tiếp.
- Hợp tác, thương thuyết và học các kỹ năng xã hội.
- Nhận ra những xúc cảm và tình cảm của bản thân cũng như của người khác.
- Rèn luyện tính kiên trì, nhẫn nại và quyết tâm thực hiện đến cùng.
- Phát triển các kỹ năng vận động và tăng cường sức khỏe.
- Trẻ học nhiều thứ theo nhiều cách khác nhau.
- Chơi giúp trẻ thích thú và thoát khỏi sức ép căng thẳng của việc học.
1.5. Giáo viên hỗ trợ trẻ chơi mà học
5
- Hướng dẫn trẻ tự do chọn bạn chơi, góc hoạt động, trò chơi, vai chơi, đồ
chơi, cách chơi, người/sự vật/hành động thay thế, tình huống chơi theo ý thích và
kinh nghiệm của cá nhân,
- Lắng nghe và đáp ứng ý tưởng, tình cảm, mong muốn chính đáng của trẻ.
- Hướng dẫn trẻ hợp tác, chia sẽ, lắng nghe bạn chơi.
- Dành đủ thời gian cho trẻ chơi, quan sát, suy nghĩ, đưa ra ý kiến, giải quyết
vấn đề.
`
- Gợi ý hành động, vai chơi, chủ đề chơi mới bằng các cách: làm mẫu, đóng
vai, dùng lời, chơi cùng trẻ; cung cấp đồ chơi tương ứng- tùy vào mức độ phát triển
chơi ở lứa tuổi và cá nhân. Thay đổi quy tắc chơi dần dần cho phù hợp với sự tiến bộ
của trẻ.
- Hướng dẫn trẻ học thông qua chơi bằng cách đưa ra các khái niệm, chủ đề,
kinh nghiệm cho trẻ khám phá, trẻ tự hướng dẫn, ra quy định, đặt câu hỏi,...
- Xác định những kiến thức trẻ nên biết bằng cách tạo ra những kinh nghiệm
và tương tác để thúc đẩy kỹ năng tư duy cho trẻ.
- Khuyến khích trẻ tham gia tích cực trong việc học của mình. Cho trẻ có
nhiều lựa chọn.
- Tương tác với trẻ để hỗ trợ việc học của trẻ- trò chuyện, tham gia chơi cùng
trẻ.
- Chấp nhận sự bừa bộn của trẻ trong khi chơi.
- Không nhất thiết lúc nào cũng can thiệp vào trò chơi của trẻ.
thông qua vui chơi.
- Để thực hiện được việc giáo dục lấy trẻ làm trung tâm, giáo viên cần:
+ Dựa trên nhu cầu, hứng thú, khả năng và thế mạnh của từng trẻ để xây dựng
kế hoạch giáo dục phù hợp với từng đối tượng.
+ Tin tưởng rằng mỗi trẻ đều có thể thành công và tiến bộ.
+ Tạo cơ hội cho trẻ học bằng nhiều cách khác nhau gồm cả hoạt động vui
chơi, vì vui chơi cung cấp cho trẻ nhiều cơ hội để học tập như khám phá, sáng tạo,
đóng vai, tưởng tượng và tương tác với bạn bè.
7
+ Xây dựng kế hoạch giáo dục trên cơ sở những gì trẻ đã biết và có thể làm;
kế hoạch giáo dục phải phản ánh được mức độ phát triển của từng cá nhân trẻ.
2.2. Đặc điểm chính của giáo dục lấy trẻ làm trung tâm
- Đối với trẻ:
+ Trẻ nào cũng được hỗ trợ để tham gia vào các hoạt động khác nhau.
+ Trẻ được khuyến khích để tạo ra sự lựa chọn.
+ Trẻ được khuyến khích để giải quyết vấn đề.
+ Trẻ được khuyến khích và hỗ trợ để hợp tác và làm việc cùng nhau.
+ Cho trẻ thời gian để học.
+ Trẻ được vui chơi và có nhiều cơ hội để học tập như khám phá, sáng tạo, giả
vờ, tưởng tượng và tương tác với bạn bè.
- Đối với giáo viên:
+ Giáo viên xác định được và thỏa mãn những hứng thú, hiểu biết, ý kiến và
kỹ năng của trẻ, mở rộng việc học cho từng trẻ.
+ Cho trẻ thời gian để học phù hợp.
+ Giáo viên cung cấp cho trẻ nhiều cơ hội khác nhau để học và diễn đạt những
gì trẻ biết và hiểu.
+ Giáo viên trò chuyện với trẻ và lôi cuốn trẻ vào các hoạt động và giao tiếp
có ý nghĩa.
+ Xác định và đáp ứng sự hiểu biết, sở thích, ý tưởng, kỹ năng của từng trẻ.
- Tạo cơ hội cho trẻ tích cực hoạt động:
+ Tạo cơ hội cho trẻ tham gia vào hoạt động phù hợp với khả năng, nhu cầu
và hứng thú cá nhân.
+ Sử dụng hiệu quả những cơ hội học bất chợt xảy ra trong các sự kiện và thói
quen hằng ngày để hướng dẫn kỹ năng, kiến thức và thái độ cho trẻ.
9
+ Chuẩn bị môi trường và cung cấp đồ dùng, đồ chơi, học liệu theo trình tự
nội dung và hoạt động.
+ Sử dụng ngôn ngữ phong phú, rõ ràng, đúng ngữ pháp, biểu cảm khi hướng
dẫn trẻ.
+ Hướng dẫn trẻ hiểu được các mục đích của hoạt động giáo dục.
+ Hỗ trợ trẻ trong quá trình hoạt động bằng cách khuyến khích, gợi mở.
+ Sử dụng các câu hỏi để tìm hiểu thông tin, giúp trẻ trình bày, giải thích
những gì trẻ biết và hiểu.
+ Tham gia vào các hoạt động vui chơi để hỗ trợ trẻ học.
+ Quan sát và đáp ứng đầy đủ nhu cầu chính đáng của trẻ.
+ Lập kế hoạch cho các hoạt động giáo dục lấy trẻ làm trung tâm (tăng cường
chơi mà học- học bằng chơi, tương tác giữa trẻ với trẻ).
+ Điều chỉnh các hoạt động giáo dục cho phù hợp với nhu cầu và khả năng
của trẻ.
- Hỗ trợ mỗi trẻ phát triển thành công so với chính bản thân trẻ.
2.3.3. So sánh giáo dục lấy trẻ làm trung tâm và giáo dục lấy giáo viên làm
trung tâm
Giáo dục lấy trẻ làm trung tâm
Vị trí của trẻ:
Giáo dục lấy giáo viên làm trung tâm
thuận lợi, nhiều cách học khác nhau, tăng với trẻ, trẻ với người lớn.
cường chơi mà học-học bằng chơi, tương - Chú trọng phương pháp dùng lời và làm
tác giữa trẻ với trẻ, trẻ với người lớn.
mẫu.
- Chú trọng phương pháp trải nghiệm, - Chủ yếu hướng dẫn trẻ hoạt động theo
khám phá, bắt chước, thực hành, sáng cả lớp.
tạo,...
- Tập trung chủ yếu vào kết quả cuối
- Tạo cơ hội cho trẻ tích cực hoạt động cùng đã xác định chung cho nhóm trẻ.
theo cá nhân, nhóm và cả lớp.
- Hỗ trợ mỗi trẻ thành công so với chính
bản thân trẻ.
2.3.4. Giáo dục lấy trẻ làm trung tâm trong Chương trình Giáo dục mầm non
a) Yêu cầu về phương pháp giáo dục mầm non
Đối với giáo dục mầm non, phương pháp giáo dục cần:
- Tạo điều kiện cho trẻ được trải nghiệm, tìm tòi, khám phá môi trường xung
quanh dưới nhiều hình thức đa dạng, đáp ứng nhu cầu, hứng thú của trẻ theo phương
châm “chơi mà học, học bằng chơi”.
- Chú trọng đổi mới tổ chức môi trường giáo dục nhằm kích thích và tạo cơ
hội cho trẻ tích cực khám phá, thử nghiệm và sáng tạo ở các khu vực hoạt động một
cách vui vẻ.
- Kết hợp hài hòa giữa giáo dục trẻ trong nhóm với giáo dục cá nhân, chú ý
đặc điểm riêng của từng trẻ để có phương pháp giáo dục phù hợp.
11
- Tổ chức hợp lí các hình thức hoạt động cá nhân, theo nhóm và cả lớp, phù
cần ngang bằng với trẻ. Điều này bao gồm cả việc chúng ta ngồi trên sàn hoặc trên
những đồ dùng thấp hoặc là quỳ xuống,....sao cho dễ dàng tạo ra sự giao tiếp bằng
mắt với trẻ, tạo thuận lợi cho giáo viên khi tham gia hoạt động cùng trẻ.
2.5. Vai trò của nhà quản lý
Nhà quản lý có thể làm gì để hỗ trợ giáo viên thực hiện chương trình giáo dục
lấy trẻ làm trung tâm?
- Nhà quản lí cần hiểu rõ quan niệm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm, từ đó:
+ Thay đổi về mặt nhận thức của bản thân và của giáo viên.
+ Nhìn nhận đúng, sâu sắc chương trình giáo dục theo quan điểm giáo dục lấy
trẻ làm trung tâm.
- Nhà quản lí cần hỗ trợ giáo viên:
+ Về tinh thần:
Lắng nghe ý kiến của giáo viên, tư vấn, cho lời khuyên kịp thời.
Dành thời gian trò chuyện, chia sẻ với giáo viên.
Không áp đặt, ra lệnh.
Tạo môi trường làm việc thuận lợi, thoải mái, được đánh giá, được chia
sẻ.
Khuyến khích sự sáng tạo, tích cực, chủ động của giáo viên.
+ Về chuyên môn:
Lên kế hoạch và tổ chức các lớp bồi dưỡng chuyên môn, với tinh thần
“lấy người học làm trung tâm”.
Tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn để giáo viên thảo luận, chia sẻ
thông tin, kinh nghiệm.
Kiểm tra, dự giờ, trao đổi, tư vấn, ra quyết định.
Cung cấp tài liệu, thông tin liên quan.
13
Thay đổi cách đánh giá giáo viên.
Quan tâm chế độ, chính sách, đời sống của giáo viên; có chế độ khuyến
chơi để khuyến khích trẻ thảo luận và tìm cách giải quyết.
- Tập trung vào sự tham gia của trẻ, nội dung học tập và kết quả mong đợi.
- Giúp đỡ trẻ.
- Đôi lúc cần duy trì hội thoại và thảo luận giữa cô và trẻ, cả cô và trẻ cùng
đưa ra các ý kiến và lắng nghe lẫn nhau.
2.7. Chiến lược giúp trẻ phát triển kỹ năng và thành công trong học tập
- Giáo viên cần suy nghĩ cẩn trọng về quyết định thời điểm nào tham gia vào
hoạt động của trẻ, thời điểm nào không nên làm phiền trẻ.
- Giáo viên cần tìm hiểu năng lực, hứng thú và nhu cầu của trẻ. VD: Quan sát,
tương tác với trẻ, sử dụng hội thoại, đặt câu hỏi để tìm thông tin và giúp trẻ thể hiện,
phân loại những gì chúng biết và hiểu.
- Thiết kế hoạt động mang tính thiết thực, phù hợp với vốn kinh nghiệm của
trẻ.
- Phối hợp hài hòa giữa nhu cầu của trẻ và điều trẻ cần- điều chỉnh nội dung
cho phù hợp với mức độ phát triển và nhu cầu khác nhau của trẻ.
- Giáo viên cần phải hiểu biết các nội dung học tập và các thuật ngữ chính xác
để hướng dẫn.
- Kích thích trẻ thử nghiệm và khám phá thông qua các hoạt động trải nghiệm.
- Đưa trẻ đến các góc hoạt động, hướng dẫn và khuyến khích trẻ thực hành,
vui chơi, tìm tòi, khám phá.
- Cung cấp nhiều cơ hội để trẻ được lựa chọn và tham gia các hoạt động mang
tính tưởng tượng, sáng tạo.
- Dành thời gian cho trẻ chơi, suy nghĩ và giải quyết vấn đề, quan sát và đưa
ra các ý kiến.
15
- Tạo cơ hội cho trẻ học tập qua chơi tự do, chơi có sự hướng dẫn của giáo
viên và qua các giờ học chung theo kế hoạch; tạo cơ hội cho trẻ chơi một mình và
gồm môi trường tự nhiên (như các điều kiện không khí, ánh sáng, nguồn nước, cây
xanh, địa điểm trường) và môi trường xã hội (bầu không khí giao tiếp trong trường
mầm non, phong cách làm việc, mối quan hệ giữa con người với con người, giữa
trường mầm non với các tổ chức kinh tế, xã hội, văn hóa khác,...).
- Một quan điểm khác lại phân chia môi trường giáo dục thành môi trường vật
chất và môi trường xã hội.
+ Môi trường vật chất trong trường mầm non bao gồm các trang thiết bị, đồ
dùng, đồ chơi, không gian phục vụ cho việc tổ chức các hoạt động sinh hoạt hằng
ngày của trẻ. Môi trường vật chất tạo cho trẻ những cơ hội tốt để trẻ thỏa mãn nhu
cầu hoạt động và phát triển toàn diện về mặt thể chất, trí tuệ, thẩm mĩ, đạo đức, xã
hội.
+ Môi trường xã hội được hiểu là toàn bộ những điều kiện xã hội như chính
trị, văn hóa, các mối quan hệ giúp trẻ hình thành nhân cách của mình. Môi trường xã
hội đặc biệt được nhấn mạnh ở đây là môi trường giao tiếp trong trường mầm non
bao gồm sự giao tiếp giữa giáo viên và trẻ, giữa trẻ với trẻ và giữa trẻ với những
người xung quanh. Môi trường này vừa mang tính chất sư phạm vừa mang tính chất
gia đình.
Việc phân loại môi trường có thể khác nhau, tuy nhiên điều quan trọng đối với
giáo dục mầm non là cần phải cung ứng điều kiện cần thiết để kích thích và phục vụ
trẻ hoạt động một cách tích cực, chăm sóc trẻ tốt, thông qua đó, nhân cách của trẻ sẽ
được phát triển tốt và thuận lợi.
3.3. Ý nghĩa
Có thể nói, việc xây dựng môi trường giáo dục trong trường mầm non là thực
sự cần thiết và quan trọng. Việc này được ví như người giáo viên thứ hai trong công
tác tổ chức, hướng dẫn cho trẻ nhằm thỏa mãn nhu cầu vui chơi và hoạt động của
trẻ, thông qua đó, nhân cách của trẻ được hình thành và phát triển toàn diện.
Một môi trường sạch sẽ, an toàn, có sự bố trí khu vực chơi và học trong lớp,
ngoài trời phù hợp, thuận tiện, có ý nghĩa to lớn không chỉ đối với sự phát triển thể
17
18
- Môi trường giáo dục phải thực sự an toàn và có tính thẩm mỹ cao. Địa điểm
trường phải cách xa những nơi ồn ào, ô nhiễm, độc hại đối với trẻ như cách xa trục
đường giao thông lớn, xa nhà máy, bệnh viện, khu rác thải, nghĩa trang,...Đảm bảo
vệ sinh và nguồn nước, không khí, vệ sinh an toàn trong ăn uống. Các trang thiết bị,
đồ dùng, đồ chơi phải được bảo dưỡng thường xuyên, giữ gìn vệ sinh và tạo sự hấp
dẫn đối với trẻ; có hàng rào bảo vệ xung quanh khu vực trường. Ngoài ra, môi
trường giáo dục cũng cần tạo ra cho trẻ cảm giác an toàn về mặt tâm lí: được yêu
thương, được tôn trọng và đáp ứng các nhu cầu chính đáng.
- Trang trí môi trường lớp học với tính chất của các hoạt động, phù hợp với
từng lứa tuổi. Trong lớp cần bố trí không gian phù hợp dành cho hoạt động chung
của lớp và hoạt động theo sở thích, khả năng của nhóm nhỏ hoặc cá nhân; có khu
vực dành riêng để chăm sóc đối với trẻ có nhu cầu đặc biệt. Với mỗi độ tuổi, môi
trường giáo dục sẽ có những nét riêng. Ví dụ: với trẻ mẫu giáo bé, đồ chơi có thể
không cần quá nhiều về chủng loại và chủ yếu là đồ chơi có sẵn cho trẻ sử dụng;
nhưng với trẻ lớn hơn thì cần chú ý đến sự phong phú của các loại đồ chơi, đặc biệt
là những nguyên vật liệu mở và phương tiện cho trẻ được sáng tạo, tự làm đồ chơi
phục vụ cho ý tưởng chơi của trẻ.
- Cần thu hút sự tham gia của trẻ vào việc xây dựng môi trường giáo dục càng
nhiều càng tốt. Đây là những cơ hội quý báu để trẻ ứng dụng kiến thức và kỹ năng
trẻ đã được học theo cách của mình mà không bị gò bó, đặc biệt vào các thời điểm
như chơi và hoạt động ở các góc vào buổi sáng và giờ hoạt động chiều.
- Cần đa dạng, phong phú, kích thích sự phát triển của trẻ:
+ Các trang thiết bị ngoài trời có tác dụng kích thích các vận động khác nhau
của trẻ.
+ Tận dụng các nguồn nguyên vật liệu sẵn có ở địa phương để trẻ khám phá,
đặc biệt là nguồn nguyên vật liệu tự nhiên và vật liệu tái chế.
+ Phản ánh màu sắc văn hóa dân tộc, qua những đồ dùng, trang phục, các
+ Môi trường bên trong và bên ngoài lớp học.
- Cách thức thiết kế, sắp xếp môi trường giáo dục trong trường MN sẽ ảnh
hưởng đến:
20
+ Việc học của trẻ.
+ Cách học của trẻ.
+ Cách mà giáo viên dạy.
5.2. Tầm quan trọng của môi trường giáo dục
Môi trường giáo dục có sự ảnh hưởng đến sự thành công trong học tập của trẻ
và ảnh hưởng đến nội dung và kết quả mong đợi có đạt được hay không.
Môi trường bên trong và bên ngoài lớp học đều rất quan trọng, chúng cung
cấp nhiều cơ hội học tập và vui chơi khác nhau cho trẻ.
- Trong lớp học:
+ Khoảng không gian thường xuyên bị giới hạn nhưng giúp trẻ dễ tập trung
hơn.
+ Việc học thường xuyên diễn ra một cách hàn lâm hơn nhưng hệ thống hơn.
+ Thường bao gồm các trò chơi xây dựng lắp ghép cũng như hoạt động nghệ
thuật hay các hoạt động phát triển vận động tinh.
- Ngoài lớp học:
Trẻ được tự do hơn để:
+ Khám phá.
+ Sử dụng các giác quan.
+ Hòa mình vào thế giới tự nhiên.
+ Có nhiều cơ hội hơn cho các hoạt động phát triển vận động thô.
Cần đánh giá cao môi trường hoạt động ngoài trời, vì không có hoạt động giáo
dục nào thực hiện trong lớp mà không thể tiến hành ngoài trời, song có rất nhiều
hoạt động chúng ta có thể tiến hành ở ngoài trời nhưng không thể thực hiện được ở
trong lớp.
5.4. sử dụng môi trường giáo dục hợp lí
22
- Tổ chức nhiều hoạt động ngoài trời, thậm chí là cả trò chơi đóng vai ở ngoài
trời.
- Chia trẻ thành các nhóm và kiểm soát hoạt động của trẻ.
- Phân công nhiệm vụ và phối hợp giữa các giáo viên phụ trách lớp.
- Sắp xếp lại các góc trong lớp để lấy không gian thuận tiện cho trẻ chơi.
5.5. Lấy trẻ làm trung tâm trong sắp xếp và sử dụng các góc hoạt động
a) Tầm quan trọng của các góc hoạt động
- Trẻ có thể “chơi mà học , học bằng chơi”.
- Trẻ có nhiều cơ hội để thực hành và học hỏi.
- Trẻ có nhiều lựa chọn.
- Trẻ có thể thực hiện theo hứng thú của mình.
- Tất cả trẻ không phải làm cùng một việc trong cùng một thời điểm.
- Giáo viên có thể sử dụng các góc chơi để hỗ trợ cho kế hoạch dạy và học.
- Giáo viên có thể hỗ trợ từng cá nhân trẻ và từng nhóm nhỏ.
b) Thiết kế các góc hoạt động
- Trong giáo dục lấy trẻ làm trung tâm, các góc hoạt động chính được duy trì
thường xuyên, trẻ không cần phải di chuyển hoặc đóng lại vì thế giáo viên cần suy
nghĩ cẩn trọng về việc bố trí các góc này.
- Việc sắp xếp các góc phải rất linh hoạt để có thể sắp xếp lại. Ví dụ: Để thay
đổi sự tập trung của góc “Đóng vai” từ trò chơi gia đình sang trò chơi bệnh viện,
hoặc tạo ra không gian cho giờ ngủ trưa bằng cách di chuyển một số giá để đồ.
- Khi thiết kế các góc hoạt động, giáo viên cần chú ý:
+ Sắp xếp: những hoạt động tương đồng thì ở gần nhau (hoạt động tĩnh xa
hoạt động động).
+ Giới hạn không gian: chiếu, giá, đồ dùng.
+ Nhiều góc sẽ ở trong phòng, nhiều góc sẽ ở ngoài trời.
24
- Cho trẻ lựa chọn góc mà trẻ muốn chơi hoặc thu hút trẻ vào các góc khác
nhau.
- Giúp trẻ ổn định tại các góc.
- Nói chuyện với trẻ tại các góc và giúp trẻ tham gia - giúp hỗ trợ việc học của
trẻ.
- Đặt ra vài quy tắc đơn giản rõ ràng về sự an toàn và tôn trọng lẫn nhau. Nên
để trẻ cùng xây dựng những quy tắc ấy.
- Đảm bảo rằng các hoạt động thú vị và có đủ học liệu, vật liệu và dụng cụ
cho trẻ.
6. Xây dựng và sử dụng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm
6.1. Xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm
Môi trường giáo dục bao gồm:
- Môi trường vật chất: Được tạo nên bởi không gian chứa đựng đồ dùng, vật
liệu và các phương tiện.
- Môi trường xã hội: Được tạo nên bởi mối quan hệ và tương tác giữa giáo
viên với trẻ, giữa trẻ với trẻ, giữa trẻ với người lớn xung quanh.
- Môi trường bên ngoài lớp học và môi trường bên trong lớp học.
6.1.1. Môi trường xã hội
a) Môi trường xã hội tốt
- Môi trường xã hội tốt là môi trường xã hội có những mối quan hệ và tương
tác tích cực giữa giáo viên với trẻ, người lớn với trẻ, trẻ với trẻ, như:
+ Yêu thương.
+ Tôn trọng.
+ An toàn.
+ Cởi mở.
+ Tin tưởng.
25