So sánh truyện cổ tích thần kỳ người khmer nam bộ với truyện cổ tích thần kỳ người việt - Pdf 52

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ NHUNG

SO SÁNH TRUYỆN CỔ TÍCH THẦN KỲ NGƢỜI KHMER NAM BỘ
VỚI TRUYỆN CỔ TÍCH THẦN KỲ NGƢỜI VIỆT
(MỘT SỐ TYPE VÀ MOTIF CƠ BẢN)
Chuyên ngành: Văn học Dân gian
Mã số: 9.22.01.25

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:
1.GS.TS.Vũ Anh Tuấn

2.TS. Trần Minh Hƣờng

HÀ NỘI - 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài “So sánh truyện cổ tích thần kỳ
người Khmer Nam Bộ với truyện cổ tích thần kỳ người Việt - một số type và
motif cơ bản” là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân, đƣợc thực hiện dƣới
sự hƣớng dẫn của GS. TS. Vũ Anh Tuấn và TS. Trần Minh Hƣờng.
Các kết quả nghiên cứu trình bày trong luận án này là trung thực và chƣa
đƣợc ai công bố dƣới bất kì hình thức nào.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Tác giả


Nguyễn Thị Nhung


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................ 1
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ...................................................................... 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ..................................................................... 3
4. Hƣớng tiếp cận và phƣơng pháp nghiên cứu ..................................................... 4
5. Đóng góp của luận án ......................................................................................... 5
6. Cấu trúc của luận án ........................................................................................... 6
Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ
LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI...................................................................................... 7
1.1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu................................................................. 7
1.1.1. Tình hình nghiên cứu so sánh truyện cổ tích thần kỳ Việt Nam với
truyện cổ tích thần kỳ của thế giới từ góc độ type và motif .............................. 7
1.1.2. Tình hình nghiên cứu so sánh truyện cổ tích thần kỳ của các dân tộc
nói chung và so sánh với truyện cổ tích thần kỳ Khmer Nam Bộ từ góc độ
type và motif nói riêng ..................................................................................... 13
1.2. Cơ sở lý thuyết và các khái niệm công cụ ................................................. 19
1.2.1. Lý thuyết về Type và motif .................................................................... 19
1.2.2. Lý thuyết nghiên cứu so sánh văn hóa, văn học dân gian ......................... 24
1.2.3. Hƣớng vận dụng lý thuyết của luận án .................................................. 31
1.3. Giới thuyết về truyện Cổ tích thần kì; type truyện Ngƣời mang lốt,
type truyện Dũng sĩ diệt yêu quái và tình hình tƣ liệu ................................... 34
1.3.1. Truyện cổ tích thần kỳ ........................................................................... 34
1.3.2. Tình hình tƣ liệu và việc xác định các type truyện cơ bản .................... 35
Tiểu kết chƣơng 1 ............................................................................................... 39
Chƣơng 2: NHẬN DIỆN CÁC TYPE VÀ MOTIF CƠ BẢN CỦA
TRUYỆN CỔ TÍCH THẦN KỲ KHMER NAM BỘ TRONG TƢƠNG

4.1.3. Tƣơng đồng về các motif ..................................................................... 122
4.1.4. Lý giải những tƣơng đồng.................................................................... 129
4.2. Những khác biệt ........................................................................................ 132
4.2.1. Khác biệt về nhân vật chính ................................................................. 132


4.2.2. Khác biệt về kết cấu ............................................................................. 134
4.2.3. Lý giải sự khác biệt, vẻ đặc sắc của truyện Dũng sĩ Khmer ................ 139
Tiểu kết chƣơng 4 ............................................................................................. 145
KẾT LUẬN ....................................................................................................... 147
DANH MỤC CÁC BÀI BÁO .......................................................................... 151
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 152
PHỤ LỤC


DANH MỤC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

Đầy đủ

Viết tắt
VHDG

Văn học Dân gian

ĐBSCL

Đồng bằng Sông Cửu Long

NXB


truyện Ngƣời mang lốt của ngƣời Việt Nam Bộ ........................ 44

Bảng 2.4.

Tên gọi các motif trong type truyện Dũng sĩ diệt yêu quái ........ 58

Bảng 2.5.

Trật tự xuất hiện của các motif trong các truyện thuộc type
truyện Dũng sĩ diệt yêu quái của ngƣời Khmer Nam Bộ ........... 59

Bảng 2.6.

Trật tự xuất hiện của các motif trong các truyện thuộc type
truyện Dũng sĩ diệt yêu quái của ngƣời Việt ............................... 62

Bảng 3.1.

Khảo sát tần số xuất hiện của các motif trong type truyện
Ngƣời mang lốt ngƣời Khmer Nam Bộ và ngƣời Việt ............... 82

Bảng 3.2.

Các motif giống nhau trong type truyện Ngƣời mang lốt
ngƣời Khmer Nam Bộ và ngƣời Việt ......................................... 86

Bảng 3.3.

Các motif chỉ xuất hiện trong type truyện mang lốt ngƣời
Khmer hoặc ngƣời Việt ............................................................ 105

nghiên cứu so sánh truyện cổ tích thần kỳ của các dân tộc từ góc độ type và
motif, trong những năm gần đây, cũng đƣợc nhiều nhà khoa học lựa chọn để
nghiên cứu, nhằm chỉ ra sự tƣơng đồng và khác biệt mang đặc trƣng thể loại của
truyện cổ tích từng dân tộc trong một quốc gia, hoặc truyện cổ tích giữa các quốc
gia trên thế giới. Đặc biệt việc vận dụng các kiến thức liên ngành để lý giải cội
nguồn văn hóa của những sự tƣơng đồng và khác biệt ấy là một đóng góp rất
quan trọng để tìm ra những giá trị thẩm mỹ ẩn sâu trong các lớp tri thức dân gian
của ngƣời xƣa.
Là một dân tộc có dân số khá lớn trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam,
ngƣời Khmer định cƣ chủ yếu ở Nam Bộ và đóng vai trò chủ thể của vùng văn
hóa này - vùng đất nguồn cội của “nền văn hóa Óc Eo”, vùng đất có bề dầy lịch
sử và di sản văn hóa đồ sộ, độc đáo nổi tiếng trong nƣớc và khu vực Đông Nam
Á. Trong kho tàng văn học dân gian phong phú của ngƣời Khmer, truyện cổ tích
thần kỳ nổi lên nhƣ một hiện tƣợng nghệ thuật ngôn từ độc đáo. Bên cạnh những
đặc trƣng chung về nội dung và nghệ thuật mang tính đặc trƣng của thể loại,
mảng truyện này còn có những đặc trƣng riêng, phản ánh rất rõ nét bản sắc văn
hóa tộc ngƣời Khmer và vùng đất Nam Bộ.


2
Cho đến nay đã có một số công trình sƣu tầm, nghiên cứu, giới thiệu về
truyện dân gian của ngƣời Khmer ở Nam Bộ và đã đạt đƣợc những thành tựu nhất
định. Tuy nhiên, để nhìn nhận tính độc đáo của truyện cổ tích Khmer Nam Bộ, cần
phải đặt chúng trong một phạm vi rộng hơn, đó là truyện cổ tích Việt Nam; đặc biệt,
cần có sự đối sánh chúng với truyện cổ tích của một dân tộc khác có số lƣợng lớn
và khác biệt về văn hóa, con ngƣời và nghệ thuật kể chuyện. Để đạt mục tiêu này,
việc so sánh truyện cổ tích của ngƣời Khmer Nam Bộ với truyện cổ tích của ngƣời
Việt từ góc độ type và motif là một hƣớng nghiên cứu khả dụng.
Mặt khác, là một giảng viên Trƣờng đại học Cần Thơ, nơi có hơn 20% là học
sinh, sinh viên ngƣời Khmer đang theo học, đa số các em biết nghe nói nhƣng không

bản sau: Type truyện về Ngƣời mang lốt và type truyện Dũng sĩ diệt yêu quái.
Cấp độ motif: Luận án dự định sẽ khảo sát tất cả các motif có trong hai type
truyện nêu trên và so sánh các motif căn bản xuất hiện trong hai type truyện này.
- Phạm vi không gian điền dã: Vùng đất Nam Bộ (Tây Nam Bộ), nơi có
ngƣời Khmer sinh sống (thuộc các tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, An Giang, Kiên
Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Cần Thơ).
- Phạm vi tài liệu: Đối với truyện cổ tích thần kỳ Khmer Nam Bộ, luận án
khảo sát những truyện cổ tích thần kỳ đƣợc xuất bản trong một số sách của các nhà
nghiên cứu và các truyện chúng tôi điền dã, sƣu tầm trong cộng đồng ngƣời Khmer
ở Nam Bộ, Việt Nam. Đối với truyện cổ tích thần kỳ của ngƣời Việt, luận án sẽ lựa
chọn những truyện đăng trong các sách và các tổng tập VHDG Việt Nam (Các tài
liệu cụ thể được liệt kê tại mục 1.3.2.1 và mục 1.3.2.2 của luận án).
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Từ việc so sánh truyện cổ tích thần kỳ ngƣời Khmer Nam Bộ với truyện cổ
tích thần kỳ ngƣời Việt trên phƣơng diện một số type và motif cơ bản, luận án sẽ chỉ
ra đƣợc sự tƣơng đồng và khác biệt về type và motif trong truyện cổ tích thần kỳ của
hai tộc ngƣời này; đồng thời lý giải sự tƣơng đồng và khác biệt giữa chúng căn cứ
vào đặc điểm loại hình, giao lƣu tiếp biến văn hóa, lịch sử, tôn giáo, bản sắc văn hóa
... của họ. Từ đó, khẳng định một cách khoa học về những giá trị nội dung và nghệ
thuật mang tính đặc trƣng trong truyện cổ tích thần kỳ của ngƣời Khmer Nam Bộ.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan vấn đề nghiên cứu; xây dựng khung lý thuyết của luận án và
lựa chọn hƣớng triển khai nghiên cứu cho đề tài.
- Xác định phạm vi thể loại, không gian điền dã, hệ thống tƣ liệu khảo sát
và tiến hành khảo sát để chỉ ra và gọi tên các type trong truyện cổ tích thần kỳ.


4
Từ đó, lựa chọn ra hai type truyện cơ bản (xuất hiện phổ biến trong các truyện cổ



5
chuyện của họ. Từ đó, khẳng định những giá trị nội dung và nghệ thuật mà truyện
cổ tích thần kỳ chứa đựng và phản ánh.
Tiếp cận liên ngành: Luận án vận dụng phƣơng pháp và kết quả của nhiều
ngành khoa học khác nhau (Địa lý học, Lịch sử học, Dân tộc học...) để lí giải đƣợc
đặc điểm chung, đặc điểm riêng biệt của các type và motif cơ bản đã đƣợc lựa chọn
trong truyện cổ tích thần kỳ của ngƣời Khmer và ngƣời Việt.
Tiếp cận thực địa: Cách tiếp cận này đƣợc chú trọng khi khảo sát điền dã
và kiểm chứng các tƣ liệu truyện cổ tích thần kỳ ngƣời Khmer tại các vùng Nam
Bộ, các địa phƣơng nơi có ngƣời Khmer sinh sống, trong môi trƣờng mà truyện
cổ tích thần kỳ của ngƣời Khmer nảy sinh, tồn tại và phát triển.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành các nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu của đề tài, luận án
kết hợp chủ yếu sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp phân tích, thống kê, phân loại
Đƣợc sử dụng để thống kê các type và motif trong truyện cổ tích thần kỳ
của ngƣời Khmer Nam Bộ và ngƣời Việt. Trên cơ sở số liệu thống kê, sẽ phân
loại theo các tiêu chí lựa chọn để nhận diện các loại type và motif này theo một
hệ thống phù hợp, khoa học.
Phương pháp điền dã (quan sát, tham dự)
Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng khi khảo sát, điền dã tại tại những vùng
có ngƣời Khmer sinh sống ở Nam Bộ. Tác giả luận án sử dụng các phƣơng tiện
kỹ thuật để chụp ảnh, ghi âm, phỏng vấn nghệ nhân, ngƣời Khmer để ghi hình,
quay phim, ghi chép tƣ liệu về truyện cổ tích thần kỳ của tộc ngƣời này cũng nhƣ
môi trƣờng diễn xƣớng của họ.
Phương pháp so sánh loại hình
Luận án sử dụng phƣơng pháp này để phân tích, so sánh các type và motif
căn bản trong truyện cổ tích thần kỳ của ngƣời Khmer Nam Bộ và ngƣời Việt.

6. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
chính của luận án đƣợc cấu trúc thành bốn chƣơng:
Chƣơng 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài
Chƣơng 2: Nhận diện các type, các motif cơ bản của truyện cổ tích thần
kỳ người Khmer Nam Bộ trong tương quan với truyện cổ tích thần kỳ người Việt
Chƣơng 3: So sánh type truyện Người mang lốt trong truyện cổ tích thần
kỳ người Khmer Nam Bộ và truyện cổ tích thần kỳ người Việt
Chƣơng 4: So sánh type truyện Dũng sĩ diệt yêu quái trong truyện cổ tích
thần kỳ người Khmer Nam Bộ và truyện cổ tích thần kỳ người Việt


7
Chƣơng 1
TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Truyện cổ tích nói chung, cổ tích thần kỳ nói riêng là thể loại quan trọng
trong hệ thống tự sự dân gian nhìn từ góc độ nghệ thuật ngôn từ. Truyện cổ tích
thần kỳ có mối quan hệ mật thiết với nhiều ngành khác nhƣ: Dân tộc học, văn hoá
học, nhân học… do vậy, nó đã đƣợc các nhà khoa học từ trƣớc đến nay rất quan tâm
nghiên cứu.
Liên quan đến đề tài, luận án tập trung tổng thuật những công trình nghiên
cứu truyện cổ tích thần kỳ từ góc độ type và motif. Cụ thể, chúng tôi chia lịch sử
nghiên cứu thành hai vấn đề nhƣ sau: Những công trình nghiên cứu so sánh
truyện cổ tích thần kỳ Việt Nam với truyện cổ tích thần kỳ thế giới và những
công trình nghiên cứu so sánh truyện cổ tích thần kỳ của các dân tộc trong cộng
đồng các dân tộc Việt Nam từ góc độ type.
1.1.1. Tình hình nghiên cứu so sánh truyện cổ tích thần kỳ Việt Nam
với truyện cổ tích thần kỳ của thế giới từ góc độ type và motif

trong những nhà nghiên cứu chuyên sâu và đa dạng nhất về type truyện Tấm Cám
theo hƣớng so sánh. Có thể kể đến một số chuyên khảo và bài viết tiêu biểu của ông
nhƣ: “Truyện kể dân gian đọc bằng type và motif”; “Từ truyện Kajong và Halek
của người Chăm đến type truyện Tấm Cám ở Đông Nam Á”; “Mối giao lưu và
tương tác văn hoá giữa các dân tộc ở Đông Nam Á qua type truyện kể Tấm Cám”;
“Truyện Tấm Cám và sự đánh tráo thân phận con người”; “Kể lại truyện Tấm
Cám của thế kỷ XIX”; “Type truyện Tấm Cám ở Đông Nam Á”; “Ai xung đột với
ai trong type truyện Tấm Cám ở Đông Nam Á”... Trong những nghiên cứu của
mình, tác giả đã tiến hành khảo sát các bản kể của các dân tộc bao gồm: 38 bản kể
truyện Tấm Cám, trong đó có 19 bản kể của dân tộc Kinh, 3 bản kể của dân tộc
Chăm, 1 bản kể của dân tộc Khmer, 1 bản kể của dân tộc Tày, 1 bản kể của dân tộc
Thái, 1 bản kể của dân tộc Mông, 1 bản kể của dân tộc Xơrê, 1 bản kể của dân tộc
Hơrê, 1 bản kể của dân tộc Tây Nguyên, 1 bản kể của dân tộc Mạ, 3 bản thần tích, 5
truyện thơ, sau đó so sánh và đƣa ra một số nhận định rất bổ ích nhƣ: “Xung đột dì
ghẻ - con chồng là một hiện tượng đặc hữu và tiêu biểu của xã hội phụ hệ, nhưng
xã hội người Chăm lại theo mẫu hệ, nên đã kể lại type truyện Tấm Cám theo thực tế
của xã hội mình”; “Truyện Tấm Cám Việt Nam và một số nước Đông Nam Á là câu
chuyện về sự đánh tráo thân phận con người. Bàn chân nhỏ đẹp là motif về phẩm
chất riêng của Tấm, nó là biểu tượng riêng của người có thân phận chân chính.
Chiếc giày duy nhất chỉ có Tấm mang vừa là thước đo kiểm nghiệm người được lựa
chọn. Nó là motif công cụ kiểm nghiệm người có thân phận xứng đáng. Có thể gọi
đó là chiếc giày định mệnh” [21, tr.175].


9
Trong bài viết “Sơ bộ tìm hiểu type truyện Tấm Cám ở Trung Quốc”
(1996) tác giả Kiều Thu Hoạch cũng đã tiến hành nghiên cứu so sánh truyện
Tấm Cám ở Việt Nam với truyện “Chị Tấm và em Cám” của ngƣời Kinh ở Vạn
Vĩ, Trung Quốc v à cho rằng: Sự lƣu truyền và biến đổi của type truyện này chịu
sự chi phối của nền văn hóa mới.

10
trong việc so sánh type truyện của hai dân tộc thuộc cùng một vùng lãnh thổ,
vùng văn hóa, trên cơ sở khảo sát các motif nền tảng của các type truyện để tìm ra
sự tƣơng đồng và khác biệt, đồng thời lý giải chúng căn cứ vào các lớp văn hóa,
tín ngƣỡng, phong tục của các dân tộc. Do đó, trong luận án của mình, chúng tôi
sẽ vận dụng một số thao tác và phƣơng pháp tiếp cận của tác giả này trong quá
trình tiến hành nghiên cứu so sánh truyện cổ tích thần kỳ ngƣời Khmer Nam Bộ
và truyện cổ tích thần kỳ ngƣời Việt từ phƣơng diện type và motif.
Tiếp theo Tấm Cám, nhiều type truyện khác cũng đƣợc các chuyên gia văn
học dân gian quan tâm nghiên cứu. Trong chuyên luận “Thạch Sanh và kiểu
truyện Dũng sĩ trong truyện cổ Việt Nam và Đông Nam Á”, tác giả Nguyễn Bích
Hà đã dành hẳn một chƣơng 3 để nói về kiểu truyện Thạch Sanh ở Việt nam và
Đông Nam Á. Theo tác giả, ở Đông Nam Á có 16 truyện cổ tích cùng kiểu với
type truyện Thạch Sanh. Riêng ở Việt Nam có 80 truyện. Tác giả đã phân tích,
so sánh type truyện này ở Việt Nam và Đông Nam Á trên các bình diện: Cấu
trúc, motif, qua đó chỉ ra rằng: “Type truyện Thạch Sanh và type truyện Dũng sĩ
diệt đại bàng, diệt rắn ác, chống xâm lược bảo vệ cộng đồng không phải chỉ
riêng có ở Việt Nam mà còn có ở các nước Đông Nam Á. Tuy nhiên trong 3 chủ
đề đó, chủ đề diệt rắn ác và diệt đại bàng phong phú hơn chủ đề chống xâm
lược” [34, tr.216]. Nghiên cứu đối chiếu các motif và sự diễn hóa của các motif
trong type truyện này, Nguyễn Bích Hà đã khái quát: “So với các truyện cùng
kiểu ở Việt Nam và Đông Nam Á, thì truyện Thạch Sanh có số lượng motif phong
phú và tổ chức kết cấu khá chặt chẽ. Những motif ra đời sớm của nó có dạng
truyện và kết cấu khá gần gũi với truyện của các dân tộc Việt Nam, còn những
motif ra đời muộn hơn thì lại gần gũi hơn với các truyện của các nước Đông
Nam Á” [34, tr.216]. Tác giả cũng khẳng định: “Đa số truyện cổ cùng kiểu của
Việt Nam mang chủ đề tự nhiên đậm hơn, còn truyện cổ của Đông Nam Á có chủ
đề xã hội rộng lớn hơn” [34, tr. 216 ]. Không chỉ dừng lại ở việc so sánh nhằm
tìm ra những tƣơng đồng và dị biệt qua kết cấu và các motif của truyện, tác giả
Nguyễn Bích Hà còn đi đến những căn rễ lịch sử văn hóa để kiến giải cho việc

tác giả đề ra trong chuyên khảo là cơ sở khoa học nền tảng giúp chúng tôi căn cứ để
triển khai và nghiên cứu đề tài.
Năm 2010, tác giả Nguyễn Thị Nguyệt xuất bản công trình “Khảo sát và so
sánh một số type truyện và motif truyện kể dân gian Việt Nam - Nhật Bản”. Đây là
công trình vận dụng triệt để phƣơng pháp so sánh trong nghiên cứu truyện kể dân
gian của hai dân tộc. Trong chuyên luận này, sau khi khảo sát và so sánh cấu trúc nội dung của hai type truyện dân gian Việt Nam - Nhật Bản là Chú rể là người
mang lốt và type truyện về Người tốt bụng - kẻ xấu bụng, tác giả Nguyễn Thị
Nguyệt tiến hành so sánh kiểu nhân vật chính; các motif trong hai type truyện dân
gian Việt Nam - Nhật Bản, từ đó rút ra những tƣơng đồng và dị biệt trên cấp độ type


12
và motif. Lý giải về sự tƣơng đồng trong truyện dân gian Việt Nam - Nhật Bản, tác
giả Nguyễn Thị Nguyệt đƣa ra 3 nguyên nhân: “Thứ nhất là do hai dân tộc cùng
trải qua những thời kỳ lịch sử đầy sóng gió nhưng hết sức vẻ vang (tương đồng về
lịch sử); Thứ hai là do đặc điểm loại hình. Thứ ba là do quá trình tiếp xúc, giao lưu
văn hoá và quá trình tiếp thu, đồng hoá những nguồn ảnh hưởng (cùng chịu ảnh
hưởng của văn hoá Ấn Độ và Trung Quốc) (nguyên nhân giao lưu và tiếp biến văn
hoá). Lý giải về sự khác biệt, tác giả cũng đưa ra 3 nguyên nhân: Thứ nhất là do sự
khác biệt về môi trường sinh thái, lịch sử, văn hoá hai tộc người; Thứ hai là do sự
thu hút tinh hoa kho truyện của các dân tộc anh em khác nhau; Thứ ba là do tính
bản địa, sự độc đáo trong sáng tạo nghệ thuật” [72, tr.209 - 223].
Có thể nói, đây là một chuyên luận nghiên cứu công phu, sử dụng thành
công Phƣơng pháp so sánh - loại hình và Phƣơng pháp lịch sử - địa lý. Cách
khảo sát và các thao tác nghiên cứu của tác giả là rất đáng để luận án chúng tôi
tham khảo. Cũng cần nói thêm rằng, hƣớng triển khai của luận án chúng tôi khá
gần với thao tác nghiên cứu của chuyên luận này.
Năm 2014, đặt mục tiêu khảo sát một cách hệ thống về type truyện Con vật tinh
ranh ở Việt Nam và thế giới, qua đó thấy đƣợc diện mạo, đặc điểm, đặc trƣng của nó;
nghiên cứu kết cấu, nhân vật, hệ thống motif,… để làm nổi rõ nét đặc trƣng của type

trên 3 thể loại: Huyền thoại; Cổ tích và truyện Hài - Ngụ ngôn và lý giải nguyên
nhân có sự tƣơng đồng này, tác giả đƣa ra 4 nguyên nhân: “Thứ nhất, các dân
tộc có cùng gốc tộc người hoặc cùng vùng cư trú ngày xưa khiến kho tàng truyện
cổ của họ có thể có nhiều nét chung. Thứ 2, các dân tộc di cư, xen cư, giao lưu
văn hoá có thể dẫn tới sự tương đồng về thể loại, type truyện, tác phẩm hay
motif. Thứ 3, các dân tộc và truyện cổ của họ cùng chịu ảnh hưởng một nguồn
văn hoá chung nào đó theo những đường thẳng và vòng khác nhau cũng là một
trong những nguyên nhân của sự tương đồng văn hoá và văn học và cuối cùng là
sự giống nhau ngẫu nhiên giữa các dân tộc cùng trình độ” [86].
Ý tƣởng của bài nghiên cứu là rất đáng lƣu ý, đặc biệt là nghiên cứu truyện
cổ dân gian trong bối cảnh giao lƣu và tiếp biến văn hoá khu vực Đông Nam Á.
Tuy vậy, các vấn đề tác giả đặt ra quá lớn so với dung lƣợng và khuôn khổ một
bài viết thông thƣờng. Có lẽ do bị quy định bởi dung lƣợng bài viết nên tác giả
không có điều kiện để trích dẫn hoặc có những so sánh mang tính chuyên sâu,
định lƣợng hơn. Những nguyên nhân của sự tƣơng đồng mà tác giả nêu ra cũng
chỉ có tính tái khẳng định hơn là những phát hiện mới mẻ, thú vị (các nguyên nhân
này đã đƣợc một số tác giả đi trƣớc nhƣ Cao Huy Đỉnh, Lê Chí Quế, Phạm Đức
Dƣơng, Vũ Anh Tuấn, Nguyễn Bích Hà, Nguyễn Thị Huế … hay một số nghiên
cứu gần đây của Phạm Tiết Khánh, Trần Minh Hƣờng, Đƣờng Tiểu Thi, La Ma
Thi Gia… ít nhiều đề cập).
1.1.2. Tình hình nghiên cứu so sánh truyện cổ tích thần kỳ của các dân


14
tộc nói chung và so sánh với truyện cổ tích thần kỳ Khmer Nam Bộ từ góc độ
type và motif nói riêng
Nghiên cứu truyện cổ tích thần kỳ theo hƣớng này thƣờng xác định phạm
vi tƣ liệu của type truyện một tộc ngƣời hoặc một nhóm tộc ngƣời nào đó trong
những mối liên hệ nhất định và tính chất, đặc điểm của từng đề tài, có thể là theo
địa bàn cƣ trú, vùng văn hoá (chẳng hạn nhƣ: Nam Bộ; Bắc Bộ...) hoặc theo

từ các motif lớn hơn nhƣng cách khảo sát này góp phần định hƣớng cho rất nhiều
nghiên cứu về truyện dân gian từ góc độ type và motif của các nhà nghiên cứu trẻ
nhƣ chúng tôi.
Gần đây, năm 2012, tác giả Nguyễn Thị Huế cũng đã biên soạn một bảng
mục lục tra cứu type truyện dân gian Việt Nam, với mong muốn sẽ góp phần
trong việc cung cấp tƣ liệu tra cứu về các type truyện và motif truyện dân gian
Việt Nam cho giới nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam trong và ngoài nƣớc.
Có thể xem quyển từ điển này là kim chỉ nam hết sức hữu dụng cho việc tra cứu
và gọi tên các type truyện dân gian của Việt Nam. Tuy nhiên, những type và
motif của truyện cổ tích thần kỳ Khmer Nam Bộ đƣợc giới thiệu một cách khá
khiêm tốn. Hy vọng sau khi hoàn thành luận án này, chúng tôi sẽ có cơ hội bổ
sung thêm một số type và motif mới của truyện cổ tích thần kỳ Khmer Nam Bộ
vào cuốn từ điển nêu trên.
Bên cạnh công trình của các tác giả nêu trên, chúng tôi nhận thấy còn có
một số chuyên luận và các luận án, luận văn tiêu biểu khác nghiên cứu về type
truyện nhƣ: “Phân tích các type truyện cổ tích thần kỳ Việt Nam theo cấu trúc cốt
truyện” của Phạm Tuấn Anh (2010); “Type truyện người em trong truyện cổ tích
các dân tộc Việt Nam” (2013) của Nguyễn Thị Ngọc Lan; “Motif thách cưới trong
truyện cổ tích các dân tộc Việt Nam” của Nguyễn Lan Ngọc (2013, Đại học Sƣ
phạm TP.HCM); “Type truyện nhân vật mang lốt rắn và chim trong truyện cổ tích
thần kỳ Việt Nam” của Đỗ Thị Thu Hƣơng (ĐHSP 2, 2013); “Vấn đề Motif loạn
luân trong truyện kể dân gian Việt Nam” của Phạm Thị Hà (Đại học Văn Hiến,
2016); “Kết thúc không có hậu trong truyện cổ tích Việt Nam” của Nguyễn Phúc
Hồng (Đại học Văn Hiến, 2016); “Type truyện Ông Dài Ông Cộc từ góc nhìn văn
hoá” của Lê Thị Ngọc Dung (Đại học Văn Hiến, 2016); “Mô típ kén rể trong
truyện cổ tích Việt Nam” của Nguyễn Văn Phùng (Đại học Văn Hiến, 2016) v.v…
Trong các chuyên luận và các luận án, luận văn nêu trên, đa số các tác giả
đều tiến hành thống kê, khảo sát các bản kể cùng type truyện, xây dựng sơ đồ
cấu tạo của các type truyện, xác định các motif rồi tiến hành phân tích kết cấu,
nội dung của các type của các dân tộc để tìm ra các đặc trƣng cơ bản của type

điểm về không gian của người Kinh và người Campuchia. Ngoài yếu tố không
gian phiếm chỉ như phum nọ, sóc kia, khu rừng này... thì truyện cổ tích của
người Khmer Nam Bộ còn có không gian kinh thành, cung vua... Sự kết hợp này
đã tạo nên tính phong phú đa dạng về mặt không gian trong kho tàng truyện kể
của người Khmer Campuchia, đồng thời còn thể hiện mặt tốt đẹp khác đó là mối
quan hệ gắn bó giữa dân tộc Khmer với các dân tộc anh em, và giữa dân tộc
Khmer Nam Bộ với dân tộc Campuchia vốn có chung nguồn gốc từ thời xa xưa”
[54, tr. 199]. Mặc dù đây không phải là công trình nghiên cứu chuyên về thể loại
cổ tích, cũng không sử dụng phƣơng pháp so sánh là phƣơng pháp chính, song


17
những so sánh và nhận định bƣớc đầu của Phạm Tiết Khánh về mối quan hệ, sự
tƣơng đồng trong thể loại cổ tích của ngƣời Khmer Nam Bộ, Campuchia và
ngƣời Kinh là những nhận định có giá trị và gợi ý rất lớn đối với luận án.
Nghiên cứu về truyện kể dân gian Khmer Nam Bộ còn có công trình
“Nghiên cứu truyện dân gian Khmer Nam Bộ dưới góc nhìn bối cảnh” (Luận án
Tiến sỹ) của Huỳnh Vũ Lam. Đây là công trình nghiên cứu chuyên về truyện kể
dân gian Khmer song triển khai theo hƣớng bối cảnh, do vậy vấn đề thể loại
cũng nhƣ type và motif không đƣợc đề cập nhiều. Tác giả viết: “thể loại bao giờ
cũng gắn với một tâm thế, một trạng thái tình cảm của người kể và người nghe
nên khi kể chuyện sẽ nảy sinh những tương tác, hình thành những xung động
khai thác vốn tri thức và văn hóa của cộng đồng trong một cá nhân. Nói cách
khác, khi người kể chuyện quan niệm câu chuyện ấy thuộc thể loại nào thì
anh/chị ta sẽ có những tâm thế (ẩn tàng trong suy nghĩ) và những cách thức để
chuyển tải câu chuyện đến với người nghe một cách hiệu quả nhất. Ngược lại
chính người nghe, trong vốn văn hóa của cộng đồng đã được dạy bảo, sẽ có
những hưởng ứng tích cực giúp cho câu chuyện được diễn ra” [57, tr.113 ]. Dẫu
vậy, các vấn đề về văn hoá tộc ngƣời tác động đến sinh hoạt diễn xƣớng của
truyện kể cũng đƣợc Huỳnh Vũ Lam khai thác khá sâu sắc.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status