PHÒNG GD – ĐT CHÂU PHÚ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TRƯỜNG TH A ĐÀO HỮU CẢNH
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BÁO CÁO
Kết quả thực hiện “Một số biện pháp giúp đỡ học sinh yếu kém
khắc phục khó khăn khi giải các bài toán điển hình ở lớp 3”
I. SƠ LƯỢC LÝ LỊCH TÁC GIẢ:
- Họ và tên: ĐỖ THỊ KIM THOA.
Nam, nữ: Nữ
- Ngày tháng năm sinh: 11/12/1980
- Nơi thường trú: Ấp Hưng Lợi, xã Đào Hữu Cảnh, huyện Châu Phú
- Đơn vị công tác: Trường Tiểu học A Đào Hữu Cảnh
- Chức vụ hiện nay: Giáo viên
- Trình độ chuyên môn: Đại học GDTH
- Lĩnh vực công tác: Giáo viên chủ nhiệm lớp 3A
II. SƠ LƯỢC ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH ĐƠN VỊ:
Trường Tiểu học A Đào Hữu Cảnh thuộc xã vùng trong, có hai điểm. Trường
được thành lập ngày 05 tháng 09 năm 1984, được tách ra từ trường tiểu học E
Thạnh Mỹ Tây và có quyết định kể từ ngày 30 /08/1990 của UBND tỉnh An Giang.
1. Thuận lợi:
Được sự quan tâm chỉ đạo của Ngành, của địa phương nên trường thuận lợi
trong hoạt động cũng như công tác huy động học sinh đến trường và làm tốt công
tác sửa chữa hè, tạo cảnh quan trường ngày một khang trang, thu hút học sinh đến
trường. Phòng học đảm bảo đầy đủ cho năm học 2018-2019.
Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên đủ về số lượng, chuẩn hóa về chất lượng;
có ý thức tự học, tự nghiên cứu để nâng cao nghiệp vụ chuyên môn và tay nghề, đáp
ứng ngày càng tốt hơn đối với yêu cầu công việc.
của giáo viên còn lúng túng về nhiều mặt, một phần không nhỏ học sinh gặp khó
khăn khi giải bài toán còn nhầm lẫn sai sót, trình bày bài giải chưa chính xác, việc
hình thành kỹ năng còn chậm, khả năng suy luận kém. Ngoài ra, còn do điều kiện
gia đình càng ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả học tập của các em. Vậy làm như
thế nào để nâng cao chất lượng dạy học môn toán ở trường Tiểu học ? làm thế nào
để nâng cao hứng thú học tập cho học sinh ?…. Hàng loạt câu hỏi đặt ra và nó đã
làm cho bao nhiêu thế hệ thầy cô phải trăn trở suy nghĩ. Là một giáo viên đã trực
tiếp giảng dạy nhiều năm tôi nhận thấy mình phải có trách nhiệm trong việc giúp đỡ
học sinh có được kết quả học tập cao.
Môn Toán ở nhà trường Tiểu học là một môn học rất quan trọng, góp phần vào
mục tiêu nâng cao chất lượng học tập của học sinh. Nó không chỉ phát triển tư duy,
phát triển ngôn ngữ mà còn góp phần hình thành nhân cách của các em. Phần lớn
2
thời gian học tập của học sinh là dành cho việc học bốn phép tính cộng, trừ, nhân,
chia và giải các bài toán có lời văn. Trong đó, việc học bốn phép tính thường không
khó đối với đại đa số học sinh còn việc học giải toán thì lại không dễ đối với hầu hết
các em. Vì sao vậy ? Đó là vì trong các bài toán có lời văn, bốn phép tính cộng, trừ,
nhân, chia không hiện ra một cách rõ ràng, mà chúng ẩn đằng sau các câu chữ,
nhiều khi rất khó nhận thấy. Nó mô tả những tình huống trong đời sống, sinh hoạt,
lao động và học tập thường ngày. Nếu không biết phương pháp suy nghĩ, tìm tòi,…
thì không thể phát hiện ra cách giải. Do đó, đa số học sinh tiểu học đều làm được
các bài toán số mà thường ngại các bài toán có lời văn, nhất là các em học sinh chưa
hoàn thành.
Việc học giải toán có lời văn là một mạch kiến thức của môn Toán ở lớp Ba
nói riêng và ở Tiểu học nói chung. Có thể xem đây là biểu hiện về trí tuệ linh hoạt
và năng động nhất ở độ tuổi của các em. Vì việc giải toán có lời văn đòi hỏi khả
năng các em cao hơn lớp Một, lớp Hai. Các em không chỉ suy nghĩ tìm câu lời giải
Môn Toán ở bậc Tiểu học, các bài toán có lời văn có vị trí rất quan trọng.
Một phần lớn thời gian học Toán của học sinh dành cho việc học giải các bài toán
ấy. Kết quả học Toán của học sinh cũng được đánh giá trước hết qua khả năng giải
toán, cả kết quả thi kiểm tra cuối kì hay cuối năm học cũng vậy. Biết giải thành thạo
các bài toán là một trong những tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá trình độ toán học
của mỗi học sinh.
Sở dĩ việc học giải toán có vị trí quan trọng như trên là vì nó có những tác
dụng rất to lớn và toàn diện như:
- Việc giải toán giúp học sinh củng cố, vận dụng và hiểu sâu sắc thêm tất cả
các kiến thức về số học, đo lường và hình học đã được học trong môn Toán ở Tiểu
học. Hơn thế nữa phần lớn các biểu tượng, khái niệm, quy tắc, tính chất toán học ở
Tiểu học đều được học sinh tiếp thu qua con đường giải toán, chứ không phải qua
con đường lí luận.
- Thông qua nội dung thực tế nhiều hình nhiều vẽ của các đề toán, học sinh
sẽ tiếp nhận được những kiến thức phong phú về cuộc sống và có điều kiện để rèn
luyện khả năng áp dụng các kiến thức toán học vào cuộc sống.
- Mỗi đề toán đều là một bức tranh nhỏ của cuộc sống. Khi giải mỗi bài toán,
học sinh phải biết rút ra được từ bức tranh ấy cái bản chất toán học của nó, phải biết
lựa chọn những phép tính thích hợp, biết làm đúng các phép tính, biết đặt lời văn
chính xác,… Vì thế mà quá trình giải toán sẽ giúp học sinh rèn luyện khả năng quan
sát, khả năng sử dụng Tiếng Việt và giải quyết các vấn đề của cuộc sống qua con
mắt toán học của mình.
4
- Việc giải các bài toán có lời văn sẽ giúp phát triển trí thông minh, óc sáng
tạo và thói quen làm việc một cách khoa học cho học sinh. Bởi vì khi giải toán, học
sinh phải biết tập trung chú ý vào cái bản chất của bài toán, phải biết gạt bỏ những
cái thứ yếu, phải biết phân biệt cái đã cho và cái cần tìm, phải biết phân tích để tìm
đưa ra những tình huống dạy học sao cho phù hợp để tất các các đối tượng học sinh
đều nắm được chuẩn kiến thức, kĩ năng. Từ đó, vận dụng để giải quyết tất cả các bài
tập theo yêu cầu chuẩn kiến thức mà không ảnh hưởng đến thời gian tiết học.
3.2.1. Thực trạng việc dạy học toán của giáo viên:
Thực trạng của học sinh hiện nay có thể khẳng định rằng học sinh tiểu học nói
chung và học sinh lớp 3 nói riêng còn yếu về khả năng phân tích, tư duy để giải bài
toán có lời văn.
- Muốn học sinh học tập đạt kết quả thì vấn đề đặt ra cần phải đề cập đến là
phương pháp giảng dạy, là cách thức tổ chức hoạt động học tập cho học sinh và
quan trọng hơn cả là người giáo viên có trình độ kiến thức, chuyên môn, nghiệp vụ
và kinh nghiệm giảng dạy…
+ Về trình độ giáo viên đều đạt chuẩn và trên chuẩn. Trong quá trình giảng
dạy có nhiều cố gắng đạt mục tiêu bài dạy, có ý thức nâng cao tay nghề.
+ Xong việc vận dụng những kiến thức đã có vào việc giảng dạy còn có
nhiều hạn chế, lúng túng, vụng về, thiếu linh hoạt.
+ Năng khiếu sư phạm còn hạn chế dẫn đến việc hướng dẫn học sinh giải bài
toán đôi khi còn thiếu chính xác. Kiến thức cơ bản nhiều khi còn bị lãng quên, sự
đầu tư vào chuyên môn chưa nhiều dẫn đến chất lượng giờ dạy chưa cao.
VD: Khi hướng dẫn học sinh giải toán, giáo viên chưa khuyến khích học sinh
tìm nhiều cách giải khác nhau, chưa cho học sinh thấy được ý nghĩa thực tiễn của
nó trong cuộc sống.
+ Một số giáo viên còn chịu ảnh hưởng của phương pháp dạy
học truyền thống.
3.2.2. Vai trò của dạy học giải toán ở Tiểu học nói chung và giải các bài
toán có lời văn ở lớp 3 nói riêng:
- Dạy học giải toán ở Tiểu học nhằm giúp học sinh biết cách vận dụng
những kiến thức về toán và các tình huống thực tiễn đa dạng, phong phú những vấn
đề thường gặp trong đời sống.
- Biết tính độ dài đường gấp khúc.
- Biết tính chu vi diện tích hình chữ nhật, hình vuông (theo quy tắc).
b. Bài toán liên quan đến rút về đơn vị
- Học sinh biết giải và trình bày bài giải các bài toán có lời văn, có đến hai
bước tính liên quan đến rút về đơn vị.
3.2.5. Các dạng bài tập
a. Các bài tập có nội dung hình học
- Bài tập về “Nhận biết hình” (nhận dạng hình)
7
- Bài tập về “xếp ghép hình” chẳng hạn từ 8 hình tam giác bằng nhau xếp
thành cac hình như ở trang 71, trang 82 sách toán 3.
Ví dụ: Bài 4 trang 82 - Toán 3.
- Bài tập về ‘Tính chu vi” hình chữ nhật, hình vuông (theo quy tắc)
- Bài tập về :Tính diện tích” các hình chữ nhật, hình vuông (theo quy tắc)
- Bài tập về “Thực hành” chẳng hạn gấp giấy để tạo thành mép vuông (bài 4
trang 43 sách toán 3) hoặc gấp tờ giấy hình chữ nhật để xác định trung điểm của
đoạn thẳng (Bài 2 trang 99 sách toán 3).
b. Các dạng bài toán liên quan đến rút về đơn vị.
- Là một dạng của toán hợp giải bằng hai phép tính. Bài toán được xây dựng
từ hai bài toán đơn là ý nghĩa thực tế của phép nhân hoặc phép chia, chẳng hạn:
+ Dạng 1: Bài toán: Có 28 kg gạo đựng đều trong 7 bao. Hỏi 5 bao đó có
bao nhiêu ki-lô-gam gạo ?
Từ cách hiểu trên ta hướng dẫn học sinh giải bằng 2 phép tính, mỗi phép tính
ứng với một bài toán đơn tạo thành tương ứng. Muốn tìm 5 bao có bao nhiêu ki-lôgam gạo, ta cần tìm mỗi bao có bao nhiêu ki-lô-gam gạo bằng cách: lấy 28 chia cho
7; biết được mỗi bao có bao nhiêu ki-lô-gam gạo thì sẽ tính được kết quả theo yêu
cầu bài toán:
Bài giải:
- Học sinh chưa đọc kỹ đề bài, xác định yêu cầu bài toán chưa đúng, không
biết bài toán thuộc loại toán nào dẫn đến việc áp dụng công thức, quy tắc nhầm, lẫn
lộn với nhau, kết quả giải toán bị sai.
+ Khi bài toán yêu cầu tính chu vi hình chữ nhật thì lại áp dụng quy tắc tính
chu vi hình vuông và ngược lại khi bài toán yêu cầu tính chu vi hình vuông thì lại
áp dụng quy tắc quy tắc tính chu vi hình chữ nhật.
+ Khi bài toán yêu cầu tính chu vi hình vuông và chu vi hình chữ nhật thì
học sinh chưa hoàn thành không nắm chắc quy tắc để vận dụng quy tắc tính, nhầm
giữa tính chu vi hình vuông sang tính diện tích hình vuông, nhầm giữa tính chu vi
hình chữ nhật sang tính diện tích hình chữ nhật.
+ Trong bài toán tính chu vi, diện tích các hình khi viết tên đơn vị đo, các em
còn bỏ sót, nhầm lẫn. Chẳng hạn:
VD: Hình chữ nhật ABCD có chiều rộng bằng 3cm, chiều dài gấp đôi chiều
rộng. Tính chu vi và diện tích của hình chữ nhật đó. (Bài 2 trang 156, Toán 3)
Với hình chữ nhật đã cho có chiều rộng 3 cm, chiều dài gấp đôi chiều rộng, thì
đơn vị đo của chu vi là cm, đơn vị đo của diện tích là cm 2 nhưng học sinh viết là
cm. Cụ thể học sinh có thể giải là:
Bài giải của học sinh
Bài giải đúng:
9
Chiều dài của hình chữ nhật là:
Chiều dài của hình chữ nhật là:
3 x 2 = 6 (cm)
- Học sinh còn nhầm khi bài toán cho chu vi hình vuông đi tìm cạnh, học
sinh không hiểu bài toán, lấy chu vi nhân 4 thay gì phải áp dụng công thức cạnh
hình vuông bằng chu vi chia cho 4.
VD: Một hình vuông có chu vi 20mm. Tính diện tích hình vuông đó. (Bài 3
trang 154. Toán 3)
- Ngoài ra còn một số bài toán đòi hỏi học sinh phải tư duy tìm các công thức
đã cho để giải. Khả năng giải bài toán mang tính chất tổng hợp kiến thức của các
em còn kém, các em quên mất kiến thức cũ liên quan nên giải bài toán bị sai.
VD: Một hình chữ nhật và một hình vuông có cùng chu vi. Biết hình chữ
nhật có chiều dài 60m, chiều rộng 40m. Tính độ dài cạnh hình vuông. (Bài 4 trang
174, Toán 3)
Bài toán này mang tích chất tổng hợp giữa tính chu vi và diện tích hình vuông,
hình chữ nhật. Vì vậy, học sinh phải tư duy để tìm cách giải đúng. Chẳng hạn:
Muốn tính cạnh hình vuông phải tính chu vi hình vuông (chu vi hình vuông bằng
chu vi hình chữ nhật là: (60 + 40) x 2 = 200m)) rồi lấy chu vi đó chia cho 4.
* Bài toán liên quan đến rút về đơn vị
10
Dạng 1: Bài toán hợp có hai phép tính chia và nhân. Thực hiện theo hai bước:
- Bước 1: Tìm giá trị một phần, thực hiện phép chia
- Bước 2: Tìm giá trị nhiều phần, thực hiện phép nhân.
Dạng bài toán này học sinh thường làm sai như:
+ Bước 1: Học sinh đặt câu lời giải chưa đúng, ghi đơn vị sai;
+ Bước 2: Học sinh viết số để tính sai.
VD: Có 28 kg gạo đựng đều trong 7 bao. Hỏi 5 bao có bao nhiêu ki-lô-gam gạo?
( Bài 2 trang 128, Toán 3)
- Bước 1: Tìm số ki-lô-gam gao đựng trong mỗi bao
Học sinh thực hiện sai là : 28 : 7 = 4 (bao); giải đúng là: 28 : 7 = 4 (kg)
Đáp số: 5 hộp
3.3. Một số nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên
* Nguyên nhân khách quan:
- Lớp học có nhiều đối tượng học sinh, trình độ tiếp nhận không đồng đều.
- Một số phụ huynh ít quan tâm chú ý đến việc học tập ở nhà của con em.
- Một số em là con hộ nghèo, cận nghèo, cha mẹ đi làm ăn xa sống với ông bà
lớn tuổi nên chưa nhắc nhở các em học tập.
*. Nguyên nhân chủ quan
11
- Giáo viên:
Trong giảng dạy, một số giáo viên vận dụng các phương pháp dạy học chưa
linh hoạt, nhịp độ giảng dạy quá nhanh làm cho học sinh không theo kịp. Một số
giáo viên chưa thật sự quan tâm đến học sinh chưa hoàn thành trong việc giải bài
toán có lời văn, thường dạng bài toán này giáo viên chỉ để học sinh hoàn thành tốt
và hoàn thành giải.
- Học sinh:
+ Sự phát triển nhận thức của một số em còn chậm, không đồng đều, hoạt
động tư duy logic kém. Việc lĩnh hội kiến thức ở các lớp trước chưa đầy đủ, còn
những lỗ hổng về kiến thức. Một số em có thái độ học tập chưa tốt, ngại hỏi, thiếu
tự tin.
+ Ngoài ra, có em chưa tập trung chú ý khi thầy, cô giảng bài; gia đình chưa
quan tâm đến việc học hành của các em. Một số phụ huynh do không nắm được
cách giải toán ở tiểu học nên hướng dẫn không đúng cách.
+ Học sinh không đọc kĩ đề bài, chưa suy nghĩ cách tìm hiểu đề toán. Hầu hết
chỉ chờ sự hướng dẫn tìm hiểu bài của giáo viên.
Có rất nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả dạy và học xong đây chỉ là
Đối với loại toán có nội dung hình học thì khả năng nhận biết các đặc điểm
cảu một hình vẽ là rất quan trọng.
Ví dụ: Khi dạy về “Diện tích hình chữ nhật” giáo viên cần cho học sinh nhắc
lại đặc điểm của hình chữ nhật thông qua hình vẽ.
+ Khả năng cắt ghép hình tam giác thành hình chữ nhật.
+ Giáo viên cần có biện pháp giúp học sinh nhớ rõ các ký hiệu hình vẽ.
Chẳng hạn, đâu là cạnh chiều dài của hình, đâu là cạnh chiều rộng của hình
chữ nhật. Từ đó học sinh biết vận dụng vào giải các bài toán áp dụng trực tiếp quy
tắc đã xây dựng để vận dụng tính.
Bài tập VD: Cho hình chữ nhật có cạnh dài là 8cm, cạnh ngắn là 5cm. Tính
diện tích hình chữ nhật đó ?
Với bài tập này học sinh chỉ cần vận dụng đúng quy tắc, công thức đã được
trang bị là giải được ngay. Cũng có những bài toán đòi hỏi học sinh phải có khả
năng tư duy thì mới giải được. Do vậy, giáo viên cần rèn cho các em kỹ năng này.
VD: Bài toán: Cho hình chữ nhật có nửa chu vi là 22cm, cạnh ngắn là 9 mm.
Tính diện tích hình chữ nhật đó ?
- Khi giải bài toán không có cùng đơn vị đo thì phải biết đổi ra cùng một đơn
vị đo.
- Giáo viên cần lưu ý cho học sinh:
+ Với hình chữ nhật có số đo chu vi là cm, thì đơn vị đo của diện tích là cm2
13
+ Với hình vuông có số đo chu vi là cm thì đơn vị đo của diện tích hình
vuông là cm2.
-Với bài toán liên quan đến rút về đơn vị: Giáo viên cần hướng dẫn cho học
sinh biết đề bài yêu càu tính cái gì? Bài toán thuộc dạng 1 hay dạng 2 để giải bài
toán.
Ví dụ:
Ví dụ: Bài toán: Một tờ giấy hình chữ nhật có chiều dài 72cm, chiều rộng
bằng
1
chiều dài. Tính diện tích tờ giấy đó.
8
Để giải được bài toán này học sinh cần phải phân tích đề và dựa vào những
yếu tố đã biết để giải.
+ Bài toán đã biết chiều dài chưa?
+ Bài toán đã biết chiều rộng chưa?
Vậy để tính được diện tích tờ giấy thì ta phải tính gì trước?
Qua hàng loạt câu hỏi đặt ra để phân tích yêu cầu bài toán; trả lời được các
câu hỏi đó, học sinh sẽ làm được bài tập dễ dàng.
Với các kỹ năng đã có của học sinh, giáo viên là người giúp học sinh rèn
luyện và phát huy những kỹ năng ấy, cần cho học sinh nắm rõ thuật ngữ toán học
“chiều rộng bằng
1
chiều dài nghĩa là gì?”
8
Biết phân tích và tóm tắt bài toán bằng cách ghi các dữ kiện đã cho và câu
hỏi của bài toán dưới dạng ngắn gọn nhất. Qua tóm tắt học sinh có thể nêu lại được
bài toán, từ đó lập kế hoạch giải, do vậy giáo viên cần hướng dẫn:
+ Muốn tính được diện tích tờ giấy ta cần dữ liệu nào? (có chiều dài, có
chiều rộng).
+ Tìm chiều rộng bằng cách nào ? (Lấy 72 : 8 = 9 cm)
Như vậy, với một số câu hỏi gợi mở mà giáo viên đưa ra, học sinh có thể sẽ
tìm cách giải bài toán về những kiến thức đã học để có thể áp dụng được công thức
toán khác nhau. Vận dụng kiến thức tổng hợp để giải toán xác lập mối quan hệ giữa
các yếu tố và tìm đúng phép tính thích hợp.
3.4.3. Biện pháp hướng dẫn học sinh trình bày bài giải
Sau khi đã có những kỹ năng phân tích bài toán và lập được kế hoạch giải
cho bài toán thì việc thực hiện cách giải và trình bày bài giải cũng là yếu tố quan
trọng. Vậy làm như thế nào để câu trả lời của bài toán không bị sai, phép tính chính
xác, ghi đáp số với kết quả phép tính có danh số kèm theo. Giáo viên cần hướng dẫn
các em tìm ra các câu lời giải khác nhau nhưng biết trả lời ngắn, gọn mà đủ ý. Bài
toán hỏi gì thì trả lời, nghĩa là biết dựa vào câu hỏi của bài toán để trả lời.
Khi trình bày bài giải giáo viên nên khuyến khích các em tìm ra nhiều cách
giải. Sau đó hướng dẫn các em vào cách giải, cách trình bày bài giải ngắn gọn,
chính xác, dễ hiểu nhất, lời giải hợp lý nhất. Với bài toán khi giải cần đổi đơn vị đo
thì giáo viên cần hướng dẫn và yêu cầu học sinh nhắc lại cách đổi đã học về đại
lượng ấy. Qua đó củng cố những kiến thức có liên quan đến giải toán điển hình có ý
nghĩa thực tiễn. Từ đó các em sẽ trình bày đúng bài giải.
16
Chẳng hạn bài toán: Tính diện tích và chu vi hình chữ nhật có chiều dài 4dm,
chiều rộng 8cm (bài 1 trang 153, Toán 3). Học sinh cần phải nhận xét: Xét 2 cạnh
hình chữ nhật không cùng số đo nên phải đổi ra cùng đơn vị đo: 4 dm = 40 cm, sau
đó trình bày bài giải:
Bài giải:
4 dm = 40 cm
Diện tích hình chữ nhật là:
40 x 8 = 320 (cm2)
Chu vi hình chữ nhật là:
(40 + 8 ) x 2 = 96 (cm)
Đáp số: 320 cm2; 96 cm
TS
Tỉ lệ %
CHT
TS
Tỉ lệ %
17
3B
27
3
11,11
16
59,26
8
29,62
Với những biện pháp trên tôi đã thu được kết quả nhất định, học sinh giải các
bài toán có nội dung hình học và dạng toán liên quan đến rút về đơn vị ngày càng
tiến bộ. Học sinh có tư duy sáng tạo, tìm hiểu đúng yêu cầu của đề bài, trình bày
bài giải đúng theo yêu cầu của bài toán.
Kết quả đạt được cuối năm học 2017 - 2018 là:
Lớp
3B
* Đối với học sinh:
- Các em hứng thú hơn khi học môn toán và không ngại giải các bài toán có
lời văn, bài toán về hình học.
- Biết phân tích đề toán và tìm ra cách giải chính xác hơn.
- Tích cực luyện tập, xem trước bài học ở nhà.
* Đối với giáo viên:
- Trong giảng dạy có phần nhẹ nhàng hơn vì học sinh chú ý học tập, biết chủ
động tìm cách giải chứ không đợi giáo viên hướng dẫn cụ thể như trước.
- Có nhiều kinh nghiệm, biện pháp dạy học, hình thức tổ chức lớp phù hợp khi
dạy các bài toán điển hình.
- Giáo viên hoàn thành nhiệm vụ tốt hơn, nâng cao chất lượng giáo dục, hạn
chế được số lượng học sinh chưa hoàn thành ở môn toán.
V. MỨC ĐỘ ẢNH HƯỞNG:
- Từ kết quả đạt được qua nghiên cứu sáng kiến này sẽ nhân rộng thực hiện
trong phạm vi Khối 3 của trường Tiểu học A Đào Hữu Cảnh.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh học tập ở các lớp dưới vững chắc thì
việc học ở các lớp trên sẽ nhẹ nhàng, song song đó việc học ở lớp hay ở nhà của học
18
sinh đều mang lại hiệu quả cao. Hơn thế nữa làm toán đúng thì việc học của các em
ngày càng hứng thú hơn, đồng thời giáo viên sẽ nhẹ nhàng hơn khi dạy môn này.
VI.KẾT LUẬN:
Qua quá trình thực nghiệm nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp giúp đỡ
học sinh yếu, kém khắc phục khó khăn khi dạy và học các bài toán điển hình ở
lớp 3’. Bản thân tôi nhận thấy rằng: Là người giáo viên nói chung và giáo viên dạy
tiểu học nói riêng phải luôn học hỏi kinh nghiệm, tự học để nâng cao trình độ
chuyên môn nghiệp vụ, tự cập nhật kiến thức thông tin để đáp ứng kịp thời sự phát
triển của ngành Giáo dục và của toàn xã hội. Để hướng dẫn học sinh có kiến thức và
tiểu học hiện nay.
Trên đây là một số kinh nghiệm của bản thân tôi giúp học sinh nắm vững
phương pháp giải một số bài toán điển hình của lớp 3. Trong quá trình thực hiện
chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi kính mong được sự giúp đỡ,
đóng góp ý kiến của hội đồng và đồng nghiệp để sáng kiến kinh nghiệm của tôi
được hoàn thiện hơn. Tôi chân thành cảm ơn !
Tôi cam đoan những nội dung báo cáo là đúng sự thật.
Xác nhận của đơn vị áp dụng sáng kiến
Người viết sáng kiến
Đỗ Thị Kim Thoa
20