BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
---------o0o---------
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI
NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN
VIỆT NAM – CHI NHÁNH HẠ LONG
Chương trình: Điều hành cao cấp - EMBA
VŨ THỊ PHƯƠNG LAN
1
Hà Nội - 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
---------o0o---------
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI
NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN
VIỆT NAM – CHI NHÁNH HẠ LONG
Ngành: Quản trị kinh doanh
Chương trình: Điều hành cao cấp - EMBA
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới TS Cao
Đinh Kiên, là người trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướng dẫn cho
tôi cả chuyên môn và phương pháp nghiên cứu và chỉ bảo cho tôi nhiều kinh
nghiệm trong thời gian thực hiện đề tài.
Xin được chân thành cám ơn các thầy cô giáo trong Khoa Quản trị kinh
doanh, Khoa Đào tạo sau đại học, Trường đại học Ngoại Thương đã tạo những điều
kiện tốt nhất để tác giả thực hiện luận văn. Xin trân trọng cảm ơn doanh nghiệp mà
tác giả đã có điều kiện gặp gỡ, tìm hiểu phân tích và các chuyên gia trong các lĩnh
vực liên quan đã đóng góp những thông tin vô cùng quý báu và những ý kiến xác
đáng, để tác giả có thể hoàn thành nghiên cứu này.
Mặc dù với sự nỗ lực cố gắng của bản thân, luận văn vẫn còn những
thiếu sót. Tôi mong nhận được sự góp ý chân thành của các Thầy Cô, đồng
nghiệp và bạn bè để luận văn được hoàn thiện hơn.
Tác giả luận văn
5
6
MỤC LỤC
6
Thương mại cổ phần
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
7
8
DANH MỤC BẢNG BIỂU
8
9
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Năm 2007, Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới
(WTO), mở ra một thời kỳ hội nhập mới với nhiều thuận lợi cùng các cơ hội hợp tác
phát triển kinh tế nhưng cũng đặt ra nhiều khó khăn và thách thức cho nền kinh tế.
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, vai trò của hệ thống ngân
hàng thương mại là không thể phủ nhận và ngày càng có ý nghĩa to lớn, tác động
đến mọi ngành và mọi lĩnh vực của nền kinh tế. Để bắt kịp với sự nghiệp đổi mới
chung tiến tới hoàn thành tiến trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước,
ngành ngân hàng cũng luôn cần phải đổi mới nhằm đảm đương nhiệm vụ nặng nề
là cầu nối và công cụ điều tiết nền kinh tế đồng thời vẫn đảm, bảo tuân thủ các
nhiều công trình nghiên cứu, đặc biệt là về hoạt động huy động vốn tại các ngân
hàng thương mại. Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như sau:
Phạm Thuỳ Dương (2010) “Tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng
thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội Chi nhánh Hà Nội” – Luận văn thạc sĩ
kinh tế của trường Đại học Kinh tế quốc dân. Luận văn đã chỉ ra được những lý
luận cơ bản về vấn đề huy động vốn tại ngân hàng thương mại đồng thời vận dụng
vào thực tế của ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội chi nhánh Hà
Nội.Tác giả đã phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động huy động vốn, tìm ra các
điểm còn hạn chế từ đó đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường hoạt động huy động
vốn tại ngân hàng. Tuy nhiên các giải pháp đưa ra vẫn còn ở mức khá chung và áp
dụng trên địa bàn xác định đó là thủ đô Hà Nội với những đặc điểm riêng biệt. Do
vậy đối với các ngân hàng khác có những đặc điểm khác cần áp dụng linh hoạt và
có sự khác biệt khi vận dụng.
Đàm Hồng Phương (2010) “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của các ngân
hàng thương mại trên địa bàn Hà Nội trong tiến trình hội nhập quốc tế”-Luận
văn thạc sĩ kinh tế trường Đại học kinh tế quốc dân. Tác giả phân tích một khía cạnh
khác có liên quan đến hoạt động huy động vốn đó là sử dụng vốn.Điều này có nghĩa
là làm thế nào để vốn sau khi huy động được sử dụng đúng mục đích tạo nên sự
hiệu quả và lợi ích tối đa.Ưu điểm của bài viết đó là đánh giá được những tác động
của tiến trình hội nhập kinh tế đối với hoạt động và phát triển của hệ thống ngân
hàng thương mại, từ đó chỉ ra được những thuận lợi và thách thức mà ngân hàng
10
11
cần vượt qua. Cũng giống như luận văn trên, ở luận văn này tác giả cũng mới chỉ
nghiên cứu trên địa bàn Hà Nội mà chưa có sự mở rộng tới các khu vực khác.
Thái Thị Tố Trinh (2012) “Giải pháp tăng cường huy động vốn tại Ngân
các quy định và chính sách mới được bạn hành do đó các giải pháp có thể đúng tại
thời điểm này nhưng tại thời điểm khác sẽ không còn giá trị. Bên cạnh đó mỗi ngân
hàng lại có một đặc điểm riêng biệt, mỗi chi nhánh khác nhau sẽ chịu sự tác động
của các yếu tố khu vực khác nhau. Hiện nay, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển
Việt Nam (BIDV) – Chi nhánh Hạ Long chưa có công trình nghiên cứu riêng nào về
hoạt động huy động vốn tại đây. Do vậy việc lựa chọn đề tài lần này có ý nghĩa rất
thiết thực và không bị trùng lặp với những công trình nghiên cứu trước đây.
3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ cở làm rõ những lý luận về hoạt động huy động vốn và phân tích
thực trạng huy động vốn tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi
nhánh Hạ Long, luận văn đề xuất một số giải pháp tăng cường huy động vốn tại
ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hạ Long trong giai
đoạn 2018-2020.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ những vấn đề lý luận chung VHDN và phát triển
- Trình bày những lý luận chung về hoạt động huy động vốn tại ngân hàng
thương mại.
- Tìm hiểu thực trạng công tác huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và
Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hạ Long. Từ đó, đánh giá hiệu quả đạt được cũng
như những điểm còn hạn chế và chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế trong công
tác huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh
Hạ Long.
- Đề xuất các giải pháp tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu
tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hạ Long.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
12
14
15
CHƯƠNG 1 : LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Tổng quan về Ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm Ngân hàng thương mại
Thuật ngữ “Ngân hàng” đã được hình thành từ rất lâu, trước cả khi nền sản
xuất hàng hoá ra đời. Ở giai đoạn nguyên sơ ban đầu xuất phát từ nhu cầu của cuộc
sống, các hoạt động trao đổi, buôn bán, nhu cầu sử dụng, lưu thông tiền tệ lớn, các
thương gia đã lập ra những nơi với mục đích để đổi tiền, nhận tiền gửi và thu phí từ
người gửi, đồng thời họ cũng nhận chi trả và thanh toán hộ. Như vậy 3 nghiệp vụ
ngân hàng đầu tiên được hình thành đó là: gửi tiền, đổi tiền và thanh toán hộ. Lúc
đầu người phải trả phí là người gửi tiền nhưng về sau việc nhận ra cơ hội sinh lời từ
số tiền gửi này nên các thương nhân đã trả phí cho người gửi để thu hút, tăng khả
năng huy động. Trải qua quá trình phát triển các thương gia nhận thấy được nhu cầu
vay vốn và họ cho vay để sinh lời, đây chính là mầm mống của các nghiệp vụ khác
cơ bản của Ngân hàng thương mại (NHTM).
Sự phát triển của nên kinh tế hàng hoá đã kéo theo sự bùng nổ các NHTM
trở thành ngành công nghiệp kinh doanh hấp dẫn trên lĩnh vực tiền tệ. Kinh tế ngày
càng phát triển các nghiệp vụ ngân hàng mới được ra đời nhằm đáp ứng tối đa nhu
cầu của thị trường. Nhiều dịch vụ mới xuất hiện như: dịch vụ bảo lãnh L/C, các dịch
vụ tín dụng, phát hành chứng chỉ tiền gửi… Hai NHTM đầu tiên hoạt động trên thế
giới đều ở Tây Ban Nha đó là Banca di Baralone (ra đời năm 1401) và Banca di
Valencia (ra đời năm 1409).
Mặc dù có lịch sử từ rất lâu nhưng cho đến nay, các nhà kinh tế học vẫn chưa
có thống nhất khi định nghĩa về NHTM. Điều này có nguyên nhân do sự khác biệt
NHTM có 3 đặc điểm cơ bản, bao gồm:
•
Trước hết, hoạt động NHTM là một hình thức kinh doanh nhằm mục đích sinh lời
và đích đến cuối cùng đó chính là lợi nhuận. NHTM thực hiện 2 hình thức hoạt
động là kinh doanh tiền tệ và cung cấp các dịch vụ ngân hàng. Trong đó hoạt động
kinh doanh tiền tệ chính là việc huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau và sử dụng
để cung cấp vốn cho khách hàng có nhu cầu vay vốn. Hay hiểu một cách đơn giản
đó là việc “đi vay để cho vay” nhằm kiếm lời. Các hoạt động dịch vụ ngân hàng
được thực hiện thông qua các nghiệp vụ sẵn có như về tiền tệ, thoanh toán, ngoại
16
17
hối, chứng khoán,…. tiến hành thực hiện một công việc nào đó theo cam kết với
khách hàng trong một thời gian nhất định và thu phí dịch vụ hoặc trích hoa hồng.
•
Mọi hoạt động diễn ra của NHTM đều phải tuân thủ theo các quy định của pháp
luật. Thực tế các điều kiện được đưa ra khi cấp phép hoạt động trên thị trường dành
cho ngân hàng là rất khắt khe như quy định về vốn, phương án kinh doanh,…
•
Là loại hình kinh doanh đầy hấp dẫn như nó cũng đi kèm với độ rủi ro cao hơn
nhiều so với các hình thức kinh doanh khác. NHTM có ảnh hưởng sâu sắc tới các
ngành và tới cả nền kinh tế của một quốc gia. Việc huy động vốn từ nguồn tiền nhàn
rỗi để cấp tín dụng cho khách hàng có nhu cầu vay theo nguyên tắc hoàn trả vốn và
lãi trong thời gian quy định. Chính điều này đã tạo ra rủi ro, rủi ro đến từ phía ngân
1.1.3.2. Các chức năng của ngân hàng thương mại
Tầm quan trọng của ngân hàng thương mại được thể hiện qua các chức năng của
nó và được ví như trái tim của nền kinh tế. Các chức năng của NHTM có thể được
nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau nhưng bao gồm 3 chức năng chủ yếu gồm:
chức năng trung gian tín dụng, trung gian thanh toán, chức năng tạo tiền của ngân
hàng thương mại:
- Chức năng trung gian tín dụng: Là chức năng cơ bản nhất của NHTM, thúc
đẩy kinh tế phát triển. Các NHTM chính là “chiếc cầu nối” giữa cung và cầu vốn
trong nền kinh tế, chuyển nguồn vốn nhàn rỗi sang những nơi cần vốn để thực hiện
nhiều mục đích khác nhau. Trong nền kinh tế nhu cầu về tiền, vốn ở các đơn vị kinh
tế khác nhau sẽ có thời điểm khác nhau. Do đó hình thành tình trạng thừa, thiếu vốn
tạm thời. Ngân hàng chính là bên trung gian có vai trò chuyển đổi kỳ hạn nợ, thay
đổi thời kỳ đáo hạn của các khoản, món nợ. NHTM đứng ra huy động vốn từ các cá
nhân, đơn vị kinh tế. Từ số vốn huy động tiếp tục cho các chủ thể kinh tế khác có
nhu cầu cần vốn vay để đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất, kinh doanh hay tiêu dùng.
Như vậy NHTM vừa là người đi vay cũng đồng thời là người cho vay. Ngày nay
cùng với sự phát triển của thị trường tài chính làm xuất hiện các khía cạnh khách,
quan niệm vai trò trung gian tín dụng trở nên biến hoá và mở rộng: Ngân hàng có
thể đứng làm trung gian giữa công ty (khi phát hành cổ phiếu) với những nhà đầu
tư, đảm nhận mua bán trái phiếu,… Hơn nữa, nguồn vốn lưu động và vốn cố định
18
19
của doanh nghiệp hầu hết đều có sự tham gia từ tín dụng ngân hàng. Do đó nó góp
phần luân chuyển, điều hoà nguồn vốn trong toàn bộ nền kinh tế để đảm bảo cho
các quá trình kinh doanh sản xuất được liên tục, thông suốt. Chức năng tín dụng của
ngân hàng chính là cầu nối giữa tiết kiệm, tích luỹ và đầu tư.
- Ngân hàng Thương mại – chức năng trung gian thanh toán: Chức năng trung
biểu như công thức của giáo sư P.F. LEHAMAN:
Số nhân tiền gửi mở rộng = 1/(a+b+r)
Trong đó:
a: Tỷ lệ dự trữ pháp định.
b: Tỷ lệ tiền mặt trên tiền gửi thanh toán.
r: Tỷ lệ dự trữ dư thừa trên tiền gửi thanh toán không vay hết.
Tiền gửi mở rộng = 1/(a+b+r) x tiền gửi ban đầu
Như vậy, khả năng tạo ra tiền ngân hàng được hiểu một cách đơn giản đó là khả
năng biến lượng tiền gửi ban đầu được gửi tại một ngân hàng đầu tiên thành một
khoản tiền lớn gấp nhiều lần thông qua thanh toán và tín dụng tại nhiều ngân hàng
tiếp theo. Các bút tệ tạo nên nguồn vốn thúc đẩy kinh tế phát triển. Tuy nhiên mức
cung tiền tệ có liên quan chặt chẽ với việc dự trữ bắt buộc tại ngân hàng Trung
ương, nếu không sẽ gây ra tai hoạ lớn, khó kiểm soát.
Từ ba chức năng cơ bản trên cho thấy được vai trò to lớn của các NHTM trong
nền kinh tế. Sự phát triển của hệ thống NHTM giúp đẩy nhanh quá trình thanh toán,
tạo nên sự tiện lợi và giảm chi phí khi giao dịch, hình thành môi trường thuận lợi
cho quá trình hình thành và lưu chuyển vốn trong nền kinh tế. Ngân hàng Thương
mại còn là bộ máy tạo tiền, nó có vai trò quan trọng thực thi các chính sách tiền tệ,
là một công cụ tham gia vào hoạt động điều tiết vĩ mô dưới sự tác động và định
hướng của Ngân hàng Trung ương cùng các chính sách của Nhà nước.
1.1.4. Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
1.1.4.1. Hoạt động huy động vốn
20
21
Là hoạt động cơ bản, khởi đầu cho các hoạt động khác của NHTM được diễn
ra. Các NHTM bản chất chính là tổ chức trung gian về tài chính, hoạt động không
phải bằng 100% nguồn vốn chủ sở hữu. Để có được nguồn vốn cho hoạt động và
Vì vậy đối với các nhà quản trị ngân hàng luôn cần phải xem xét tới cả ba hoạt động
này và không được xem nhẹ bất kỳ hoạt động nào để đề ra kế hoạch và chiến lược
kinh doanh để có được kết quả tốt nhất.
1.2. Vốn và hoạt động huy động vốn tại ngân hàng thương mại
1.2.1. Khái niệm về vốn của ngân hàng thương mại
Vốn chính là yếu tố sống còn của các hoạt động kinh doanh cũng như toàn bộ
nền kinh tế. Vốn là tiền đề cho sự hình thành và phát triển của mọi hoạt động kinh
doanh trong toàn xã hội nói chung và cho các loại hình doanh nghiệp nói riêng. Để
vận hành, nâng cao và mở rộng thì doanh nghiệp đều có nhu cầu về vốn trong đó
các NHTM cũng không phải ngoại lệ. Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính
hoạt động với mục đích chính đó là tìm kiếm lợi nhuận. Chức năng cơ bản ngân
hàng là: trung gian tín dụng, trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền. Để
vận hành và thực hiện được các chức năng này để đi đến mục tiêu lợi nhuận thì đòi
hỏi NHTM phải có được một lượng vốn nhất định. Sự quan trọng của vốn không
chỉ đối với hoạt động kinh doanh của bản thân ngân hàng mà còn đối với quá trình
phát triển kinh tế - xã hội mỗi quốc gia. Vậy câu hỏi đặt ra “Vốn NHTM là gì?”.
Theo định nghĩa đã được các nhà kinh đã tế đưa ra như sau: “Vốn của ngân hàng
thương mại là những giá trị tiền tệ do bản thân ngân hàng thương mại tạo lập ra
hoặc huy động được, dùng để đầu tư, cho vay, hoặc thực hiện các hoạt động kinh
doanh khác của mình” (Nguyễn Văn Tiến, 2012).
Theo định nghĩa trên vốn NHTM tạo lập được từ nhiều nguồn khác nhau
như: một phần lợi nhuận hoặc vốn góp của các cổ đông hàng năm, vốn huy động
được từ một phần thu nhập quốc dân tạm thời nhàn rỗi, lượng vốn này được người
chủ sở hữu tạm thời chưa sử dụng để thực hiện sản xuất, phân phối và tiêu dùng do
đó sẽ được gửi vào ngân hàng để thực hiện các mục đích khác nhau, trong đó mục
đích chủ yếu là kiếm lời từ lượng tiền nhàn rỗi này. Nói cách khác, họ chuyển
quyền sử dụng khoản vốn cho ngân hàng và đồng thời sẽ nhận được một khoản thu
22
23
24
hạn). Những ngân hàng sở hữu và huy động được nhiều vốn (trường vốn) sẽ là ngân
hàng có nhiều ưu thế trong kinh doanh. Một trong những lợi thế đầu tiên khi có
nguồn vốn lớn là khả năng chấp hành pháp luật trước hết là luật ngân hàng trung
ương, luật các TCTD cũng như các quy định của nhà nước tạo thế mạnh và thuận
lợi trong kinh doanh tiền tệ.
Như vậy có thể nói vốn là mắt xích đầu tiên và là sợi chỉ xuyên suốt trong chu
kỳ kinh doanh của NHTM, là khâu cốt tử của ngân hàng. Do đó, ngoài vốn ban đầu
cần thiết cho sự thành lập, tức là đủ vốn điều lệ theo luật định đăng ký kinh doanh
thì ngân hàng phải thường xuyên chăm lo, chú trọng tới việc tăng trưởng bằng cách
huy động vốn trong suốt quá trình hoạt động của mình.
• Vốn quyết định khả năng thanh toán và năng lực cạch tranh của ngân hàng
Ngày nay sự mở rộng giao lưu, hợp tác trong nền kinh tế thị trường mở ra nhiều
cơ hội nhưng cũng không ít các thách thức nhất là tính cạnh tranh ngày càng tăng
cao. Để tồn tại và ngày càng mở rộng quy mô hoạt động đòi hỏi các doah nghiệp
cũng như ngân hàng phải xây dựng được uy tín lớn và thương hiệu trên thị trường là
điều trọng yếu. Một trong những yếu tố đầu tiên mà mọi khách hàng đều sẽ quan
tâm để đánh giá về uy tín đó là phải được thể hiện trước hết ở khả năng sẵn sàng
thanh toán, chi trả cho khách hàng khi thực hiện các hoạt động, dịch vụ của ngân
hàng. Phần lớn nguồn vốn của ngân hàng được cấu thành từ vốn tiền gửi và đi vay
do vậy bất cứ khi nào khách hàng có nhu cầu rút tiền, ngân hàng đều phải tiến hành
chi trả theo đúng quy định. Do vậy ta có thể thấy một ngân hàng có quy mô vốn nhỏ
sẽ không đáp ứng được nhu cầu vay vốn trên thị trường, nếu theo đuổi đáp ứng
được nhu cầu vốn vay sẽ phải dùng đến tối đa nguồn vốn huy động được, dự trữ ít
sẽ rất dễ dẫn tới mất khả năng thanh toán. Trong khi đó tại ngân hàng trường vốn,
hàng.
1.2.3. Các hình thức huy động vốn của ngân hàng thương mại
1.2.3.1. Căn cứ theo thời gian
Căn cứ vào kỳ hạn gửi tiền , tiền gửi sẽ được chia thành 2 loại là: tiền gửi không kỳ
hạn và tiền gửi có kỳ hạn.
- Tiền gửi không kỳ hạn: Đây là khoản tiền có thời gian gửi tiền không xác định
của khách hàng (là các cá nhân, tổ chức) có quyền rút tiền ra tại bất cứ thời điểm nào
mà không cần quy định trước. Vì đây là bộ phận tiền chỉ nhàn rỗi tạm thời, thường
25