BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BỘ MÔN CÔNG NGHỆ SINH HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ
LÂY NHIỄM Agrobacterium tumefaciens VÀO PHÔI
HỮU TÍNH THÔNG NHỰA (Pinus merkusii)
VÀ SỰ THỂ HIỆN GEN uidA
Ngành học
: CÔNG NGHỆ SINH HỌC
Sinh viên thực hiện
: NGUYỄN CAO LÊ HIỀN
Niên khóa
: 2006 - 2010
Tháng 07/2010
− Ban Giám Hiệu trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh
− Quý Thầy Cô trong Bộ môn Công nghệ sinh học, Quý Thầy Cô trực tiếp giảng dạy
đã hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập ở trường.
− TS. Vương Đình Tuấn luôn tận tình hướng dẫn con trong nghiên cứu khoa học.
Những lời thầy nói, thầy dạy sẽ là những bài học quí giá cho chặng đường phía trước
của con.
− TS. Lê Đình Đôn, Trưởng khoa Công nghệ sinh học, đã trau dồi cho con những bài
học quí giá, luôn tận tình quan tâm, giúp đỡ, thuyết phục và dẫn dắt con đến với đề tài
vô cùng lý thú này.
− Chị Lâm Ngọc Vân Thanh, người đồng hành cùng em trong suốt sáu tháng làm đề
tài. Với những kiến thức, kĩ năng chị truyền đạt cùng những lời động viên, chia sẻ
những vui buồn cùng em, chị tạo cho em thêm nhiều nghị lực và niềm vui để vượt qua
các giai đoạn khó khăn giúp em hoàn thành tốt đề tài. Trong thời gian thực hiện đề tài
chị còn dạy em rất nhiều bài học quí giá trong cuộc sống.
− Anh Nguyễn Xuân Cường - Phân viện Nghiên cứu Khoa học Lâm nghiệp Nam bộ
luôn tận tình giúp đỡ khi em gặp khó khăn trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
− Các bạn lớp CNSH khóa 06 động viên tôi rất nhiều trong thời gian làm đề tài.
− Người bạn thân thiết của tôi - Lý Sơn Tùng vì sự nhiệt tình và những nổ lực không
mệt mỏi của bạn, bạn luôn bên cạnh ủng hộ, động viên giúp tôi lấy lại niềm tin và
thăng bằng những lúc tôi gặp khó khăn nhất.
− Cảm ơn hai chị và em trai của tôi vì mọi người rất tin tưởng vào tôi.
− Cuối cùng, con xin gửi tới ba má, Nguyễn Thông và Lê Thị Sen lòng biết ơn… vì
tất cả những gì ba má đã giành cho con.
Tp. Hồ Chí Minh ngày 14 tháng 07 năm 2010
Nguyễn Cao Lê Hiền
i
SUMMARY
The title of graduation thesis is “Investigation of some factors affecting
transformation of Bt gen in zygotic embryos of Pinus merkusii mediated by
Agrobacterium tumefaciens”. This thesis was supervised by Dr. VUONG DINH
TUAN. The work was carried out from January to June 2010 at Nong Lam university.
Pinus merkusii (Jungh et de Vriese) is one of the few truly tropical pine species
of the world with great ecological and economic importances. Especially, this species
give high content of resin with a high economic value in many different industries. Our
country has the potential to grow, exploitation and processing of resin. However,
recently years, thousand hectare P.merkusii were severely demaged by an epidemic of
Dendrolimus Punctatus insect in several provines such as Nghe An, Thanh Hoa,
Quang Ninh…
It is therefore, development of Pinus variety resistant to Dendrolimus insect is a
very critical requirement for improving this highly economic value species. Traditional
breeding programe can help to develop such a variety. However, the method is
required time and labour. Recent successful results in application of gene
transformation technique in several agriculture and forestry species imply that this
technique can be applied to improve resistance of Pinus merkusii using Agrobacterium
tumefaciens. This study aims at finding out some factors affecting transformation of Bt
gene in zygotic embryos of Pinus merkusii mediated by Agrobacterium tumefaciens
Our result showed that kanamycin at 40 mg.l-1 can be used as a lethal threshold
level for selection of stable transformation. Concentration of Agrobacterium
tumefaciens at OD600nm = 0,9 gave the highest ratio of GUS expression on the
transformed embryos. Timentin at 600mg.l-1 could be used to eliminate excess
Agrobacterium tumefaciens after transformation. Transformants are under selection
process on kanamycin containing medium.
2.1.5.2. Ở Việt Nam......................................................................................................... 5
2.1.6. Tình hình nghiên cứu chuyển gen trên Pinus trong nước và thế giới ................... 5
2.1.6.1. Trên thế giới ....................................................................................................... 5
2.1.6.2. Ở Việt Nam......................................................................................................... 7
2.2. Giới thiệu chung về chuyển gen thực vật ................................................................. 7
2.2.1. Định nghĩa chuyển gen .......................................................................................... 7
2.2.2. Thực vật chuyển gene ............................................................................................ 7
iv
2.2.3. Tóm tắt lịch sử phát triển của công nghệ chuyển gen thực vật ............................. 9
2.2.4. Các phương pháp chuyển gen vào thực vật ......................................................... 10
2.3. Chuyển gen bằng vi khuẩn A. tumefaciens............................................................. 11
2.3.1. Giới thiệu đặc điểm nuôi cấy vi khuẩn Agrobacterium tumefaciens ................ 11
2.3.2. Những nghiên cứu về chuyển gen thông qua A.tumefaciens .............................. 11
2.3.3. Các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chuyển gen bằng A. tumefaciens ............ 15
2.3.4. Chuyển gen ở cây có quả hình nón thông qua vi khuẩn A.tumefaciens .............. 16
Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...................................... 17
3.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm............................................................................ 17
3.2. Vật liệu ................................................................................................................... 17
3.2.1. Đối tượng thí nghiệm .......................................................................................... 17
3.2.2. Hóa chất sử dụng ................................................................................................. 17
3.2.3. Vi khuẩn A.tumefaciens ....................................................................................... 17
3.2.4. Môi trường nuôi cấy ............................................................................................ 17
3.3. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................................ 18
3.3.1. Bố trí thí nghiệm .................................................................................................. 18
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ .......................................................................... 34
5.1. Kết luận................................................................................................................... 34
5.2. Đề nghị ................................................................................................................... 34
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................. 35
PHỤ LỤC
vi
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BA: 6-Benzyl Adenin
Ctv: Cộng tác viên
DNA: Deoxyribonucleic acid
GUS: enzyme β-glucuronidase
LB: Luria Bertani broth, 1951
µg: Microgam
µl: Microlitre
µM: Micromol/litre
OD: Optical density
TE: Tang et al, 1998
T-DNA: Transferring DNA
UidA: β-glucuronidase gene
vii
viii
Chương 1 MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Thông là một trong những nguồn tài nguyên thực vật quí giá của nước ta. Thông
không những là nguồn cung cấp gỗ với tỉ lệ cellulose cao (trên 62%), mà còn là chiếc
máy lọc không khí khổng lồ, điều hòa khí hậu, điều hòa nước. Bên cạnh đó, thông còn
là cây có tiềm năng trong việc phủ xanh đất trống đồi trọc, bảo vệ và ngăn chặn gió
bão, chống xói mòn. Quan trọng hơn hết, thông là một loại cây cung cấp nhựa có giá
trị kinh tế rất cao. Nhựa thông tinh khiết chứa 13 - 20% tinh dầu và 68 - 70% tùng
hương (colophan) được ứng dụng trong rất nhiều ngành công nghiệp khác nhau.
Ở nước ta, thông nhựa là loài thông được trồng nhiều nhất và cung cấp nhựa nhiều
nhất trong 6 loài thông (cây 15 - 20 tuổi bắt đầu cho nhựa, bình quân 4 – 6,5
kg/cây/năm và có thể khai thác trong 40 - 50 năm). Tuy nhiên, trong khoảng 10 năm
trở lại đây, sản lượng nhựa thông đang giảm sút trầm trọng do các dịch sâu hại từ
thông đuôi ngựa lây lan sang. Trong đó, nổi bật và nghiêm trọng nhất là dịch sâu róm
làm hàng ngàn hecta thông nhựa bị tàn phá. Hàng năm trên thế giới tốn rất nhiều chi
phí trong việc phòng trừ sâu hại (trong năm 2000 tổng chi phí thuốc trừ sâu hóa học
trên toàn thế giới là gần 5 tỷ đôla). Hơn nữa, việc phòng trừ dịch hại này thường gây ô
nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng. Tại Campuchia, Indonesia, Lào,
Philippines và Thái Lan, Pinus merkusii là một loài cây bị đe dọa mà có thể được tìm
thấy trong danh sách các loài ưu tiên cho việc bảo tồn (Koskela và ctv, 2002).
Nghiên cứu chuyển nạp gen Bt (từ Bacillus thuringiensis) vào cây thông để cây tự
sản sinh các protein gây chết sâu hại đang rất được ứng dụng trong tạo giống kháng
sâu ở nhiều loài cây nông nghiệp và lâm nghiệp. Một khi được mang gen Bt, cây sẽ
+ Khảo sát ảnh hưởng của phương pháp gây vết thương cơ giới đến quá
trình lây nhiễm
+ Khảo sát ảnh hưởng của nồng độ vi khuẩn và thời gian lây nhiễm đến
quá trình biến nạp
(III) Xác định nồng độ timentin thích hợp để loại vi khuẩn dư sau lây nhiễm
(IV) Nghiên cứu chọn lọc vật liệu biến nạp gen trên môi trường chọn lọc bền vững.
Giới hạn của đề tài:
Thông nhựa là loài cây lâu năm nên yêu cầu thời gian dài để tạo chồi từ phôi trong điều kiện
in vitro, nhưng thời gian thực hiện đề tài có hạn (từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2010), vì thế chúng tôi
không có đủ thời gian để tái sinh chồi từ các vật liệu này mà chỉ theo dõi được tỉ lệ thể hiện gen
GUS sau khi chuyển gen Bt và bước đầu theo dõi vật liệu chuyển gen trên môi trường chọn lọc.
2
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Giới thiệu chung về thông nhựa
2.1.1. Phân loại
Tên tiếng Anh
Sumatran Pine
Tên khoa học
Pinus merkusii
Pinus
Loài
P. merkusii
2.1.2. Phân bố
Thông nhựa là loài thông nhiệt đới. Thông nhựa có phân bố tự nhiên trải rộng
theo phía Nam đường xích đạo và là cây đặc hữu của vùng khí hậu nhiệt đới Đông
Nam Á: Trung Quốc (đảo Hải Nam), Myanma, Thái Lan, Lào, Việt Nam, Campuchia,
Indonesia (đảo Sumatra, namely Aceh, Tapanuli và Kerinci) và Philippin (đảo Luzon
và Mindoro) (Rajendra và ctv, 2008; Iskandar Z. Siregar và ctv, 1999). Ở Việt Nam,
thông nhựa phân bố trong một vùng rộng lớn hay tập trung thành những nhóm nhỏ ở
nhiều tỉnh nhưng chủ yếu là ở hai tỉnh Kon Tum và Lâm Đồng. Vùng phân bố rộng
nhất được phát hiện ở tây bắc Thái Lan, đông nam Mianma, và phía bắc Sumatra
(Nghĩa và ctv, 2005). Ngoài ra thông nhựa còn được tìm thấy ở một vùng lãnh thổ
rộng từ đông nam Ấn Độ đến miền nam Tây Tạng, có vùng phân bố rộng từ vài mét
đến hơn 1800 m so với mực nước biển (Rajendra và ctv, 2008). Thông nhựa được tìm
thấy ở nhiều loại đất và vùng khí hậu khác nhau, là loài cây thích nghi với lửa và mùa
khô hạn (Cooling, 1968).
3
2.1.3. Đặc điểm sinh thái
Thông nhựa là cây gỗ lớn, lá hình kim màu xanh, cao 25 - 45 m với độ dài cành
4
dinh dưỡng, do đó thông còn là loại cây tiên phong trồng rừng ở những nơi đất khô
cằn, giúp phủ xanh đất trống đồi trọc, chắn gió và cát, chống xói mòn, phòng giữ được
lửa cháy trong giai đoạn cây non, thanh lọc không khí (tạo ra 5 - 7 tấn O2, giữ lại 30 70 tấn bụi, hấp thụ 3 - 7 tấn CO2/ha/năm) tạo nên tiểu khí hậu ôn hòa có lợi cho người
bệnh trong việc điều dưỡng, phục hồi sức khỏe. Thông nhựa hình dáng đẹp, mùi nhựa
tỏa thơm nên còn được trồng làm cây phong cảnh cho các khu vực nghỉ mát, an dưỡng,
danh lam thắng cảnh….(Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, nhóm tác giả, 2002).
2.1.5. Tình hình sản xuất và tiêu thụ trong nước và trên thế giới
2.1.5.1. Trên thế giới
Theo số liệu của tổ chức FAO (năm 1994) sản lượng nhựa thông thế giới đạt
khoảng 1,2 triệu tấn, trong đó khoảng 60% là Colophan và 35% tinh dầu thông. Các
nước có tiềm năng xuất khẩu lớn loại sản phẩm này như Trung quốc (277.000 tấn),
Indonexia (46.000 tấn), Bồ đào nha (26.000 tấn)…. Nga, Mỹ và Brazin là những nước
có sản lượng lớn nhưng sản phẩm chủ yếu tiêu thụ nội địa. Nhu cầu về sản phẩm này
luôn gia tăng theo xu hướng phát triển của các ngành công nghiệp phụ trợ.
2.1.5.2. Ở Việt Nam
Theo số liệu báo cáo của các địa phương (Bộ NN&PTNT, năm 2005) tổng diện
tích rừng thông toàn quốc khoảng 194.721 ha, trong đó diện tích thông nhựa toàn quốc
khoảng 90.000 ha phân bố thành những vùng rộng hay những nhóm nhỏ ở nhiều tỉnh
của Việt Nam chủ yếu tập trung ở hai tỉnh Kon Tum và Lâm Đồng, miền Trung (Hà
Tĩnh, Nghệ An) và một số ở các tỉnh Đông Bắc Bộ như Quảng Ninh.
Tuy với diện tích lớn có thể cho khoảng 500.000 tấn nhựa/năm nhưng tình hình
chế biến nhựa thông nước ta hiện còn khá hạn chế, về năng lực chế biến mới đáp ứng
được khoảng 15.000 tấn/năm.
cây rừng nói chung và chi thông nói riêng. Nhiều loài thông đã được nghiên cứu
chuyển gen như P. radiata, P. pinea, P. abies… bằng nhiều phương pháp khác nhau
nhưng chủ yếu đều biến nạp gen trực tiếp bằng súng bắn gen hay gián tiếp thông qua
A. tumefaciens (Malabadi và Nataraja, 2007). Pinus radiata là cây chuyển gen Bt
thành công và được thương mại hoá.
Phương pháp chuyển gen trực tiếp bằng súng bắn gen đã được báo cáo ở một số
loài Picea abies, Picea glauca, Picea mariana và Pinus radiata (Walter và ctv, 1998),
Pinus roxbughii , P. wallichiana (Malabadi và Nataraja, 2007).
Chuyển gen bằng súng bắn gen được thực hiện trên cây một lá mầm và một số
loại cây rừng, tuy nhiên đối với cây cho quả hình nón phương pháp này hiệu quả
không ổn định, đồng thời số phiên bản tạo ra quá nhiều, gen không biểu hiện. Tuy hiệu
quả ban đầu cao nhưng không tạo ra được cây chuyển gen ổn định bằng phương pháp
gián tiếp. Ngược lại, phương pháp gián tiếp dùng A. tumefaciens cho số phiên bản
không nhiều, hiệu quả chuyển gen lâu dài, đây là một phương pháp được ưu tiên sử
dụng cho mục đích tạo giống cây rừng (Tang, 2001; Poupin và Johnson, 2005).
Theo Tang (2000), biến nạp gen thành công vào phôi hữu tính thông Loblolly
(P. tadae L.) nhờ vào vi khuẩn A. tumefaciens. Sau đó, năm 2002, Tang báo cáo đã
6
chuyển thành công gen chịu mặn bằng vi khuẩn A. tumefaciens dòng LBA 4404 mang
plasmid pBIGM chứa mannitol-l-phosphate dehydrogenase (MtlD) và glucitol-6phosphate dehydrogenase (GutD) vào phôi hữu tính thông lobolly (P. tadae L.) tạo
được mô sẹo có khả năng chịu độ mặn cao và tái tạo ra cây con. Bên cạnh đó, khi đồng
nuôi cấy vi khuẩn A. tumefaciens với phôi các loài thông (Pinus pisnaster, P. strobus,
P. tadae, P. radiata) cho hiệu quả biến nạp gen cao (Trontin và ctv, 2007).
Phương pháp bắn gen Bt (Cry1Ac) vào phôi hữu tính thông loblolly (Pinus
lithium acetate. Tuy nhiên, đối với phần lớn sinh vật bậc cao cần phải có các phương
pháp khác tinh vi hơn. Chuyển gen ở thực vật đã phát triển cùng với sự phát triển của
các kỹ thuật nuôi cấy mô và tế bào thực vật. Nó đã trở thành phương tiện quan trọng
để nghiên cứu cơ bản trong sinh học thực vật. Ngoài việc mở ra triển vọng chuyển các
gen có ý nghĩa kinh tế vào cây trồng, các kỹ thuật này còn cho phép nghiên cứu cấu
trúc và điều khiển hoạt động của gen. Quá trình đưa một DNA ngoại lai vào genome
(hệ gen) của một sinh vật được gọi là quá trình biến nạp (transformation). Những cây
được biến nạp được gọi là cây biến đổi gen (genetically modified plant-GMP).
Ứng dụng công nghệ gen trong công tác giống cây trồng hiện đại có rất nhiều
ưu điểm, chẳng hạn như:
- Biến nạp một hoặc một số gen để thu được cây mang một đặc tính mới xác định.
- Rào cản về loài không còn có tác dụng, và không chỉ các gen từ thực vật mà còn từ vi
khuẩn, nấm, động vật hoặc con người được chuyển thành công vào thực vật. Về
nguyên tắc chỉ thay đổi vùng điều khiển gen, promoter và terminator. Tuy nhiên, trong
một số trường hợp đòi hỏi những thay đổi tiếp theo như sự phù hợp codon.
- Những đặc điểm không mong muốn của thực vật. Chẳng hạn, sự tổng hợp các chất
độc hoặc chất gây dị ứng có thể được loại trừ bằng công nghệ gen.
- Thực vật biến đổi gen có thể là lò phản ứng sinh học (bioreactor) sản xuất hiệu quả
các protein và các chất cần thiết dùng trong dược phẩm và thực phẩm.
- Mở ra khả năng nghiên cứu chức năng của gen trong quá trình phát triển của thực vật
và các quá trình sinh học khác.
- Trong lai tạo giống hiện đại, công nghệ gen giúp làm giảm sự mâu thuẫn giữa kinh tế
và môi trường sinh thái. Bằng việc sử dụng cây trồng kháng thuốc diệt cỏ có thể giảm
được lượng thuốc bảo vệ thực vật.
Mục đích của nông nghiệp hiện đại không chỉ là tăng năng suất mà còn hướng
đến những lĩnh vực quan trọng sau:
+
Năm
1980
1983
1984
1985
1986
1987
1989
1990
1991
1994
1998
1999
Sự kiện
Lần đầu tiên DNA ngoại lai (transposon Tn7) được chuyển vào thực vật nhờ
A.tumefaciens, tuy nhiên T-DNA vẫn chưa được thay đổi
T-DNA đã được biến đổi và đưa DNA ngoại lai vào, tạo ra tính kháng một số
chất kháng sinh. Các gen tạo khối u được cắt ra, DNA ngoại lai cùng với
phần còn lại được chuyển vào thực vật và được biến nạp. Từ kết quả này số
lượng các loài được biến nạp ngày càng tăng.
Biến nạp bằng tế bào trần (protoplast) ở ngô. DNA được đưa vào tế bào trần
nhờ polyethylene glycol (PEG) hoặc xung điện
Lần đầu tiên cây biến đổi gen được mô tả có tính kháng thuốc diệt cỏ
Lịch sử phát triển công nghệ gen của thực vật có rất nhiều sự kiện quan trọng.
Bảng 2.1 chỉ nêu lên những mốc có ý nghĩa đặc biệt nhằm làm rõ sự phát triển rất
nhanh của lĩnh vực này.
Trong năm 2002 – 2003, công nghệ chuyển gen thực vật tập trung chủ yếu vào
bốn mục đích: kháng sâu, kháng thuốc trừ cỏ, tăng cường phẩm chất và kháng bệnh.
Bảng 2.2 Các tính trạng chuyển gen được quan tâm nhất
Tính trạng
Năm 2002 – 2003 (%)
Kháng sâu
31%
Kháng thuốc trừ cỏ
29%
Tăng cường phẩm chất
16%
Kháng bệnh
7%
Cẩm chướng
Cây kiwi
Đu đủ
Táo
Cà rốt
Rau diếp
Đỗ
Arabidopsis
Ngô
Cây cam thảo
Lạc
Măng tây
Bông
Hoa ly
Lê
Cây dương
Cải dầu
Nho
Hoa lan
Cây chuối lá
Khoai tây
Mía
Cỏ đuôi trâu cao
Hướng dương
Lúa
Khoai lang
Lúa mạch
Cà chua
Lúa miến
Thuốc lá
2.3.2. Những nghiên cứu về chuyển gene thông qua A.tumefaciens
Trước đây, người ta thường chuyển gen gián tiếp thông qua A.tumefaciens để
tạo cây biến đổi gen. Hiệu quả của phương pháp chuyển gen gián tiếp thông qua
A.tumefaciens đã được thiết lập chủ yếu trên cây hai lá mầm. Có rất nhiều tính trạng
mới đã được tạo ra và biến đổi ở một số loài cây nông nghiệp như cây ăn quả và lâm
nghiệp như cây lấy gỗ, hầu hết các tính trạng mới này có giá trị thương mại cao. Qua
bảng 2.4, Poupin và ctv đã thống kê một số gen đã được đưa vào một số loài cây nhờ
phương pháp chuyển gen gián tiếp thông qua A.tumefaciens.
11
Bảng 2.4 Các cây được biến nạp gián tiếp qua A.tumefaciens
Loài
Mô
Táo
(Malus Đĩa lá
domestica Borkh)
Táo
Đĩa lá
Kỹ thuật
Gene
uidA
Gartland et al. Sự biểu hiện chuyển gene ổn định
2000
A.tumefaciens
Táo (cvs. Elstar và ND
Holsteiner)
A.tumefaciens
Bơ
Phôi soma
A.tumefaciens
Cây có múi
Chồi
A.tumefaciens
Cây du Anh (Ulmus
procera), cây dẻ
châu Âu
ND
A.tumefaciens
Mô
Kĩ thuật
Gene
Tác giả
Lê
Lá
A.tumefaciens
uidA
Pinus pinea
Lá mầm
A.tumefaciens
uidA
Pinus radiata
Pinus strobes
Phôi soma
Mô phôi
ND
A.tumefaciens
Nở hoa: gen LEAFY và Rottmann
PTLF
2000
Robinia
pseudoacacia
Cây cao su (Hevea
brasiliensis)
Đoạn thân và A.tumefaciens
đĩa lá
Khối sẹo
A.tumefaciens
et
Những cây chuyển gen giảm được sự
xâm nhiễm của septoria musiva.
al. Ra hoa sớm và biến đổi mô phân sinh
trong 2/19 dòng gỗ dương biểu hiện
PTLF từ Populus trichocarpa.
Kĩ thuật
Gene
Cây cao su
Khối sẹo
A.tumefaciens
Cây cam chua (citrus
aurantium)
Sẹo hóa gỗ
A.tumefaciens
Tác giả
Đề
kháng
sự
stress Jayashree et al.
oxidative: sự biểu hiện cơ 2003
bản của gen superoxide
dismutase
Protein virus tristeza của Ghorbel et al. 2000
cam bao phủ gene
M. josefina Poupin và Patricio Arce-Johnson*, 2004
ND: data not shown
tính độc cao như pTOK47 và hợp chất của phenol: acetosyringone (AS). Vi khuẩn
thường bám vào bề mặt vết thương dẫn đến sự tạo bướu, sản phẩm của gen vir là hợp
chất của phenol tiết ra tại vết thương hỗ trợ cho quá trình gây độc của vi khuẩn đối với
tế bào chủ. Hợp chất này làm tăng hiệu quả chuyển gen ở nhiều loài.
Patnalk và ctv (2006) đã sử dụng A. tumefaciens dòng LBA4404 mang pBI10
OD600nm = 0,5; đồng nuôi cấy hai - ba ngày với phôi trưởng thành của Triticum
aestivum, Triticum durum có bổ sung AS 200 µM cho hiệu quả chuyển gen là 5,57%.
Ở Casuarinaceae, đồng nuôi cấy ba ngày epicotyls từ cây con Casuarina glauca 45
ngày tuổi với vi khuẩn Agrobacterium tumefaciens dòng C58C1 (pGV2260; pBIN35Sgus-int) ở pH = 5,6 trong môi trường có 50 mg/l kanamycin và 250 mg/l cefotaxime.
Sau hai tháng nuôi cấy trên môi trường dinh dưỡng có bổ sung chất kích thích tăng
trưởng và kháng sinh 26% epicotyls tạo được mô sẹo trên môi trường có kháng sinh và
95% mô sẹo đều thể hiện GUS.
15