BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG CUỘC SỐNG CỦA MỘT CỘNG
ĐỒNG DÂN TỘC K’HO TẠI XÃ N’THÔL HẠ - HUYỆN
ĐỨC TRỌNG - TỈNH LÂM ĐỒNG
LƠMU THA MYEN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỂ NHẬN VĂN BẰNG CỬ NHÂN
NGÀNH PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 07/2007
Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trường Đại
Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “Khảo sát hiện trạng cuộc
sống của một cồng đồng dân tộc K’Ho tại xã N’Thôl Hạ, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm
Đồng” do Lơmu Tha MyEn, sinh viên khóa 29, chuyên ngành Phát triển nông thôn và
khuyến nông, đã bảo vệ thành công trước hội đồng vào ngày……………………...
Trần Đắc Dân
Người hướng dẫn
________________________
Ngày
Chủ tịch hội đồng chấm báo cáo
UBND xã N’Thôl Hạ đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi trong qúa trình thu thập thông
tin để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Tất cả bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập tại trường.
Gửi lời chúc sức khỏe đến tất cả mọi người!
Sinh viên
Lơmu Tha MyEn
NỘI DUNG TÓM TẮT
LƠMU THA MYEN. Tháng 07 năm 2007 “Khảo Sát Hiện Trạng Cuộc Sống
Của Một Cộng Đồng Dân Tộc K’Ho tại Xã N’Thôl Hạ, Huyện Đức Trọng, Tỉnh
Lâm Đồng”.
LƠMU THA MYEN. July 2007 “ Livelihood Survey of a K’Ho Community
in N’Thol Ha Commune, Duc Trong District, Lam Dong Province”.
Khóa luận nhằm tìm hiểu về thực trạng đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của
một cộng đồng người dân tộc thiểu số K’Ho trên cơ sở phân tích số liệu điều tra 60 hộ
trên địa bàn xã N’Thôl Hạ, huyện Đức Trọng, Tỉnh Lâm Đồng. Thông qua tìm hiểu đó
tìm ra những thuận lợi và khó khăn cũng như những nguyên nhân chính dẫn đến đói
nghèo trong người dân. Từ đó đề xuất một số giải pháp giảm nghèo, tăng thu nhập, góp
phần cải thiện đời sống cho người dân.
N’Thôl Hạ là một xã đặc biệt khó khăn với hơn 80% đồng bào dân tộc K’Ho
bản địa sinh sống, là một xã được thiên nhiên ưu đãi về tài nguyên đất đỏ bazan, nằm
trong vùng có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới nên có tiềm năng về sản xuất hàng hóa
với các cây trồng như cà phê, dâu tằm và các loại hoa, rau màu phục vụ nhu cầu trong
nước và xuất khẩu.
Qua điều tra khảo sát thực tế cho thấy đời sống vật chất, sản xuất và tinh thần
của bà con người dân tộc tại xã còn nhiều khó khăn, thiếu thốn. Vấn đề thiếu vốn phải
đi vay non, thiếu việc làm và nghèo đói là tình trạng phổ biến trong người dân. Điều đó
sẽ ảnh hưởng nhiều đến công tác xóa đói giảm nghèo tại xã cũng như công tác giữ gìn
trật tự an ninh, an toàn xã hội và bảo vệ môi trường.
1
1.2. Mục tiêu, ý nghĩa của đề tài
2
1.2.1. Mục tiêu chung
2
1.2.3. Ý nghĩa của khóa luận
2
1.2.4. Nội dung nghiên cứu
2
1.3. Phạm vi nghiên cứu
3
1.4. Cấu trúc khóa luận
3
CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN
4
9
2.3. Điều kiện kinh tế xã hội
10
2.3.1. Dân số và lao động
10
2.3.2. Tình hình đời sống
11
2.3.3. Giáo dục và đào tạo
12
2.3.4. Y tế
13
2.3.5. Cơ sở hạ tầng
13
2.3.6. Hiện trạng sản xuất nông, lâm nghiệp
14
4.1. Công tác định canh, định cư
23
25
25
4.1.1. Tình hình định cư
26
4.1.2. Nhà ở của nhóm hộ điều tra
26
4.1.3. Tiện nghi sinh hoạt của nông hộ
26
4.1.4. Nhận thức của người dân
30
4.2. Hiệu quả của công tác định cư tại xã N’Thôl Hạ
33
4.2.1. Hiệu quả về mặt xã hội
33
45
4.5.2. Nguyên nhân không biết làm ăn
48
4.5.3. Nguyên nhân về thời tiết, dịch bệnh
49
4.5.4. Nguyên nhân đất xấu
49
4.5.5. Nguyên nhân ít học
51
4.5.6. Chi tiêu không có kế hoạch
52
4.5.7. Thiếu việc làm
54
vi
4.5.8. Đông con
5.2. Đề nghị
58
5.2.1. Đối với các cấp chính quyền và Nhà nước
58
5.2.2. Đối với người dân
59
TÀI LIỆU THAM KHẢO
61
PHỤ LỤC
vii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BQ
Bình quân
ĐT-TTTH
Điều tra và tính toán tổng hợp
6
Bảng 2.2. Phân Loại Đất Xã N’Thôl Hạ
8
Bảng 2.3. Hiện Trạng Sử Dụng Đất Xã N’Thôl Hạ Năm 2006
9
Bảng 2.4. Tình Hình Dân Số Xã N’Thôl Hạ Năm 2006
10
Bảng 2.5. Lao Động Trong các Ngành Nghề Xã N’Thôl Hạ Giai Đoạn 2004-2006
11
Bảng 2.6. Tình Hình Giáo Dục Năm 2005-2006 Xã N’Thôl Hạ
12
Bảng 2.7. Diện Tích và Sản Lượng Cây Trồng của Xã Năm 2006
15
Bảng 2.8. Tình Hình Chăn Nuôi Qua các Năm 2004-2006
16
37
Bảng 4. 9. Kết Quả - Hiệu Quả Sản Xuất Cây Bắp Bình Quân/Ha/Vụ
38
Bảng 4.10. Kết Quả, Chi Phí Sản Xuất Bình Quân của 1 Ha Cà Phê Niên Vụ 2006 40
Bảng 4.12. Tổng Hợp Thu Nhập Bình Quân/Hộ/Năm
41
Bảng 4.13. Phần Trăm Phân Phối Thu Nhập
42
Bảng 4.14. Bảng Cho Điểm Nguyên Nhân Nghèo Đói
44
Bảng 4.15. Tình Hình Cung Ứng Vốn Vay
45
Bảng 4.16. Tình Hình Sử Dụng Vốn Vay
47
Bảng 4.17. Tình Hình Sử Dụng Đất của Nông Hộ
Hình 4.2. Hình Biểu Hiện Cơ Cấu Đời Sống Nông Hộ
30
Hình 4.3. Tình Hình Thay Đổi Đời Sống Hộ Điều Tra
31
Hình 4.4. Lịch Thời Vụ Một Số Cây Trồng, Vật Nuôi Chính Trong Xã
35
Hình 4.5. Giản Đồ Lorenz Trong Phân Phối Thu Nhập
43
Hình 4.6. Nguyên Nhân Nghèo Đói theo Sự Trình Bày của Người Dân
44
Hình 4.7. Cơ Cấu Nghành Nghề của Hộ Điều Tra
48
Hình 4.8. Cơ Cấu Đất Sản Xuất của Hộ Điều Tra
51
Hình 4.9. Cơ Cấu Ngành Nghề Phi Nông Nghiệp các Hộ Điều Tra
trí thấp nên khó tiếp cận được với tiến bộ khoa học kĩ thuật. Sự di cư của đồng bào các
dân tộc nơi khác đến tây nguyên lập nghiệp và chính sách đóng cửa rừng của Nhà
nước vào năm 1994 đã làm cho quỹ đất canh tác vốn dựa vào đất rừng của đồng bào bị
thu hẹp và đời sống gặp khó khăn hơn trước. Nền kinh tế thị trường, hàng hoá có thể
giúp phát triển nhanh về kinh tế xã hội nhưng cũng có thể làm gia tăng sự phân hoá
giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư và các vùng tăng lên. Làm thế nào để giúp đồng
bào ổn định cuộc sống và thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu để theo kịp bước phát triển
chung của đất nước. Đó là trách nhiệm không của riêng các cấp, các nghành, đoàn thể
mà là trách nhiệm chung của mỗi chúng ta.
N’Thôl Hạ là một xã được Nhà nước xếp vào diện đặc biệt khó khăn với hơn
80% đồng bào dân tộc bản địa sinh sống. Ổn định và nâng cao đời sống cho đồng bào
sẽ góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của địa phương cũng như đảm bảo an
ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của Lâm Đồng nói riêng và cả khu vực Tây
Nguyên nói chung. Để tìm hiểu rõ hơn về thực trạng đời sống vật chất, tinh thần và sản
xuất của đồng bào như thế nào? Tôi quyết định chọn đề tài: “KHẢO SÁT HIỆN
TRẠNG CUỘC SỐNG CỦA MỘT CỒNG ĐỒNG DÂN TỘC K’HO TẠI XÃ N’THÔL
HẠ, HUYỆN ĐỨC TRỌNG, LÂM ĐỒNG”
1.2. Mục tiêu, ý nghĩa của đề tài
1.2.1. Mục tiêu chung
Tìm hiểu thực trạng về đời sống vật chất, tinh thần và cả sản xuất của đồng bào
dân tộc K’Ho tại xã N’Thôl Hạ. Đây là một thành phần chiếm hơn 80% dân số toàn
xã.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể.
- Tìm hiểu hiện trạng cuộc sống của đồng bào: những thuận lợi và khó khăn .
- Tìm hiểu các hoạt động sản xuất nông nghiệp của đồng bào.
- Đánh giá hiệu quả, kết quả của công tác định canh, định cư .
- Xác định nguyên nhân chính vì sao tồn tại phổ biến tình trạng nghèo và tái
nghèo ở địa phương.
rõ hơn về tình hình đời sống vật chất và tinh thần và sản xuất của cộng đồng này hiện
nay như thế nào.
1.4. Cấu trúc khóa luận
Khóa luận gồm năm chương:
Chương 1: Đặt vấn đề
Chương 2: Tổng quan
Chương 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 5: Kết luận và đề nghị
3
CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN
2.1. Vài nét về xã N’Thôl Hạ
Xã N’Thôl Hạ trước năm 1945 chỉ có 3 cộng đồng nhỏ người dân tộc K’Ho Srê
bản địa sinh sống thuộc thôn 2 (Buôn Klong Tum), thôn 4 (Buôn N’Hòng) và thôn 5
(Buôn Kô Glam) với hệ thống canh tác lúa nước và chăn nuôi trâu là chủ yếu. 1Cuộc
sống của người dân thời kì này còn mang đậm dấu ấn văn hóa truyền thống đặc trưng
và phong phú của người dân tộc thiểu số Tây nguyên. Cấu trúc nhà ở là nhà sàn dài
với nhiều thế hệ thành viên trong gia dình, dòng họ cùng quay quần bên nhau sinh
sống theo chế độ thị tộc mẫu hệ. Các lễ hội như lễ mừng lúa mới, lễ cúng cầu sức
khỏe.v.v. thường xuyên được tổ chức hàng năm. Các lễ hội đám cưới, ma chay thường
kéo dài 2, 3 ngày và đôi khi cả tuần với rất nhiều tốn kém. Do lối sống lạc hậu với
phong tục cổ hủ, mất vệ sinh và bệnh tật nên dân số của người K’Ho Srê giai đọan này
hầu như không tăng .
Những năm 60, 70 của thế kỉ 20 với chính sách dồn dân lập ấp chiến lược của
chính quyền Mỹ, Ngụy và nhằm lôi kéo người dân tộc thiểu số chống lại cách mạng.
Xã N’Thôl Hạ là một xã thuộc vùng 3, vùng đặc biệt khó khăn, đời sống kinh tế
xã hội của bà con nông dân ở mức thấp, tỉ lệ hộ đói nghèo chiếm cao so với toàn
huyện, là một xã nằm dọc Quốc lộ 27 cách thị trấn Liên Nghĩa khoảng 12 km, với vị
trí địa lí cụ thể:
Về tọa độ địa lí:
- Từ 11043’12.72” đến 11048’55.44” vĩ độ bắc.
- Từ 108017’18.96” đến 108047’.4” kinh độ đông.
Về ranh giới hành chính:
- Phía bắc giáp với huyện Lâm Hà.
- Phía đông giáp với xã Liên Hiệp.
- Phía đông nam giáp với thị trấn Liên Nghĩa.
- Phía tây nam giáp với xã Tân Hội.
- Phía tây giáp với xã Bình Thạnh.
5
Xã N’Thôl Hạ có 6 thôn gồm: từ 1 đến 6
Có tổng diện tích tự nhiên là 3.530 ha, chiếm 3,91% diện tích tự nhiên của toàn
huyện, diện tích đất nông nghiệp là 2.336,92 ha, chiếm 66,49% diện tích tự nhiên toàn
xã, đất lâm nghiệp có 363,93 ha, chiếm 10,30% diện tích tự nhiên của xã, còn lại là đất
chuyên dùng và đất chưa sử dụng.
2.2.2. Địa hình
Cao độ tuyệt đối lớn nhất 1.232 m là đỉnh núi phía tây bắc, giáp với xã Liên
Hiệp, thấp nhất khoảng 835 m ven sông Cam Ly ở thôn 2, giáp với xã Bình Thạnh.
Nhìn chung địa hình thấp dần từ đông sang tây, khu vực phía bắc và đông bắc
là vùng núi cao, cao độ tuyệt đối trung bình khoảng 950 m, độ dốc lớn trên 25o, mức
độ chia cắt mạnh. Phía nam là vùng núi thấp, cao độ tuyệt đối trung bình khoảng 900
m, mức độ chia cắt trung bình, độ dốc nhỏ hơn 26o. Đây là vùng đất sản xuất nông
nghiệp của xã.
2.2.3. Khí hậu và thời tiết
Cực tiểu
21,1
30,2
6,4
25,7
28,2
24,0
2.343,4
-
-
1.644,9
-
-
Số ngày mưa trung bình/năm
128,7
-
-
9
Số ngày sương mù/năm
13,0
-
-
Nguồn tin: Trạm khí tượng Liên Khương
6
- Lượng mưa: Tại trạm khí tượng Liên Khương lượng mưa trung bình năm là
1.645 mm, lượng mưa thấp dần từ tây sang đông và từ bắc xuống nam. Các xã phía
đông nam của huyện Đức Trọng lượng mưa trung bình năm khoảng 1.500 mm.
Mùa mưa kéo dài từ giữa tháng 4 đến giữa tháng 11, tiếp theo là mùa khô cho
đến cuối tháng 3 năm sau. Theo đúng quy luật của khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích
đạo, lượng mưa hàng năm biến đổi rõ rệt theo mùa. Vào mùa khô, lượng mưa trung
bình hàng tháng chỉ khoảng 19-90 mm nhưng tăng lên tới 200-285 mm trong những
tháng mùa mưa. Sự phân bố theo mùa của lượng mưa gây rất nhiều khó khăn cho việc
sử dụng đất nông nghiệp do ngập lũ trong mùa mưa ở những ở vùng thấp và thiếu
nước tưới trong mùa khô.
- Nhiệt độ không khí: Nhiệt độ trung bình năm khoảng 21-220C, trung bình
Tỉ lệ (%)
Nhóm đất phù sa
P
157,64
4,46
Nhóm đất xám, bạc màu
X
689,30
19,53
Nhóm đất đen
R
451,65
12,80
Nhóm đất đỏ vàng
F
Nguồn tin: Phòng địa chính xã N’Thôl Hạ
Từ bảng 2.2 về phân loại đất của xã ta có những nhận xét sau đây:
- Nhóm đất phù sa suối (Py): Có diện tích 157,46 ha, chiếm 4,46% diện tích tự
nhiên, là loại đất non trẻ, được hình thành bởi phù sa các con sông, suối chảy trong
vùng (Sông Cam Ly, suối Da Mê, suối Da la Rou, Da Tah’re). Đất này thích hợp cho
trồng hoa màu, dâu tằm.
- Đất xám, bạc màu (X): Có diện tích 689,30 ha, chiếm 19,53% diện tích tự
nhiên gồm 3 loại đất: xám trên đá granit, xám trên cát và đất dốc tụ bạc màu. Phân bố
ở ven chân đồi thích hợp cho canh tác nông lâm kết hợp, cây ngắn ngày, hoa màu, rau
mùa khô và lúa mùa mưa.
- Nhóm đất đen (Ru): Có diện tích 451,65 ha, chiếm 12,80% diện tích tự nhiên,
phân bố ở địa hình thấp trũng, được hình thành từ sản phẩm bồi tụ của đất bazan, ngập
nước trong mùa mưa. Đất này thích hợp cho trồng 2 vụ lúa nước trong mùa mưa.
- Đất đỏ vàng (F): Gồm đất nâu đỏ trên đá bazan (Fk), nâu đỏ trên đá bazan kết
von (Fkk), nâu vàng trên đá andezit (Fd), vàng đỏ trên đá granit (Fa), vàng nhạt trên đá
cát (Fq). Đất này thích hơp cho trồng cây ngắn ngày, hoa màu, lâm nghiệp.
- Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ (D): Có diện tích là 55,92 ha, chiếm 1,58%
diện tích tự nhiên, phân bố dưới các thung lũng hẹp và bằng phẳng ven chân đồi núi.
Hạn chế lớn nhất là ngập nước trong mùa mưa, đất này dùng để trồng 2 vụ lúa đông
xuân và hè thu.
8
- Đất mùn vàng đỏ trên đá granit (Ha): Diện tích 15,24 ha, chiếm 0,43% diện
tích tự nhiên toàn xã, phân bố ở độ cao trên 1.000 m, độ dốc lớn, dành cho lâm nghiệp.
2.2.6. Tình hình sử dụng đất đai
Tình hình sử dụng đất đai của xã N’Thôl Hạ năm 2006 được trình bày qua bảng
sau:
3.530,00
100,00
Đất nông nghiệp
Đất ở
Đất chưa sử dụng
Tổng diện tích
Nguồn tin: Phòng địa chính xã N’Thôl Hạ
Xem bảng 2.3 ta thấy:
- Đất nông nghiệp có 2.336,92 ha, chiếm tỉ trọng cao nhất tới 66,20% diện tích
tự nhiên, trong đó diện tích trồng cây hàng năm và cây lâu năm tương đương nhau.
- Đất lâm nghiệp có 363,43 ha, chiếm 10,30% diện tích tự nhiên, trong đó rừng
tự nhiên kém chủ yếu là rừng nghèo, rừng non phục hồi với trữ lượng thấp, còn rừng
trồng có giá trị thấp.
- Đất chuyên dùng có 177,47 ha, chiếm 5,04%, chỉ tập trung ở 3 loại đất giao
thông, đất thủy lợi và đất chuyên dùng khác.
- Đất ở chỉ có 34,42 ha, chiếm 0,98%.
- Đất chưa sử dụng có 617,26 ha, chiếm 17,49%, trong đó chủ yếu là đất đồi núi
chưa sử dụng chiếm 9,01%, và đất sử dụng khác là 5,31%. Diện tích đất bằng chưa sử
dụng còn ít (80 ha), khả năng mở rộng diện tích canh tác là hạn chế, vì vậy cần sử
dụng vốn đất hợp lí, tiết kiệm và có hiệu quả cao trong nông nghiệp. Để tăng sản
lượng cần thâm canh tăng vụ, tăng năng suất cây trồng.
9
K’Ho Srê
223
19,53
1288
20,99
Kinh
98
8,58
491
8,02
Thái
60
5,25
307
5,00
được thể hiện ở bảng sau:
10
Bảng 2.5. Lao Động Trong các Ngành Nghề Xã N’Thôl Hạ Giai Đoạn 2004-2006
Hạng mục
Năm 2004
Năm 2005
Năm 2006
3.414
3.375
3.367
3.115
3.089
3.072
- Lao động phi nông nghiệp
179
- Lao động nông nghiệp
Nguồn: Phòng thống kê xã N’Thôl Hạ
Qua bảng 2.5 thể hiện tình hình dân số và lao động trong xã giảm dần qua các
năm từ 6.542 người của năm 2004 giảm 225 người còn 6.317 người vào năm 2006. Có
sự giảm như vậy là do trong các năm này có hàng chục hộ bị di dân vào vùng kinh tế
mới 393 ở xã Tà Năng. Về lực lượng lao động, ta thấy số người trong độ tuổi lao động
luôn chiếm trên 50% dân số, và số người dưới tuổi lao động năm 2006 là 2.218 người,
tỉ lệ 35,11%, điều này chứng tỏ là cơ cấu dân số của xã là trẻ, lược lượng lao động dồi
dào là một tiềm năng lớn cần được khai thác.
2.3.2. Tình hình đời sống
Theo chuẩn nghèo mới của BLĐ-TBXH áp dụng cho giai đoạn 2006-2010 với
mức thu nhập dưới 200 ngàn/người/tháng ở khu vực nông thôn được xem là nghèo thì
năm 2006 toàn xã có 866 hộ nghèo, chiếm 75,83% trong tổng số hộ của xã, đa số là hộ
người dân tộc thiểu số bản địa. Với các hộ nghèo này thường hay xảy ra đói giáp hạt
vào gần các mùa vụ, với số tháng thiếu ăn trung bình là 2,83 tháng/năm. Thiếu việc
làm, thời gian nhàn rỗi nhiều nhưng họ không biết tận dụng, một số thì do lười làm.
Việc ăn uống đạm bạc, kém chất lượng cũng ảnh hưởng nhiều tới việc tái sản xuất sức
lao động của chính họ. Gần hầu hết các hộ này đều có xe máy, radio, tivi hay đầu máy
nhưng đó chỉ là vẻ hình thức bên ngoài vì họ phải thường xuyên kiếm ăn từng bữa.
Hàng năm nhà nước và các tổ chức xã hội đều có những đợt hỗ trợ gạo cứu đói cho
những hộ người nghèo và hộ thiếu ăn lúc giáp hạt.
11
Mặc dù đã tiếp cận với lối sống hiện đại, đời sống của một bộ phận nhân dân
được nâng cao nhưng đời sống của bà con vẫn còn nhiều điều lạc hậu, nhất là những
người lớn tuổi. Còn giới trẻ thì đã dần hòa nhập với lối sống hiện đại.
2.3.3. Giáo dục và đào tạo
12
16
48
Số học sinh
312
833
631
1.776
Số giáo viên
14
38
54
106
4,48
4,56
biến tích cực, thường xuyên tuyên truyền vận động chị em trong độ tuổi áp dụng các
biện pháp tránh thai và được nhiều chị em đồng tình hưởng ứng, đến nay tổng số ca áp
dụng biện pháp tránh thai là 778 ca. Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2006 là 1,80%, tỉ lệ
trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng là 26%.
2.3.5. Cơ sở hạ tầng
a) Giao thông
Do địa bàn xã nằm dọc tuyến quốc lộ 27 đi tỉnh Đắc Lắc và tuyến đường nhựa
mới làm năm 2004 nên khoảng cách đến trung tâm huyện chỉ còn khoảng 7 km. Mạng
lưới giao thông xã tương đối hoàn chỉnh, các thôn bản đều có đường xe lớn có thể đi
vào đựơc, các con đường này đều được trải đá và thường xuyên đựơc nâng cấp, sửa
chữa hàng năm. Năm 2004, chương trình 135 đã đầu tư làm mới 49,5 km đường cấp
phối; 5,1 km đường giao thông nông thôn và 4,6 km đường nhựa. Giao thông đi lại
suốt mùa của ngừơi dân được thuận lợi đã tạo điều kiện tăng cường giao lưu, buôn
bán, góp phần nâng cao đời sống cho người dân.
b) Thủy lợi
Do đặc điểm địa hình đồi núi cao, đòi hỏi kinh phí lớn để xây dựng các công
trình thủy lợi có quy mô vừa và lớn nên các công trình thủy lợi hiện nay của xã có quy
mô nhỏ. Toàn xã hiện có 6 hồ đập và nhiều ao, hồ nhỏ trong nhân dân cung cấp nước
tưới tiêu cho sản xuất của bà con. Các ao, hồ, đập này cũng chỉ đáp ứng nước tưới tiêu
cho một phần nhỏ diện tích canh tác của xã trong mùa mưa và một số ít hộ trồng rau
trong mùa khô, các diện tích trồng cây công nghiệp như cà phê thường không có đủ
nước tưới. Các giếng đào thì bị khô cạn vào mùa khô, các hộ có điều kiện cũng đã đầu
tư giếng khoan nhưng chủ yếu cung cấp nước sinh hoạt và việc tưới cho cây trồng
trong vườn. Đa số việc canh tác của bà con vẫn phải dựa vào nước mưa, do đó đất đai
13
thường hay bị bỏ hoang gây lãng phí tài nguyên làm ảnh huởng đến thu nhập của bà
con.
c) Điện, nước sinh hoạt