BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
BƯỚC ĐẦU KHẢO NGHIỆM VÀ SO SÁNH SINH TRƯỞNG
MỘT SỐ DÒNG BẠCH ĐÀN LAI NHÂN TẠO TẠI TRẠM
THỰC NGHIỆM LÂM NGHIỆP BÀU BÀNG,
HUYỆN BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Họ và tên sinh viên : LÊ THANH DƯƠNG
Ngành
: LÂM NGHIỆP
Niên khóa
: 2006 – 2010
Tháng 07/2010
BƯỚC ĐẦU KHẢO NGHIỆM VÀ SO SÁNH SINH TRƯỞNG MỘT SỐ
DÒNG BẠCH ĐÀN LAI NHÂN TẠO TẠI TRẠM THỰC NGHIỆM
LÂM NGHIỆP BÀU BÀNG, HUYỆN BẾN CÁT
TỈNH BÌNH DƯƠNG
LÊ THANH DƯƠNG
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu
Cấp bằng Kỹ sư ngành
LÂM NGHIỆP
Giáo viên hướng dẫn:
Tp.Hồ Chí Minh, tháng 07 năm 2010
Sinh viên thực hiện
Lê Thanh Dương
ii
TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu “Bước đầu khảo nghiệm và so sánh sinh trưởng một số
dòng Bạch đàn lai nhân tạo tại Trạm thực nghiệm Lâm nghiệp Bàu Bàng,
huyện Bến Cát tỉnh Bình Dương” được tiến hành tại các lô thí nghiệm tại Trạm
thực nghiệm Bàu Bàng, thời gian từ tháng 03 đến tháng 07 năm 2010. Các thí
nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCBD).
Giáo viên hướng dẫn: ThS. Nguyễn Minh Cảnh
- Mục tiêu chính của đề tài là:
Tuyển chọn cây mẹ từ các xuất xứ tốt nhất theo tiêu chuẩn cây giống lâm
nghiệp.
Đánh giá khả năng sinh trưởng giữa các dòng Bạch đàn lai nhân tạo dựa trên
các chỉ tiêu định lượng tại Trạm thực nghiệm Lâm nghiệp Bàu Bàng, huyện Bến
Cát tỉnh Bình Dương làm cơ sở chọn dòng Bạch đàn phù hợp.
Lựa chọn 2 – 3 dòng vô tính sinh trưởng tốt nhất trong số các dòng tuyển
chọn để khuyến cáo phát triển và sử dụng cho trồng rừng Bạch đàn tại Trạm thực
nghiệm Lâm nghiệp Bàu Bàng, huyện Bến Cát tỉnh Bình Dương nói riêng và vùng
Đông Nam Bộ nói chung.
- Sử dụng phần mềm Excel 2003 và Statgraphics Plus 3.0 để xử lý số liệu và
phân tích phương sai.
Kết quả thu được ở đề tài bao gồm:
- Đã tuyển chọn được 7 cây trội Bạch đàn phù hợp các tiêu chuẩn về định
tính và định lượng phục vụ nghiên cứu dẫn dòng, nhân giống, khảo nghiệm.
2.1.3. Đánh giá rừng trồng-------------------------------------------------------------------- 8
2.2. Các công trình đã nghiên cứu ở nước ngoài ------------------------------------------ 9
2.3. Cơ sở khoa học chọn lọc cây trội----------------------------------------------------- 13
2.4. Nhận định về các kết quả nghiên cứu có liên quan -------------------------------- 15
3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU --------------- 17
3.1. Đối tượng và địa điểm nghiên cứu --------------------------------------------------- 17
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu --------------------------------------------------------------- 17
3.1.2. Địa điểm nghiên cứu ----------------------------------------------------------------- 17
3.2. Nội dung nghiên cứu ------------------------------------------------------------------- 19
iv
3.3. Phương pháp nghiên cứu -------------------------------------------------------------- 19
3.3.1. Phương pháp đánh giá và chọn lọc cây trội -------------------------------------- 19
3.3.2. Phương pháp khảo nghiệm dòng vô tính ------------------------------------------ 22
3.3.3. Phương pháp thu thập số liệu ------------------------------------------------------- 26
3.3.4. Phương pháp phân tích số liệu ----------------------------------------------------- 26
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN--------------------------------------- 28
4.1. Tuyển chọn cây trội -------------------------------------------------------------------- 28
4.2. Đánh giá sinh trưởng đường kính ---------------------------------------------------- 31
4.3. Đánh giá sinh trưởng chiều cao------------------------------------------------------- 37
4.4. Đánh giá sinh trưởng thể tích --------------------------------------------------------- 44
5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ---------------------------------------------------------- 47
5.1. Kết luận ---------------------------------------------------------------------------------- 47
5.2. Kiến nghị -------------------------------------------------------------------------------- 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO ------------------------------------------------------------------ 48
v
LSD
Least significant difference – Sự khác biệt có ý nghĩa nhỏ nhất
P
Xác xuất biểu thị mức tin cậy trong phân tích so sánh
R
Biên độ biến động
RCBD
Randomized complete block design – Khối đầy đủ ngẫu nhiên
S
Độ lệch tiêu chuẩn
V
Thể tích của cây, m3
X
Giá trị điều tra
X
DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1. Kết quả phân tích đất ----------------------------------------------------------- 18
Bảng 4.1 Số liệu đo sinh trưởng cây trội Bạch đàn tại Bàu Bàng -------------------- 28
Bảng 4.2 Số liệu cho điểm cây trội Bạch đàn theo các chỉ tiêu ---------------------- 30
Bảng 4.3. Đặc trưng sinh trưởng đường kính các dòng Bạch đàn tại Trạm thực
nghiệm Bàu Bàng ---------------------------------------------------------------------------- 32
Bảng 4.4. Kết quả ANOVA kiểu RCBD 1 nhân tố sau 1 tuổi – chỉ tiêu D1,3 ------- 32
Bảng 4.5. Kết quả ANOVA kiểu RCBD 1 nhân tố sau 2 tuổi - chỉ tiêu D1,3 -------- 33
Bảng 4.6. Kết quả ANOVA kiểu RCBD 1 nhân tố sau 3 tuổi - chỉ tiêu D1,3 -------- 34
Bảng 4.7. Kết quả ANOVA kiểu RCBD 1 nhân tố sau 4 tuổi - chỉ tiêu D1,3 -------- 36
Bảng 4.8. Đặc trưng sinh trưởng chiều cao các dòng Bạch đàn tại Trạm thực
nghiệm Bàu Bàng ---------------------------------------------------------------------------- 37
Bảng 4.9. Kết quả ANOVA kiểu RCBD 1 nhân tố sau 1 tuổi - chỉ tiêu Hvn -------- 38
Bảng 4.10. Kết quả ANOVA kiểu RCBD 1 nhân tố sau 2 tuổi - chỉ tiêu Hvn ------- 39
Bảng 4.11. Kết quả ANOVA kiểu RCBD 1 nhân tố sau 3 tuổi - chỉ tiêu Hvn ------- 41
Bảng 4.12. Kết quả ANOVA kiểu RCBD 1 nhân tố sau 4 tuổi - chỉ tiêu Hvn ------- 42
Bảng 4.13. Kết quả ANOVA kiểu RCBD 1 nhân tố sau 4 tuổi - chỉ tiêu V--------- 44
viii
Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1. Lý do nghiên cứu
Bạch đàn được dẫn giống vào Việt Nam từ trước năm 1945. Do có những
đặc tính ưu việt như sinh trưởng nhanh, biên độ sinh thái rộng, dễ gây trồng trên
những dạng lập địa, ít sâu bệnh, gỗ có giá trị kinh tế và nhiều công dụng như: gỗ
xây dựng, gỗ xẻ, bột giấy, xuất khẩu, làm củi, lấy tinh dầu, ta nanh, nuôi ong mật …
điều kiện khí hậu thổ nhưỡng của từng vùng có sự khác nhau nhất định; Vì vậy, đề
tài đã thực hiện khảo nghiệm các dòng Bạch đàn lai nhân tạo trên vùng đất phù sa
cổ với thành phần cơ giới nhẹ nhưng phía dưới là tầng sét nặng tại Trạm thực
nghiệm Lâm nghiệp Bàu Bàng, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương nhằm nâng cao
sản lượng gỗ nguyên liệu bột giấy cũng như chất lượng rừng trồng Bạch đàn cho
vùng này.
Gần 10 năm trở lại đây, các nhà nghiên cứu đã tạo ra nhiều dòng Bạch đàn,
tuy nhiên chỉ mới thành công được một số dòng và chỉ một số ít dòng được kiểm
nghiệm và ứng dụng vào thực tiễn sản xuất. Xuất phát từ những vấn đề mang tính
thực tiễn đó, được sự đồng ý và phân công của Khoa Lâm nghiệp, Bộ môn Quản lý
tài nguyên rừng, trong khuôn khổ của một khóa luận tốt nghiệp cuối khóa, dưới sự
hướng dẫn của thầy Th.S Nguyễn Minh Cảnh, đề tài: “Bước đầu khảo nghiệm và
so sánh sinh trưởng một số dòng Bạch đàn lai nhân tạo tại Trạm thực nghiệm
Lâm nghiệp Bàu Bàng, huyện Bến Cát tỉnh Bình Dương” được thực hiện trong
khoảng thời gian từ tháng 03 đến tháng 07 năm 2010 làm cơ sở bước đầu lựa chọn
những dòng Bạch đàn lai tốt phục vụ cho công tác trồng rừng ở miền Đông Nam Bộ
nói chung và Bình Dương nói riêng.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Tuyển chọn cây mẹ từ các xuất xứ tốt nhất theo tiêu chuẩn cây giống lâm
nghiệp.
2
Đánh giá khả năng sinh trưởng giữa các dòng Bạch đàn lai nhân tạo dựa trên
các chỉ tiêu định lượng tại Trạm thực nghiệm Lâm nghiệp Bàu Bàng, huyện Bến
Cát tỉnh Bình Dương làm cơ sở chọn dòng Bạch đàn phù hợp.
Lựa chọn 2 – 3 dòng vô tính sinh trưởng tốt nhất trong số các dòng tuyển
chọn để khuyến cáo phát triển và sử dụng cho trồng rừng Bạch đàn tại Trạm thực
nghiệm Lâm nghiệp Bàu Bàng, huyện Bến Cát tỉnh Bình Dương nói riêng và vùng
được khảo nghiệm và từ đó đến nay đã có hàng chục loài được khảo nghiệm trên
diện rộng với khá nhiều xuất xứ làm cơ sở cho chọn loài và xuất xứ sinh trưởng
nhanh phục vụ trồng rừng đại trà.
Vào những năm 1960, riêng ở miền Nam có 52 loài Bạch đàn đã được khảo
nghiệm cho vùng cao Lâm Đồng tại 2 địa điểm là Lang Hanh (độ cao 900 – 1.000
m) và Mang Linh (độ cao 1.500 m), trong đó có nhiều loài cung cấp gỗ lớn như E.
grandis, E. microcorys, E. obliqua, E. saligna, E. viminalis (Nguyễn Hoàng Nghĩa
và ctv, 1993).
Theo Lê Đình Khả (1996), khảo nghiệm cho 9 loài gồm: E. urophylla, E.
cloeziana, E. tereticornis, E. camaldulensis, E. brassiana, E. exserta, E. grandis, E.
microcorys, E. pellita kết quả cho thấy các loài Bạch đàn thuộc nhóm sinh trưởng
nhanh; ba loài E. tereticornis, E. camaldulensis, E. brassiana thích hợp cho các
vùng thấp của các tỉnh Nam Bộ.
4
2.1.2. Khảo nghiệm xuất xứ
Khảo nghiệm xuất xứ được tiến hành với nhiều xuất xứ trên nhiều dạng lập
địa khác nhau. Ở Việt Nam với địa hình trải dài, biên độ khí hậu và địa hình thay
đổi rộng, trong đó diện tích đất lâm nghiệp lẫn sỏi đá nghèo dinh dưỡng rất lớn.
Chính vì vậy, cần có những xuất xứ phù hợp với từng điều kiện lập địa để phát huy
tiềm năng sử dụng đất, phủ xanh đất trống đồi núi trọc.
Từ những năm 1980 trở lại đây, đã có gần 200 xuất xứ của nhiều loài Bạch
đàn được các dự án và các tổ chức quốc tế (UNDP, FAO, SIDA, CSIRO,...) cung
cấp cho khảo nghiệm và trồng rừng tại Việt Nam. Sau đây là những kết quả được
công bố bởi Nguyễn Hoàng Nghĩa (2000):
- Khảo nghiệm 23 xuất xứ của 9 loài Bạch đàn tại Đại Lải – Phú Thọ, một số
xuất xứ sinh trưởng tốt, song xuất xứ Richmond của loài E. micrcotheca sinh trưởng
quá kém nên đã bị loại bỏ. Các loài khác là E. grandis, E. pellita và E. torelliana
đối chứng tại Trảng Bom – Đồng Nai. Kết quả cho thấy xuất xứ Petford có chiều
cao xếp thứ 2, song lại chỉ xếp thứ 7 về thể tích và không được đưa vào danh sách 3
xuất xứ trội nhất của khảo nghiệm. Các xuất xứ đầu bảng là Morehead river và
Katherine của E. camaldulensis, Black mt. của E. tereticornis. Kết quả tăng trưởng
bình quân 3,0 m/năm về chiều cao và 2,5 cm/năm về đường kính.
- Khảo nghiệm 12 xuất xứ của E.camaldulensis và một xuất xứ của E.
tereticornis tại La Ngà – Đồng Nai. Kết quả tăng trưởng bình quân của xuất xứ đầu
bảng đạt trên 3 m/năm về chiều cao và 2,5 cm/năm về đường kính. Các xuất xứ dẫn
đầu là Gibert river, Mt. carbine và Petford. Còn Bạch đàn nội Nghĩa Bình xếp ở
cuối bảng.
- Khảo nghiệm 8 xuất xứ của 2 loài Bạch đàn trắng tại Sông Mây – Đồng
Nai. Kết quả là 3 xuất xứ Kennedy, Katherine và Morehead river có triển vọng cho
gây trồng ở vùng này vì tăng trưởng khá (2,6 m/năm cho chiều cao và 1,7 cm/năm
cho đường kính) và khả năng kháng bệnh cao hơn Petford .
- Khảo nghiệm 18 xuất xứ của 7 loài tại Bàu Bàng – Bình Dương. Các xuất
xứ đầu bảng là Morehead river, Mt. carbine và Katherine của E. camaldulensis;
Jackey của E. brassiana, Mt. lewotobi của E. urophylla; còn bạch đàn trắng Nghĩa
6
Bình sinh trưởng kém nhất. Tăng trưởng các xuất xứ đạt 1,6 cm/năm về đường
kính; 1,7 m/năm về chiều cao.
- Khảo nghiệm xuất xứ tại Tân Tạo – TP. Hồ Chí Minh trên đất phèn, sinh
trưởng tốt nhất là Oro bay, Sirinumu sogeri plat của E. tereticornis, Kennedy river
và Petford của E. camaldulensis. Nhìn chung, E. brassiana và E. alba không bị
bệnh và E. tereticornis bị bệnh nhẹ.
- Khảo nghiệm 15 xuất xứ tại Kiên Giang. Các xuất xứ trội là Kennedy river,
Kupiano, Petford, Wrotham và lô hạt giống nội địa của Tân Tạo. Mức độ tăng
trưởng rất khả quan trong 3 năm đầu với 3,1 cm/năm về đường kính và 2,6 m/năm
Nhìn chung, với điều kiện khí hậu khắc nghiệt và địa hình đồi núi của nước
ta, một số xuất xứ nội địa tỏ rõ ưu thế về sinh trưởng và sức chống chịu, nhưng
cũng những xuất xứ này khảo nghiệm trên dạng lập địa được cho là thuận lợi chúng
lại không phát huy được thế mạnh về sinh trưởng so với xuất xứ ngoại nhập. Điều
này cho thấy khả năng thích nghi với hoàn cảnh của chúng. Trong khi đó, những
xuất xứ ngoại nhập thể hiện rất rõ về sinh trưởng nhanh so với xuất xứ nội tại những
lập địa tốt hoặc với chế độ thâm canh cao.
2.1.3. Đánh giá rừng trồng
Theo Hứa Vĩnh Tùng, Phạm Trọng Nhân (2001), nghiên cứu xây dựng mô
hình Bạch đàn E. microcorys tại vùng Tây Nguyên cho thấy loài này chỉ đạt yêu cầu
sinh trưởng tại Lang Hanh và Cam Ly – Lâm Đồng. Mô hình tại các tỉnh Gia Lai,
Đắk Lắk, Kon Tum và Bình Dương đều cho sinh trưởng kém, tỷ lệ sống thấp.
Rừng Bạch đàn được trồng phổ biến tại Việt Nam chủ yếu là các rừng trồng
sản xuất phục vụ gỗ nguyên liệu bột giấy. Chúng đã không được đánh giá bằng
những con số thống kê cụ thể. Mặt khác, chủ yếu là rừng trồng từ hạt, nguồn gốc
giống không rõ ràng dẫn tới mức độ phân ly cá thể lớn, độ đồng đều rừng cây thấp.
Tóm lại, Bạch đàn được đưa vào trồng ở Việt Nam từ trước năm 1970, ban
đầu với trên 50 loài và hiện nay có khoảng gần 200 xuất xứ được nghiên cứu khảo
nghiệm, trồng rừng. Các nghiên cứu tập trung về khảo nghiệm loài, xuất xứ, nghiên
cứu giống kháng bệnh, nghiên cứu giâm hom Bạch đàn và đã được triển khai tại hầu
khắp các vùng trên toàn quốc. Tại vùng Đông Nam Bộ đã triển khai một số thí
nghiệm và cũng đã có những kết quả nhất định. Tuy nhiên, việc nghiên cứu khảo
nghiệm dòng Bạch đàn vô tính sao cho phù hợp với điều kiện sinh thái vùng, đem
8
lại năng suất cao, đáp ứng nhu cầu sử dụng gỗ nguyên liệu bột giấy hiện nay trong
khu vực Đông Nam Bộ vẫn là một việc làm cần thiết.
2.2. Công trình đã nghiên cứu ở nước ngoài
Trồng rừng thành công bằng cây hom Bạch đàn ở Braxin là một điển hình
hết sức khích lệ đối với nhiều nước trên thế giới. Ngay từ năm 1980, Braxin đã sản
xuất hàng năm 8 triệu cây hom cho bạch đàn E.grandis (Hartney 1980), tới nay con
số này tăng lên rất nhiều. Trong chương trình cải thiện cây kinh điển sử dụng các
biện pháp nhân giống hữu tính đòi hỏi mất nhiều năm. Theo Campinhos và Ikemori
(1989) đối với Bạch đàn, một loài cây sinh trưởng nhanh có luân kỳ khai thác ngắn,
thời gian cần cho mỗi chương trình chọn giống kể từ khâu khảo nghiệm loài, khảo
nghiệm xuất xứ tới chọn cây trội, xây dựng vườn giống … cũng phải mất 25 năm.
Chính vì vậy, các nhà nghiên cứu Braxin đã phải áp dụng chương trình cải thiện
giống tăng tốc bằng cách áp dụng nhân giống sinh dưỡng (giâm hom) và chọn lọc
mạnh trên các rừng trồng Bạch đàn, đã cho phép tăng thu rất nhanh sinh trưởng về
thể tích và cả các tính trạng gỗ khác nhằm phục vụ tốt nhất cho công nghệ sản xuất
bột giấy (dẫn nguồn Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2001).
Ở Nam Phi, từ năm 1983 một đơn vị trồng rừng của công ty Moldi đã triển
khai một chương trình ứng dụng nhân giống hom Bạch đàn E.grandis vào trồng
rừng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về bột giấy. Các kết quả nghiên cứu
được sử dụng tuyển chọn các dòng vô tính có năng suất cao để nhân giống hàng
loạt. Các dòng vô tính trong các khảo nghiệm đều sinh trưởng đồng đều hơn là cây
con từ hạt. Đối với cây con từ hạt, hệ số biến động về chiều cao là 11,5 %, về đường
kính ngang ngực là 14,4 % và thể tích là 31,3 %, trong khi các dòng vô tính đứng
đầu bảng có hệ số biến động về chiều cao nhỏ hơn 10 %, về đường kính ngang ngực
là 9 % và thể tích là 20 % (dẫn nguồn Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2001).
Đã có khoảng trên 200 loài Bạch đàn đã được thử nghiệm ở Trung Quốc và
tới nay đã có tới khoảng 400.000 ha rừng trồng Bạch đàn ở vùng nhiệt đới và á
nhiệt đới Trung Quốc, trong đó có 3 loài được trồng rộng rãi nhất là E. exerta, E.
citriodora và E. globuius, còn 3 loại E. camaldunlensis, E. tereticornis và E.
urophylla đứng vị trí thứ 2 (dẫn nguồn Nguyễn Hoàng Nghĩa, 1993).
Các chương trình nghiên cứu về Bạch đàn ở nước ngoài chủ yếu do Trung
tâm nghiên cứu nông nghiệp quốc tế Australia (CSIRO) thực hiện như:
Federal District, Brazil (Vicente và ctv, 1995) cho kết xuất xứ 10976 từ Laura,
Queensland có chiều cao trung bình lớn nhất 13,6 m, trữ lượng 119 m3/ha và lượng
11
tăng trưởng hàng năm 9,0 m3/ha/năm, tỷ lệ sống thấp nhất đạt 82%. Tại vùng này
sinh trưởng của E. brassiana kém hơn so với các loài Bạch đàn khác.
Trong vùng khô hạn dọc theo những hẻm núi Bạch đàn sinh trưởng chậm,
thân có nhiều u bướu, cong keo, tán rộng nhưng thấp. Ngược lại, vùng có tầng đất
sâu, độ ẩm tốt cây con phát triển mạnh tạo ra đám rừng thân thẳng, đặc biệt đối với
E. camaldunensis là một trong những loài sinh trưởng nhanh nhất có thể đạt tới 12 –
15 m chỉ trong một vài năm.
Nhân giống Bạch đàn thường sử dụng qua hai hình thức hữu tính từ hạt và vô
tính như giâm hom cành, chiết, nuôi cấy mô. Tuy nhiên, tùy theo đặc điểm loài
cũng như điều kiện vùng khí hậu mà người ta chọn những phương pháp nhân giống
cụ thể có hiệu quả cao. Theo Cunningham et al (1981), Bạch đàn tái sinh rất mạnh
với mật độ dày đặc ở những vùng sau lũ ngập. Hạt Bạch đàn di chuyển được một
phần nhờ gió, một phần ít rơi vào mùa đông, còn phần lớn rơi vào mùa xuân và hè
(House, 1997). McEvoy (1992) đã phát hiện sau khi hạt rơi xuống nước sau 17 ngày
nảy mầm tốt. Chính vì vậy tác giả cho rằng vùng nước sau lũ ngập đã thúc đẩy như
là sự phân tán cây. Tỷ lệ hạt sống sót phụ thuộc rất lớn vào điều kiện thời tiết (theo
mùa) và chế độ nước ngập.
Rừng trồng Bạch đàn tại California đã trồng hàng ngàn hecta từ đầu những
năm 1900 với hy vọng cung cấp nguồn gỗ tròn nguyên liệu mới cho xây dựng và
sản phẩm nội thất. Ngoài ra ở một số nơi còn trồng phục vụ băng cản gió ở các đại
lộ cũnh như các trang trại, làm cây bóng mát, cây trang trí trong thành phố. Tại
Brazil trồng Bạch đàn năm 1910 phục vụ làm gỗ tròn và củi đốt, chúng thích nghi
tốt với điều kiện môi trường Brazil. Hiện nay đã có khoảng 5 triệu hecta rừng trồng
đáp ứng rất tốt cho công nghiệp giấy sợi, than củi, băng cản gió và giúp giảm áp lực
2.3.2. Cơ sở di truyền của các tính trạng chủ yếu trong chọn giống cây rừng
Các yếu tố gây nên biến dị giữa các cá thể, quần thể (kiều hình P) có thể tách
làm hai nguồn: Nhân tố di truyền G và điều kiện hoàn cảnh E.
P = G +E
Các nhân tố này có thể tự biến đổi để gây nên sự khác biệt giữa các cá thể,
trong đó sự biến đổi về môi trường có thể là sự biến đổi về độ dày tầng đất, độ ẩm,
độ phì của tầng đất mặt từ cây này đến cây khác trong một khu rừng. Các nhân tố di
13
truyền này lại được thay đổi theo bộ gen được thu nhận từ bố mẹ của chúng thông
qua sinh sản hữu tính.
Trong công tác chọn giống nói chung, cũng như công tác chọn giống cây
rừng nói riêng thì những biến dị cá thể nào được gây nên bởi các yếu tố di truyền
(biến dị di truyền) mới thực sự có ý nghĩa, còn các biến dị gây nên bởi các yếu tố
hoàn cảnh (thường biến) thì nó chỉ là kết quả phản ứng của cơ thể trước điều kiện
sống, nó không được giữ lại ở hậu thế qua sinh sản hữu tính hay vô tính.
Trong trồng rừng làm nguyên liệu chế biến mục tiêu chính là lấy gỗ. Những
tính trạng chi phối các loại sản phẩm nói trên là những tính trạng số lượng (trong
trường hợp này biến dị cá thể là biến dị các tính trạng số lượng), chúng chịu sự
kiểm soát đa gen với mức độ biểu hiện kiểu hình của tính trạng phụ thuộc chặt chẽ
vào sự có mặt của số lượng gen hoạt tính (số lượng gen trội hay số lượng cặp gen
trội trong kiểu gen). Những cá thể có biến dị tốt (cây trội) sẽ là những cây mà kiểu
gen của nó có chứa số lượng gen trội hoạt tính cao nhất. Số lượng cá thể biến dị này
luôn luôn chiếm một tỷ lệ nhất định trong quần thể thế hệ lai (thu phấn chéo).
Cây trội là vốn quý trong cải thiện giống cây rừng, cây trội được tuyển chọn
với độ vượt trội lớn sẽ là đối tượng cung cấp nguồn hạt giống có phẩm chất di
truyền được cải thiện ở mức độ thấp cho sản xuất trên quy mô lớn. Cây trội được
chọn lọc mới được đánh giá thông qua kiểu hình, mà kiểu hình thể hiện sự tác động
bằng mô hom để phục vụ trồng rừng các dòng vô tính trên quy mô lớn
2.4. Nhận định về các kết quả nghiên cứu có liên quan
- Các nghiên cứu khảo nghiệm loài và xuất xứ ở Việt Nam được tiến hành
trên nhiều vùng sinh thái với nhiều dạng lập địa khác nhau. Kết quả đã tuyển chọn
ra được một số loài, xuất xứ phù hợp cho từng vùng, cụ thể: vùng Đông Bắc Bộ có
4 xuất xứ của 3 loài, vùng Bắc Trung Bộ có 3 xuất xứ của E. urophylla, vùng cao
Lâm Đồng có 5 xuất xứ của 3 loài, vùng Tây Nam Bộ có 5 xuất xứ, vùng Đông
Nam Bộ có 9 xuất xứ của 4 loài.
- Trong các loài và xuất xứ được chọn, có những loài và xuất xứ cùng ở trên
nhiều vùng sinh thái. Với những kết quả này, chúng ta có thể thấy rõ vùng nào nên
trồng loài nào và xuất xứ nào là phù hợp, để từ đó đưa ra những định hướng cụ thể
15
hơn khi quyết định nghiên cứu sâu hơn nữa cho từng vùng cũng như để phục vụ
trồng rừng sản xuất.
- Mô hình rừng trồng trong thực tế có thể nhiều hơn, nhưng để đánh giá
chúng về mặt thống kê học thì có rất ít tài liệu công bố. Trong số tài liệu đã công bố
này, kết quả mới chỉ đưa ra được cho một số xuất xứ của ba loài trên hai vùng mà
thôi.
- Riêng nghiên cứu Bạch đàn ở nước ngoài chủ yếu do Trung tâm nghiên cứu
nông nghiệp quốc tế Australia thực hiện, và tập trung vào lĩnh vực sâu bệnh là
chính.
Qua kết quả nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Nghĩa (2000) cho thấy rừng
trồng Bạch đàn từ hạt đưa lại độ đồng đều kém, năng suất thấp. Nhằm từng bước cải
thiện chất lượng rừng này, cần chọn và trồng rừng bằng dòng tốt để đưa năng suất
cũng như chất lượng rừng lên cao hơn.
Dựa vào kết quả nghiên cứu xuất xứ của Trung tâm khoa học sản xuất Lâm
nghiệp Đông Nam Bộ, đề tài đã tiến hành các phương pháp điều tra, đánh giá và so