bước đầu khảo nghiệm một số giống keo, bạch đàn đã được công nhận tại tỉnh thái nguyên - Pdf 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHẠM THU HẠNH BƯỚC ĐẦU KHẢO NGHIỆM MỘT SỐ GIỐNG KEO,
BẠCH ĐÀN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG NHẬN
TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Lâm Nghiệp
Mã số: 60.62.60

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP


2.1.3. Khí hậu 17
2.1.4. Thủy văn 17
2.1.5. Các nguồn tài nguyên 18
2.2. Đặc điểm dân sinh - kinh tế - xã hội 19
2.2.1. Dân số, lao động, dân tộc 19
2.2.2. Cơ sở hạ tầng 20
2.3. Đặc điểm của 02 mô hình khảo nghiệm 21
CHƢƠNG III: MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU23
3.1. Mục tiêu nghiên cứu 23
3.2. Đối tƣợng nghiên cứu 23
3.3. Giới hạn nghiên cứu 23
3.4. Nội dung nghiên cứu 24
3.4.1. Đánh giá khả năng sinh trƣởng của các dòng Keo lai ở điều kiện
lập địa khác nhau 24
3.4.2. Đánh giá khả năng sinh trƣởng của các dòng Keo lá tràm ở điều
kiện lập địa khác nhau 24
3.4.3. Đánh giá khả năng sinh trƣởng của các dòng Bạch đàn lai ở điều
kiện lập địa khác nhau 24
3.5. Phƣơng pháp nghiên cứu 24
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3.5.1. Phƣơng pháp tiếp cận 24
3.5.3. Phƣơng pháp thu thập và phân tích số liệu 26
CHƢƠNG IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
4.1. Sinh trƣởng của các giống keo lai (6/2010-6/2011) 29
4.1.1. Sinh trƣởng của các giống Keo lai trồng tại Đồng Hỷ - Thái Nguyên
29
4.1.2. Sinh trƣởng của các giống Keo lai trồng tại Phú Lƣơng - Thái Nguyên
38
4.1.3. Đánh giá độ thẳng thân cây và tính hình sâu bệnh hại Keo lai trồng

dựng mô hình trồng khảo nghiệm 22
Bảng 4.1. Sinh trƣởng của các giống Keo lai tại Đồng Hỷ- Thái Nguyên
(trồng tháng 6/2010) 30
Bảng 4.2. Sinh trƣởng của các giống Keo lai tại Phú Lƣơng- Thái
Nguyên (trồng tháng 6/2010) 38
Bảng 4.3. Đánh giá độ thẳng thân và tình hình sâu bênh hại Keo lai 42
Bảng 4.4. Sinh trƣởng của các giống Keo lá tràm tại Đồng Hỷ - Thái
Nguyên (trồng tháng 6/2010) 45
Bảng 4.5. Sinh trƣởng của các giống Keo lá tràm tại Phú Lƣơng Thái
Nguyên (trồng tháng 6/2010) 48
Hình 7. Biến động sinh trƣởng về đƣờng kính gốc của Keo lá tràm tại
Phú Lƣơng 51
Bảng 4.6. Đánh giá độ thẳng thân và tình hình sâu bênh hại Keo lá tràm 53
Bảng 4.7. Sinh trƣởng của các giống Bạch đàn lai tại Đồng Hỷ - Thái
Nguyên (trồng tháng 6 năm 2010) 55
Bảng 4.8: Sinh trƣởng của các giống Bạch đàn lai tại Phú Lƣơng - Thái
Nguyên (trồng tháng 6/2010) 58
Hình 12. Biến động sinh trƣởng về chiều cao vút ngọn của Bạch đàn lai 61
tại Phú Lƣơng 61
Bảng 4.9. Đánh giá độ thẳng thân và tình hình sâu bênh hại Bạch đàn
lai 63

1
LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành Luận văn, trong quá trình học tập và nghiên cứu, tôi
đã nhận đƣợc sự quan tâm giúp đỡ tận tình của nhiều cá nhân và tập thể.

nguồn gốc./. Tỏc gi lun vn

Phm Thu Hnh
3
ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay, sản lƣợng gỗ lấy ra từ rừng tự nhiên còn rất ít trong khí đó
nhu cầu sử dụng các sản phẩm đƣợc chế biến từ gỗ ngày càng tăng, gỗ vẫn là
nguồn nguyên liệu không thể thiếu đƣợc trong cuộc sống hàng ngày. Từ gỗ
ngƣời ta có thể tạo ra đƣợc các loại sản phẩm khác nhau phục vụ cho đời
sống sinh hoạt của con ngƣời nhờ công nghệ hiện đại. Chính vì vậy mà các
nhà lâm nghiệp vẫn hàng ngày, hàng giờ tìm hiểu chọn lọc, nghiên cứƣ, lai
tạo ra giống mới có năng suất và chất lƣợng cao đáp ứng nhu cầu của thị
trƣờng. Keo và Bạch Đàn là 2 loài cây trồng đƣợc nhà nƣớc nghiên cứu, quan
tâm và hƣớng tới. Chúng là cây mọc nhanh, thích nghi đƣợc trên nhiều loại
đất khác nhau có biên độ sinh thái rộng, phù hợp với trồng rừng quy mô lớn.
Ngoài việc cung cấp nguyên liệu cho công nghệ sản xuất giấy, ván nhân tạo,
gỗ còn đƣợc sử dụng cho mục đích khác nhƣ xây dựng, đồ gỗ, trang trí nội
thất, gỗ củi. Keo là loài cây trồng có nhiều nốt sần chứa vi khuẩn Rhizobium
và Brarhiobium có khả năng tổng hợp nitơ trong tự nhiên.
Keo và Bạch Đàn là 2 trong những loài cây đáp ứng đƣợc mục tiêu
trồng rừng sản xuất của nƣớc ta trong giai đoạn trƣớc mắt cũng nhƣ lâu dài.
Vì vậy đây là những loài cây trồng đƣợc sử dụng nhiều để trồng rừng sản
xuất ở nhiều vùng sản xuất trên cả nƣớc. Nói đến trồng rừng sản xuất thì năng

Nguyên” là cần thiết.

5
CHƢƠNG I
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1. Các nghiên cứu về chọn tạo giống keo và bạch đàn trên thế giới
1.1.1. Kết quả nghiên cứu về chọn tạo giống Keo
Chi Keo (Acacia) là chi thực vật quan trọng của nhiều nƣớc với tổng số
khoảng 1.200 loài (Boland et al, 1984) [34]. Theo các ghi chép của Trung tâm
giống cây rừng Ôxtrâylia thì các loài Keo của Ôxtrâylia đã đƣợc trồng thử
nghiệm trên 70 nƣớc với diện tích khoảng 1.750.000 ha. Nhiều loài đã đáp
ứng đƣợc mục tiêu công nghiệp, xã hội và môi trƣờng nhƣ Keo lá tràm,
Keo lá liềm và Keo tai tƣợng là nguồn nguyên liệu cung cấp cho công

/ha/năm, trên các loại đất xấu
đạt 8 – 12 m
3
/ha/năm. Năng suất rừng trồng giảm mạnh khi lƣợng mƣa thấp
và khô hạn kéo dài, trên đất nông vùng nửa khô hạn ở Tây Bengal, năng suất
chỉ đạt 5m
3
/ha/năm ở tuổi 15. Điều đó chứng tỏ điều kiện lập địa có ảnh
hƣởng rất lớn đến năng suất rừng Keo lá tràm.
Keo lai tự nhiên giữa Acacia mangium và Acacia auriculiformis đƣợc
phát hiện đầu tiên vào năm 1970 ở Sabah, Malaysia (FAO, 1982). Những cây
lai này ở UluKukut đã thấy có kích thƣớc lớn hơn, dạng cành và thân tròn đều
hơn các Keo tai tƣợng đứng gần đó, ngoài ra keo lai còn có dấu hiệu cho thấy
tỷ trọng gỗ và một số tính chất có hơn cây mẹ (Rufelds, 1987) [39]. Từ năm
1992, ở Inđônêxia đã bắt đầu có thử nghiệm trồng Keo lai từ nuôi cấy mô
phân sinh, cùng Keo tai tƣợng và Keo lá tràm (Umboh và cs, 1993). Ngoài ra,
Keo lai tự nhiên còn tìm thấy trong giao ƣơm Keo tai tƣợng (lấy giống từ
Malaysia) của Trạm nghiêm cứu Jon-Pu của Viện nghiên cứu Đại học Lâm
nghiệp Đài Loan năm 1998, ở khu trồng Keo tai tƣợng tại Quảng Châu
(Trung Quốc). Năm 1988, Rufelds đã đƣa ra phƣơng pháp xác định cây con
Keo lai tại vƣờn ƣơm để các cán bộ kỹ thuật dễ dàng nhận biết và tách riêng
chúng ra khỏi các lô hạt Keo tai tƣợng và Keo lá tràm. Sau này, Edmun Gam
và Sim Bun Liang (1991) đã đƣa ra các bảng đơn giản để đánh giá Keo lai ở
vƣờn ƣơm. Có thể nói đây là loài sinh trƣởng tốt hơn bố mẹ của chúng và đã
đƣợc nhiều nƣớc trên thế giới quan tâm nghiên cứu.
1.1.2. Kết quả nghiên cứu về chọn tạo giống Bạch đàn
Chi Bạch đàn (Eucalyptus) là một chi thực vật thuộc họ Sim (Myrtaceae)
bao gồm trên 500 loài và đƣợc phân thành nhiều chi phụ khác nhau, chủ yếu
gặp ở Ôxtrâylia, Indonesia. Trong những năm qua, diện tích trồng Bạch đàn
trên thế giới đã tăng lên đáng kể, đóng vai trò quan trọng trong trồng rừng

cây, trong đó tổ hợp lai E.exserta x E.saligna có sinh trƣởng nhanh hơn tổ
hợp lai E.saligna x E.exserta, giống lai giữa Bạch đàn E. saligna với Bạch
đàn liễu E. microcorys có khả năng chống chịu đƣợc gió bão tốt, thích
hợp cho vùng biển (Shuxiong, 1989). Các tổ hợp lai thuận nghịch giữa E.
urophyla và E. grandis cũng đƣợc tạo ra ở Trung Quốc (Wang và Yang,
1996; Rezende Gabriel và Rezende Marcos, 2000), trong đó có một số rất
thích hợp với điều kiện lập địa vùng đồi, có khả năng chống chịu gió và
cho năng suất 45 – 48 m
3
/ha/năm nhƣ E. urophyla x E.tereticornis
TH9211-LH4-6 (Bai và Tridasa, 2000).
Venkatesh và Sharma (1976, 1977) đã nghiên cứu ƣu thế lai về sinh
trƣởng và tính nở hoa sớm. Ƣu thế lai thể hiện sức đề kháng nấm, chống chịu
rét và sƣơng muối hơn loài thuần. Ƣu thế lai về sinh trƣởng và tính chịu lạnh 8
ở tổ hợp lai E. grandis x E. nitens, ƣu thế lai về sinh trƣởng, tính chống chịu
loét thân ở tổ hợp lai E.grandis x E.urophyla (Verryn, 2000)
Nghiên cứu về giống kháng bệnh đã đƣợc thực hiện từ những năm 1976,
Pikethley đã phát hiện ra nấm Cylindroclacdium quinqueseptatum trên các
cây họ Sim tại Ôxtrâylia; Sharma (Ấn Độ) năm 1982, 1985 cũng đã phát hiện
loại nấm này trên bạch đàn tại Ấn Độ; các nghiên cứu ở Ôxtrâylia (Bollands
et al., 1985), Brazin (Alfenas et al., 1997; Junghans et al., 1999) và Nam Phi
(Crous and Swart, 1995) đều có các kết quả về bệnh ở bạch đàn. Nhƣ vậy, có
nhiều loài nấm có liên quan đến các loại bệnh hại lá bạch đàn đã ảnh hƣởng
không nhỏ tới năng suất và chất lƣợng rừng.
Nhận xét chung:
Keo và bạch đàn là những loài cây có biên độ sinh thái rộng, sinh trƣởng
nhanh, sử dụng đa dạng, … nên đƣợc nghiên cứu, phát triển rộng ở nhiều

Nghĩa, 2003) [20]. Các nghiên cứu của Viện Khoa học lâm nghiệp cho thấy
Keo lá tràm có khả năng thích ứng với điều kiện khí hậu, đất đai từ vùng cát
ven biển tƣơng đối khô hạn đến vùng núi thấp dƣới 400m ở Tây Nguyên, đây
cũng là cây trồng chủ yếu cho trồng rừng kinh tế và phòng hộ ở nƣớc ta.
Chƣơng trình cải thiện giống các loài Keo nói chung và Keo lá tràm nói riêng
đã bắt đầu từ những năm 1980 bằng việc khảo nghiệm loài và xuất xứ trên
một số vùng sinh thái chính ở Việt Nam cho thấy các xuất xứ nhƣ: Mibini
(PNG), Coen River (Qld), Kings Plains (Qld), Wenlock R (Qld), Halroyed
(Qld) và Morehead (PNG) đƣợc khẳng định là những xuất xứ sinh trƣởng tốt
nhất (Lê Đình Khả, 2003) [10]
Keo lai bao gồm giống Keo lai tự nhiên và giống Keo lai nhân tạo (Lê
Đình Khả 2006) [17]. đã đƣợc nghiên cứu và trồng khảo nghiệm trên các
vùng sinh thái khác nhau nhƣ Tuyên Quang, Hòa Bình, Hà Tây (cũ), Phú Thọ,
Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Đồng Nai, Bình Dƣơng, Bình Phƣớc… từ những
năm 1990- 2000. Kết quả cho thấy Keo lai có thể sinh trƣởng đƣợc ở tất cả
các nơi trồng khảo nghiệm, tốc độ sinh trƣởng thƣờng cao gấp 1,5 đến 3 lần
so với cây bố mẹ (Lê Đình Khả, 1999[7], 2003[10]; Nguyễn Hoàng Nghĩa
2003[21]; Hà Huy Thịnh và Lê Đình Khả 2005 [13]). Tuy nhiên, sinh trƣởng
ở các điều kiện lập địa khác nhau là hoàn toàn khác nhau, ví dụ trong 3 năm
đầu Keo lai ở Tuyên Quang, Hòa Bình, Đông Hà có thể đạt năng suất 19 – 27
m
3
/ha/năm, trong khi đó ở Hà Tây (cũ), Vĩnh Phúc chỉ đạt 5,7 – 10
13,5m
3
/ha/năm. Điều đó chứng tỏ ảnh hƣởng của yếu tố lập địa, khí hậu…
trên mỗi vùng sinh thái đến sinh trƣởng của Keo lai là khác nhau (Lê Đình

giống Quốc gia và giống tiến bộ kỹ thuật. Ngoài ra còn đạt đƣợc các kết quả 11
nhƣ: Chọn đƣợc 2 giống AM2, AM3 có ƣu thế lai cả về cả số lƣợng và chất
lƣợng (gỗ có nhiều đặc tính tốt, khối lƣợng thể tích vƣợt hơn so với Keo lá
tràm 7,3%, Keo tai tƣợng 9,3%, Keo lai tự nhiên 11,6%); chọn đƣợc 2 giống
AM22, AM23 sinh trƣởng nhanh ở Yên Bái, có thể tích thân cây sau 26 tháng
tƣơng ứng là 40dm
3
/cây và 33,6dm
3
/cây; chọn lọc sớm đƣợc các giống keo lai
nhân tạo ở giai đoạn 6 – 12 tháng tuổi nên tiết kiệm đƣợc chi phí và thời gian
nghiên cứu (Nguyễn Việt Cƣờng và cộng sự 2010) [27].
Nghiên cứu về chọn các dòng Keo chống chịu bệnh có năng suất cao
phục vụ trồng rừng kinh tế đã xác định đƣợc: 15 loài sinh vật gây bệnh cho
các loài Keo ở vùng Đông Bắc Bộ và Trung tâm, 17 loài sinh vật chính gây
bệnh cho Keo tại miền Trung và 17 loài nấm gây bệnh cho các loài Keo tại
Tây Nguyên, 22 loài sinh vật gây bệnh chính ở Đông Nam Bộ. Đồng thời,
tuyển chọn đƣợc 2 dòng keo lá tràm (AA1, AA9) đƣợc công nhận giống quốc
gia; 3 dòng keo lai (AH1, AH4, AH7), 5 dòng keo lá tràm (AA6, AA7, AA10,
AA12, AA15), 1 dòng keo tai tƣợng (M5) là giống tiến bộ kỹ thuật (Nguyễn
Hoàng Nghĩa và cộng sự 2010) [23].
1.2.2. Kết quả nghiên cứu về chọn tạo giống bạch đàn
Các nghiên cứu về chọn tạo giống Bạch đàn đã đƣợc thực hiện nhiều ở
các cơ quan nghiên cứu về lâm nghiệp, trong đó phải kể đến trung tâm nghiên
cứu giống cây rừng thuộc Viện Khoa học lâm nghiệp. Kết quả nghiên cứu từ
những năm 1990 đến nay đã đạt đƣợc những thành quả nhất định.
Giai đoạn 1994 – 2000, những nghiên cứu về lai nhân tạo một số loài

P18U29, C9G15 đạt thể tích thân cây tƣơng ứng là 26,1; 26,1; 22,8; 21
dm
3
/cây ở điểm khảo nghiệm Minh Đức, Bình Phƣớc, vƣợt giống đối
chứng PN14 tƣơng ứng là 383%, 384%, 335%, 321%, 309% (Nguyễn Việt
Cƣờng và cộng sự 2005) [14].
Nghiên cứu về chọn giống kháng bệnh có năng suất cao cho bạch đàn
thực hiện trong thời gian từ 2001 – 2005 đã chọn đƣợc 2 dòng Bạch đàn là
SM16 và SM23 có khả năng chống chịu bệnh và sinh trƣởng nhanh ở vùng
Đông Nam Bộ (Nguyễn Hoàng Nghĩa và cộng sự 2010) [23]. Từ năm 2005
đến 2010, nghiên cứu chọn các dòng bạch đàn chống chịu bệnh có năng suất
cao phục vụ trồng rừng kinh tế đã xác định đƣợc 22 loại nấm gây bệnh
cho Bạch đàn tại khu vực Đông Bắc bộ và vùng Trung tâm, trong đó có 2
loài nấm Cylindrocladium clavatum và Cylindrocladium scoparium lần
đầu tiên đƣợc ghi nhận có phân bố ở Việt Nam, ngoài ra còn xác định
đƣợc các nấm gây bệnh nguy hiểm nhất cho từng đối tƣợng Bạch đàn. Từ
năm 2007 đến 2010, đề tài cũng đã tuyển chọn đƣợc 30 cây trội Bạch đàn 13
và nhân giống đƣợc 22 dòng, công nhận 9 dòng Bạch đàn tiến bộ kỹ thuật là
SM7, EF24, EF39, EF55, SM51, SM52, B28, B32, B34 (Nguyễn Hoàng
Nghĩa, 2010) [23].
Giai đoạn 2006 – 2010, các kết quả nghiên cứu lai tạo giống và khảo
nghiệm một số loài Bạch đàn tại Hà Nội, Phú Thọ, Tuyên Quang, Yên Bái,
Bình Định, Cà Mau,… đã tìm ra đƣợc các loài Bạch đàn sinh trƣởng triển
vọng cho từng vùng sinh thái điển hình, nhƣ: Bạch đàn vùng cao gồm Bạch
đàn grandis, Bạch đàn Saligna, Bạch đàn microcorys; Bạch đàn vùng thấp phù
hợp các tỉnh phía Nam gồm Bạch đàn Camal, Bạch đàn tere; Bạch đàn vùng
thấp phù hợp các tỉnh phía Bắc gồm Bạch đàn uro, Bạch đàn liễu, Bạch đàn

chứng, đồng thời cũng là các dòng có tỷ trọng gỗ cao trung bình từ 521 –
544kg/m
3
; 23 dòng bạch đàn Uro và 18 dòng bạch đàn lai UP có sinh trƣờng
nhanh, thể tích thân cây vƣợt trên 50% so với đối chứng (Hà Huy Thịnh,
2010) [5].
1.2.3. Kết quả nghiên cứu trồng rừng thâm canh ở Đồng Hỷ -Thái Nguyên
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nƣớc “Nghiên cứu các giải pháp
Khoa học Công nghệ để phát triển gỗ nguyên liệu cho xuất khẩu” mã số
“KC.06.05.NN” do Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam chủ trì, TS.
Nguyễn Huy Sơn làm chủ nhiệm đã triển khai hợp phần nghiên cứu trồng
rừng thâm canh ở Đồng Hỷ - Thái Nguyên thu đƣợc một số kết quả:
- Keo lai: trồng trên đất feralit phát triển trên phiến thạch sét, xử lý thực
bì toàn diện bằng thủ công, cuốc hố 40x40x40cm, mật độ trồng 1330-
1660cây/ha, giống Keo lai gồm các dòng BV5; BV10 và BV33 (tỷ lệ 1:1:1)
trồng sớm vào đầu mùa mƣa, bón lót và bón thúc năm thứ hai:
100gNPK(5:10:3)+400gVS+50g vôi bột/gốc, bắt đầu từ mùa khô đầu tiên tiến
hành tỉa những cành lớn trên thân cây, chăm sóc năm thứ nhất, năm thứ 2 và
thứ 3 mỗi năm 3 lần, dẫy cỏ theo hàng rộng 1,0m, xới xáo quanh gốc sâu 10-
15cm và vun gốc từ 0,8-1,0m, sau 7-8 năm tuổi có thể đạt 25-30m
3
/ha/năm.
- Bạch đàn: trồng trên đất feralit phát triển trên phiến thạch sét, xử lý
thực bì toàn diện bằng thủ công, cuốc hố 40x40x40cm, mật độ trồng 1660cây
/ha, bạch đàn lai GU8 nhân giống bằng phƣơng pháp mô-hom, bón lót và bón
thúc năm thứ 2: 200gNPK(5:10:3)+ 100gVS+50g vôi bột /hố, sau 7-8 năm
tuổi có thể đạt 25-30m
3
/ha/năm.
- Về sâu bệnh hại chính và biện pháp phòng trừ: tác giả cũng chỉ ra

16
CHƢƠNG II
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ
- XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 2.1. Điều kiện tự nhiên
2.1.1. Vị trí địa lý
Thái Nguyên là tỉnh miền núi thuộc vùng trung du miền núi phía Bắc
có tọa độ địa lý từ 20
o
20

– 22
o
25

vĩ độ Bắc và 105
o
25


độ sau:
+ Độ dốc cấp I – II ( < 8
o
) chiếm 24,2%.
+ Độ dốc cấp II ( 8 – 15
o
) chiếm 19,4%
+ Độ dốc cấp IV ( 15 -25
o
) chiếm 17,55%.
+ Độ dốc cấp V (>25
o
) chiếm 38,9%.
2.1.3. Khí hậu
Thái Nguyên nằm trong khu vực mang đặc trƣng của khí hậu nhiệt đới
gió mùa với hai mùa rõ rệt, mùa nóng ( mƣa nhiều) từ tháng 5 đến tháng 10
và mùa lạnh( ít mƣa) từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.
- Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm ở phía Bắc và phía Nam chênh
lệch nhau khoảng 0,5 – 1,0
o
nhƣng nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối trong mùa
đông chênh lệch nhau khá cao từ 7 – 7,2
o
. Tổng tích ôn trong năm đạt 8.000 –
8.500
o
. Nhiệt độ trung bình năm đạt 22,5 – 23
o
số giờ nắng khoảng 1.620 giờ.
- Chế độ mƣa: mƣa thƣờng tập trung nhiều từ tháng 4 đến tháng 10

năm sau. Lƣợng nƣớc trên các sông trong các tháng này bình quân tháng chỉ
bằng 1,5 – 2,0% tổng lƣợng nƣớc trên sông cả năm. Do đó trong các tháng
mùa cạn nƣớc trên các sông thƣờng không đáp ứng đƣợc nhu cầu dung nƣớc
cho sản xuất và sinh hoạt của ngƣời dân.
2.1.5. Các nguồn tài nguyên
- Tài nguyên đất: Kết quả tổng hợp từ bản đồ thổ nhƣỡng tỉ lệ 1/ 50.000
của tỉnh cho thấy Thái Nguyên có một số loại đất chính nhƣ sau:
+ Đất phú sa: 14.448 ha chiếm 5,49% diện tích tự nhiên phân bố dọc
sông Cầu và Sông Công và các sông khác trên địa bàn tỉnh.
+ Đất bạc màu: 4.331 ha chiếm 1,22% diện tích đất tự nhiên phân bố
chủ yếu ở các huyện phía nam.
+ Đất dốc tụ: 18.411 ha chiếm 5,20% diện tích tự nhiên phân bố ở các
thung lũng trên địa bàn các huyện thuộc tỉnh.
+ Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa: 4.380ha chiếm 1,24% diện tích tự
nhiên phân bố ở hầu khắp các thung lũng trên địa bàn các huyện.
+ Đất nâu đỏ trên núi đá vôi: 6.289ha chiếm 1,78% diện tích đất tự
nhiên phân bố ở các huyện Võ Nhai, Phú Lƣơng.
+ Đất đỏ vàng trên đá phiến thạch sét: 136.880 ha phân bố tập trung
thành các vùng lớn thuộc Phú Lƣơng, Đồng Hỷ, Võ Nhai, Đại Từ, Định Hóa.
+ Đất nâu đỏ trên đá mắc ma bazo trung tính: 22.035 ha chiếm 6,22%
diện tích tự nhiên phân bố ở các huyện Võ Nhai, Phú Lƣơng, Định Hóa
+ Đất vàng nhạt phát triển trên đá cát 42.052 ha chiếm 11,88% diện
tích tự nhiên phân bố ở các huyện trong tỉnh loại đất này trên tầng đất mặt 19
thƣờng có nhiều mầu xám, thành phần cơ giới thịt nhẹ, có nhiều sạn thạch
anh, đất chua.
+ Đất nâu vàng trên phù sa cổ: 14. 776 ha chiếm 4, 17% phân bố chủ
yếu ở các huyện Phú Lƣơng, Đồng Hỷ, Võ Nhai, Phổ Yên, Đại Từ. Đất


20
2.2.2. Cơ sở hạ tầng
* Giao thông vận tải:
Trên địa bàn hiện nay có ba loại hình giao thông vận tải: Đó là đƣờng
bộ, đƣờng sắt và đƣờng thủy.
- Đƣờng bộ: Tổng chiều dài đƣờng bộ vào khoảng 4.522 km, trong đó
quốc lộ 3 tuyến (quốc lộ 3, quốc lộ 37, quốc lộ 1B) dài 183 km, tỉnh lộ 11
tuyến dài 255km, huyện lộ 150 tuyến có chiều dài 869km và hơn 100 tuyến
đƣờng liên xã dài 325 km. Đến nay đã có 100% số xã có đƣờng ô tô vào đến
trung tâm xã.
- Đƣờng sắt: Gồm 3 tuyến với tổng chiều dài 74,5 km chủ yếu vận
chuyển than và quặng.
- Đƣờng thủy: Tổng chiều dài 56 km, trong đó tuyến Thái Nguyên đi
Phú Bình dài 16 km, tuyến Chợ Mới đi Thái Nguyên dài 40 km.
Mật độ lƣới đƣờng trong tỉnh 1,31 km/km
2
.
*Y tế:
Trên địa bàn tỉnh có 220 cơ sở y tế khám chữa bệnh gồm 19 bệnh viện,
13 phòng khám khu vực, một nhà hộ sinh, 180 trạm y tế xã phƣờng với hơn
2.720 cán bộ y tế và 3.525 giƣờng bệnh, hàng năm khám và điều trị cho
khoảng trên 1.000.000 lƣợt ngƣời. Bình quân có 25,7 cán bộ y tế/ 1 vạn dân ,
khoảng 7,6 bác sĩ/ 1 văn dân. Và 30,8 giƣờng bệnh/ 1 vạn dân.
* Giáo dục:
Năm 2009 toàn tỉnh có 631 trƣờng học, trong đó có 199 trƣờng mẫu
giáo, trƣờng trung học phổ thong có 28 trƣờng, 100% số xã trong toàn tỉnh
hoàn thành chƣơng trình xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học.
Với 18 trƣờng Đại học, Cao đẳng và trung học chuyên nghiệp và dậy
nghề của Trung ƣơng và của tỉnh đóng trên địa bàn thu hút khoảng 50.000

và rửa trôi ở mức độ nhẹ.
Các thông tin cơ bản về điều kiện tự nhiên tại 2 khu khảo nghiệm đƣợc
trình bày trong bảng 02.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status