Nghiên cứu xác định sự biến đổi của một số trung tâm khí áp chính ảnh hưởng đến bắc bộ việt nam trong bối cảnh biến đổi khí hậu - Pdf 52

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH SỰ BIẾN ĐỔI CỦA
MỘT SỐ TRUNG TÂM KHÍ ÁP CHÍNH ẢNH HƯỞNG ĐẾN
BẮC BỘ VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
CHUYÊN NGÀNH: KHÍ TƯỢNG VÀ KHÍ HẬU HỌC

LÊ THỊ THANH

HÀ NỘI, NĂM 2018


BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH SỰ BIẾN ĐỔI CỦA
MỘT SỐ TRUNG TÂM KHÍ ÁP CHÍNH ẢNH HƯỞNG ĐẾN
BẮC BỘ VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
LÊ THỊ THANH
CHUYÊN NGÀNH: KHÍ TƯỢNG VÀ KHÍ HẬU HỌC
MÃ SỐ: 8440222
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. Nguyễn Viết Lành

HÀ NỘI, NĂM 2018


CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI

“Nghiên cứu xác định sự biến đổi của một số trung tâm khí áp chính ảnh
hưởng đến Bắc Bộ Việt Nam trong bối cảnh biến đổi khí hậu” đã hoàn thành trong
tháng 01 năm 2019. Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận
văn, tác giả đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của thầy cô, bạn bè và gia đình.
Trước hết tác giả luận văn xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS. Nguyễn
Viết Lành đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ trong quá trình nghiên cứu và hoàn
thành luận văn này.
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Khoa Khí tượng Thủy văn,
Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đã giảng dạy, truyền đạt kiến
thức, tạo điều kiện và hướng dẫn trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn.
Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện
để tác giả có thể hoàn thành luận văn này.
Trong khuôn khổ một luận văn, do sự giới hạn về thời gian và kinh nghiệm
nên không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy tác giả rất mong nhận được ý kiến
đóng góp quý báu của thầy cô và các bạn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 22 tháng 01 năm 2019
Tác giả

Lê Thị Thanh


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .......................................................................................................1
MỞ ĐẦU .....................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài ..........................................................................................1
2. Mục tiêu của đề tài ..................................................................................................2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ...........................................................................2
4. Bố cục của luận văn ................................................................................................2
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU .................................3


3.2.4 Sự biến đổi cường độ của áp cao Tây Tạng .....................................................46
3.3 Sự biến đổi phạm vi các của trung tâm khí áp ....................................................48
3.3.1 Sự biến đổi phạm vi của áp cao Thanh Tạng ...................................................49
3.3.2 Sự biến đổi phạm vi của áp cao Hoa Đông ......................................................50
3.3.3 Sự biến đổi phạm vi của áp thấp Trung Hoa....................................................50
3.3.4 Sự biến đổi phạm vi của áp cao Tây Tạng .......................................................50
3.4 Mối quan hệ giữa cường độ của các trung tâm khí áp với nhiệt độ và lượng mưa
...................................................................................................................................53
3.4.1 Mối quan hệ giữa cường độ của các trung tâm khí áp với nhiệt độ .................53
3.4.2 Mối quan hệ giữa cường độ của các trung tâm khí áp với lượng mưa tháng ..60
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ...................................................................................62
1. Kết luận .................................................................................................................62
2. Kiến nghị ...............................................................................................................62
TÀI LIỆU THAM KHẢO .........................................................................................64


TÓM TẮT LUẬN VĂN
Họ và tên học viên: Lê Thị Thanh
Lớp CH2B.K

Khóa: 2017-2018

Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Viết Lành
Tên đề tài: Nghiên cứu xác định sự biến đổi của một số trung tâm khí áp chính ảnh
hưởng đến Bắc Bộ Việt Nam trong bối cảnh biến đổi khí hậu

Tóm tắt: Luận văn đã sử dụng số liệu 35 năm (từ năm 1981 đến 2015) về
nhiệt độ và lượng mưa quan trắc tại 10 trạm khí tượng trên khu vực Bắc Bộ
và số liệu tái phân tích để đánh giá sự biến đổi về cường độ và phạm vi của

trên khu vực Bắc Bộ ..................................................................................................37
Bảng 3.7. Hệ số góc của đường thẳng xu thế biến đổi lượng mưa trung bình tháng39
Bảng 3.8. Phương trình xu thế (yt) biểu thị sự biến đổi cường độ áp cao Thanh Tạng
từ năm 1981 đến 2015 ...............................................................................................43
Bảng 3.9. Phương trình xu thế (yt) biểu thị sự biến đổi cường độ áp cao Hoa Đông
từ năm 1981 đến 2015 ...............................................................................................44
Bảng 3.10. Phương trình xu thế (yt) biểu thị sự biến đổi cường độ áp cao Trung Hoa
từ năm 1981 đến 2015 ...............................................................................................46
Bảng 3.11. Phương trình xu thế (yt) biểu thị sự biến đổi cường độ áp cao Tây Tạng
từ năm 1981 đến 2015 ...............................................................................................46
Bảng 3.12. Hệ số tương quan giữa nhiệt độ trung bình tháng tại 10 trạm khí tượng
với cường độ của trung tâm áp cao Tây Tạng (TaT), áp cao Thanh Tạng (ThT), áp
thấp Trung Hoa (TH) và áp cao Hoa Đông (HĐ) .....................................................53
Bảng 3.13. Hệ số tương quan giữa nhiệt độ tối cao trung bình tháng tại 10 trạm khí
tượng với cường độ của trung tâm áp cao Tây Tạng (TaT), áp cao Thanh Tạng
(ThT) và áp thấp Trung Hoa (TH) ............................................................................56
Bảng 3.14. Hệ số tương quan giữa nhiệt độ tối thấp trung bình tháng tại 10 trạm khí
tượng với cường độ của trung tâm áp cao Tây Tạng (TaT), áp cao Thanh Tạng
(ThT) và áp thấp Trung Hoa (TH) ............................................................................58
Bảng 3.15. Hệ số tương quan giữa lượng mưa tháng tại 10 trạm khí tượng với
cường độ của trung tâm áp cao Tây Tạng (TaT), áp cao Thanh Tạng (ThT) và áp
thấp Trung Hoa (TH) ................................................................................................60


DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1. Bản đồ đường dòng và đường đẳng cao trung bình nhiều năm mực
1000mb tháng 7 ...........................................................................................................3
Hình 1.2. Bản đồ đường dòng và đường đẳng cao trung bình nhiều năm mực
1000mb tháng 5 ...........................................................................................................5
Hình 1.3. Bản đồ đường dòng và đường đẳng cao trung bình nhiều năm mực 925mb

Hình 3.14. Sự biến đổi phạm vi của áp cao Tây Tạng trong giai đoạn từ 1981 đến
năm 2000 (đường màu xanh) và giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2015 (đường màu
đỏ)..............................................................................................................................52


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Khu vực Bắc Bộ cũng như toàn lãnh thổ Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt
đới gió mùa và chịu ảnh hưởng cũng như sự chi phối của gió mùa châu Á, vì vậy
biến đổi khí hậu (BĐKH) toàn cầu không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến nền nhiệt
cũng như lượng mưa trên khu vực Bắc Bộ và toàn lãnh thổ Việt Nam mà nó còn
ảnh hưởng gián tiếp đến các yếu tố khí tượng như nhiệt độ, mưa,… Trong một số
trường hợp sự kết hợp của nhiều hệ thống thời tiết khác nhau làm cho mưa lớn và
nắng nóng diễn ra phức tạp hơn, trong những năm gần đây đã có rất nhiều nhà khoa
học quan tâm nghiên cứu về BĐKH vì vậy một loạt các công trình nghiên cứu đã
được thực hiện một cách thành công. Các công trình đó đã tập trung đánh giá được
sự biến đổi của các yếu tố khí hậu như nhiệt độ không khí, lượng mưa, độ ẩm không
khí,… đặc biệt là tần số và cường độ của các xoáy thuận nhiệt đới, front lạnh cũng
như một số yếu tố và hiện tượng khí hậu cực đoan.
BĐKH đã và đang diễn ra trên toàn cầu song ở mỗi quốc gia, mỗi vùng có
những ảnh hưởng khác nhau. Nhiệt độ toàn cầu tăng nhưng sự tăng lên đó không
đều. Các nhà khoa học đã chứng minh được rằng, trong các tháng mùa đông nhiệt
độ tăng nhiều hơn trong các tháng mùa hè; trên các vùng lục địa nhiệt độ tăng
nhanh hơn trên các đại dương. Vì vậy, các trung tâm khí áp chắc chắn sẽ bị biến đổi
nhiều dưới tác động của BĐKH.
Thế nhưng, một số trung tâm khí áp chính ảnh hưởng đến thời tiết và khí hậu
Việt Nam, tác nhân làm thay đổi các yếu tố khí hậu cũng như những hiện tượng khí
tượng cực đoan lại chưa được quan tâm nghiên cứu. Nghĩa chúng ta chỉ mới tập
trung nghiên cứu về hệ quả sự biến đổi của các trung tâm khí áp (các yếu tố và hiện
tượng khí hậu) chứ chưa quan tâm đúng mức tới sự thay đổi vị trí, cường độ cũng

4. Bố cục của luận văn
Luận văn được bố cục thành các nội dung như sau:
-

-

-

Mở đầu
Chương 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu. Chương này trình bày các trung
tâm khí áp: Áp cao Thanh Tạng, áp cao Tây Tạng, áp cao Hoa Đông và áp thấp
Trung Hoa và tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về sự
BĐKH và sự biến đổi của các trung tâm khí áp trong bối cảnh BĐKH.
Chương 2. Số liệu và phương pháp nghiên cứu. Chương này trình bày các nguồn
số liệu và phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong luận văn.
Chương 3. Xác định sự biến đổi của một số trung tâm khí áp và ảnh hưởng của
chúng khí hậu đến Bắc Bộ Việt Nam. Chương này trình bày mức độ BĐKH và biến
đổi cường độ và phạm vi hoạt động của các trung tâm khí áp được nghiên cứu.
Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
2


CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Hoạt động của những trung tâm khí áp được nghiên cứu
1.1.1 Áp thấp Trung Hoa [6, 7, 8]
1) Nguồn gốc
Áp thấp Trung Hoa là một áp thấp nhiệt được hoạt động trên lục địa Trung
Quốc trong những tháng mùa hè khi nền nhiệt của vùng nhiệt độ này tăng lên một cách

Meiyu được hình thành trên lưu vực sông này và gây mưa kéo dài ở đây trong thời
kì tháng 6, 7. Đồng thời, hình thế thời tiết này lại gây nên những đợt nắng nóng gay
gắt cho khu vực Bắc Bộ Việt Nam.
1.1.2 Áp cao Thanh Tạng [2, 8]
1) Nguồn gốc
Áp cao Thanh Tạng là một áp cao hoạt động trên khu vực cao nguyên Tây
Tạng –Thanh Hải nên được gọi là áp cao Thanh Tạng. Trên bán cầu Bắc, Khromov
đã xác định và phân thành 5 loại áp cao khác nhau với những đặc điểm hoạt động và
hệ quả thời tiết khác nhau, theo đó, áp cao Thanh Tạng là áp cao loại III (CIII), áp
cao tĩnh vĩ độ trung bình. Theo Khromov, áp cao loại III là những áp cao tồn tại khá
bền vững và ít di chuyển nhưng cường độ của nó thường biến động tương đối lớn, ở
trạng thái tĩnh, áp cao này còn đóng vai trò của một nhân tố gió mùa.
Áp cao Thang Tạng hoạt động một cách độc lập và rõ rệt từ tháng 4 đến
tháng 9, khi áp cao Siberia suy yếu và rút sang phía tây (hình 1.2). Đến tháng 10,
khi bề mặt lục địa ở đây lạnh đi, áp cao Siberia hoạt động trở lại thì áp cao Thanh
Tạng bị lấn át và hòa nhập vào áp cao này nên không còn phân tích một cách độc
lập được nữa, giai đoạn hoạt động của áp cao Thanh Tạng kết thúc.
Từ hình 1.2 ta thấy, tại mực 1000mb, trên khu vực phía bắc cao nguyên Tây
Tạng, ở vào khoảng 320N; 870E, tồn tại một trung tâm áp thấp với đường đẳng cao
14dam đtv khép kín. Theo độ cao, áp cao này phát triển lên đến trên mực 850mb.
Bên cạnh đó, ta còn có thể nhận thấy, áp cao Siberia đã dịch chuyển hẳn sang phía
4


tây, ở vào khoảng 50 0N; 500E với đường đẳng cao 12dam đtv (thấp hơn trung tâm
áp cao Thanh Tạng 2dam đtv).
2) Hệ quả thời tiết
Như đã nói, áp cao Thanh Tạng hình thành và ảnh hưởng đến Việt Nam
trong những tháng mùa hè. Vào thời kì này, áp cao Thanh Tạng về thường gây nên
mưa rào và dông ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ nhưng cường độ và độ kéo dài của

thành và mạnh lên tại chỗ. Lưỡi cao này luôn duy trì một tầng kết ổn định thẳng
đứng, đó chính là hình thế synop tạo nên mùa thu trong xanh mà miền Bắc Việt
Nam cũng như phần lục địa phía đông và nam của Trung Quốc có được. Ở đây cần
phân tích được một đặc điểm quan trọng của loại hình thời tiết này là tính ổn định
theo thời gian của nó. Tính ổn định của thời tiết mùa thu không có loại hình thời tiết
nào thay thế được, thời tiết tốt liên tục trong nhiều ngày, chỉ có sự thăng giáng
không nhiều về nhiệt độ và tốc độ gió mà không xuất hiện một sự biến đổi đột biến
nào. Thật vậy, trong thời kỳ này hầu như không có một đợt không khí lạnh nào xâm
6


nhập, hoặc nếu có thì cũng rất ít và không mạnh mẽ. Sở dĩ như vậy là vì áp cao Hoa
Đông được hình thành tại chỗ với tầng kết rất ổn định và lại có kết cấu toàn bộ hoàn
chỉnh, không bị chia cắt bởi các rãnh khí áp hay các đường đứt có thể tạo ra những
dải hội tụ gió làm gián đoạn đường dòng.
1.1.4 Áp cao Tây Tạng [7, 8]
1) Nguồn gốc
Áp cao Tây Tạng là một áp cao tồn tại trên cao nguyên Tây Tạng, được gọi
là áp cao Tây Tạng. Áp cao này, hoạt động mạnh nhất trên mực 200mb chủ yếu
trong các tháng mùa hè, khi áp cao cận nhiệt đới Bắc Thái Bình hoạt động mạnh trở
lại. Trong tháng 7, sự hoạt động của áp cao này được thể hiện bởi đường đẳng cao
1248 và 1256dam đtv khép kín với đới gió đông thổi từ Philippines đến châu Phi
(đới gió đông nhiệt đới) (hình 1.4).

Hình 1.4. Bản đồ đường dòng và đường đẳng cao trung bình nhiều năm mực 200mb
tháng 7
2) Hệ quả thời tiết
Áp cao Tây Tạng là một hệ thống khí áp hoạt động trên tầng đối lưu trên sự
hoạt động của nó có mối liên hệ với các trung tâm áp thấp tầng đối lưu dưới trong
cơ cấu của vòng hoàn lưu Hadlay. Vì vậy hệ quả thời tiết của nó gắn liền với sự

cầu vượt mức trung bình của thế kỉ 20. Cũng theo đó, tháng 6 năm 2010 được ghi
nhận là tháng nóng nhất trên toàn thế giới kể từ những năm 1880, khi các quan trắc
khí tượng được thực hiện một cách tương đối hệ thống.
Ngoài ra, trong mười năm qua kể từ năm 2001-2010, nhiệt độ trung bình
toàn cầu đã cao hơn khoảng 0,470C so với giai đoạn 1961-1990, và khoảng 0,210C
so với giai đoạn 1991-2000, mức cao nhất từng được ghi nhận đối với bất kì một
giai đoạn 10 năm nào kể từ khi bắt đầu quan trắc khí hậu bằng thiết bị đo đạc.
Trong giai đoạn này, hầu hết các khu vực trên thế giới đều quan trắc được nhiệt độ
cao hơn nhiệt độ trung bình của thế kỉ 20 (ở đây lấy nhiệt độ trung bình là khoảng
8


140C, là nhiệt độ trung bình toàn cầu trong giai đoạn cơ sở 1961-1990), điều này
được thể hiện rõ ràng nhất trên các vĩ độ cao ở bán cầu Bắc. Ở Green Land, các nhà
khoa học thấy rằng nhiệt độ trong cả giai đoạn này vượt mức trung bình 1,71 0C, còn
đối với năm 2010, nhiệt độ vượt mức trung bình 3,20C. Ở Châu Phi, người ta quan
sát thấy nhiệt độ trong tất cả các năm của thập kỉ đều cao hơn mức trung bình.
Các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, nhiệt độ trung bình tại đỉnh các lớp
băng vĩnh cửu ở bán cầu Bắc đã tăng 30C kể từ năm 1980. Kết quả phân tích chuỗi
số liệu từ năm 1850-2006 đã chỉ ra rằng, trong thời kì này có 12 năm nóng nhất,
trong đó 11 năm xảy ra vào thời kì từ năm 1995-2006 (chỉ trừ năm 1996). Trong
giai đoạn 1961-1990, nhiệt độ tối cao tăng 0,140C/thập kỉ, còn nhiệt độ tối thấp tăng
0,20C/thập kỉ.
Yêu tố được tập trung nghiên cứu nhiều sau nhiệt độ là giáng thủy hoặc
lượng mưa. Giáng thủy là một đại lượng rất quan trọng vì sự biên đổi của những
hình thê giáng thủy có thể dẫn đên lũ lụt hoặc hạn hán ở những vùng khác nhau.
Chính vì vậy, thông tin về sự biên đổi giáng thủy theo không gian cũng như theo
thời gian là rất cần thiêt không chỉ mang ý nghĩa khoa học mà còn có ý nghĩa thực
tiễn rất lớn. Trên thế giới, những nghiên cứu này được thực hiện với nhiều thời kỳ
khác nhau và với các quy mô không gian khác nhau: Quy mô toàn cầu, quy mô bán

Hiện tượng hạn hán được quan sát trong thời gian dài, nên có thể đánh giá
một cách khá chi tiết. Kết quả tính toán cho thấy, xu thế hạn hán tăng lên từ giữa
những năm 1950, ở bán cầu Bắc, cụ thể là ở những khu vực như phía nam lục địa
Á-Âu, Bắc Phi, Canada, Alaska còn ở Đông Bắc Mỹ và Nam Mỹ lại hạn hán lại có
xu hướng giảm xuống. Ở bán cầu Nam, bề mặt có độ ẩm cao vào những năm 1970,
và tương đối khô hạn vào những năm 1960 và 1990, đã có một thời kì hạn hán vào
năm 1974-1998. Xu hướng giảm lượng mưa từ năm 1950 có thể là nguyên nhân
chính gây ra hiện tượng khô hạn, mặc dù nhiệt độ bề mặt tăng lên trong 2-3 thập kỉ
qua cũng có thể là nguyên nhân làm hiện tượng hạn tăng lên. Một nghiên cứu đã
cho rằng diện tích đất khô trên toàn cầu đã tăng gấp đôi kể từ năm 1970 trở lại đây,
liên quan tới sự giảm lượng mưa trên đất liền do hoạt động của hiện tượng ENSO
và do sự nóng lên của nhiệt độ bề mặt [21].
Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, mực nước biển trung bình toàn cầu đã
tăng lên 197 mm trong giai đoạn từ năm 1870-2004. Trong thế kỉ 20 tốc độ tăng
mực nước biển trung bình tính toán được là 1,7±0,3 mm/năm.
Về cơ bản, sự biến đổi nhiệt độ toàn cầu có thể được tóm tắt như sau: Nhiệt
độ tăng lên nhiều nhất ở vùng vĩ độ trung bình và vĩ độ cao (từ 40-700N), trong mùa
đông tăng nhanh hơn mùa hè, trên lục địa tăng nhanh hơn trên đại dương, trên bán
cầu Bắc tăng nhanh hơn bán cầu Nam. Hiện tượng này chắc chắn đã làm thay đổi
trường khí áp trên toàn cầu.
1.2.1.2 Nghiên cứu về sự biến đổi các trung tâm khí áp
Những thay đổi về trường khí áp, thể hiện qua cường độ, phạm vi của các
trung tâm khí áp, nên cùng với những nghiên cứu về biến đổi khí hậu thông qua các
10


yếu tố và hiện tượng khí hậu cũng như mực nước biển nói trên, nhiều công trình
nghiên cứu về sự biến đổi của các trung tâm khí áp, nguyên nhân trực tiếp gây nên
sự biến đổi của các yếu tố và hiện tượng khí hậu, cũng được nhiều nhà khí tượng
quan tâm nghiên cứu.

Trong khi đó, các nghiên cứu cũng đã xác nhận rằng, gió mùa mùa đông Đông Á đã
11


và đang suy yếu trong những thập kỷ gần đây cùng với sự suy yếu về cường độ của
áp cao Siberia.
Zhou Tianjun và cs. (2009) cũng xác nhận rằng, phạm vi và cường độ của áp
cao Bắc Thái Bình Dương đã và đang tăng lên. Sự tăng này xảy ra ở phía tây mạnh
hơn ở phía đông. Theo các tác giả, sự tăng lên của nhiệt độ (bao gồm cả nhiệt độ
không khí và nhiệt độ nước biển) trên vùng duyên hải phía nam Trung Quốc là
nguyên nhân chính dẫn đến áp cao Bắc Thái Bình Dương mạnh lên và mở rộng
sang phía tây [28].
1.2.2 Trong nước
1.2.2.1 Nghiên cứu về sự biến đổi khí hậu
Việt Nam là quốc gia nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa Đông Nam Á, với bờ
biển trải dài, những khu vực đồng bằng châu thổ ven sông thấp, nền kinh tế phụ
thuộc nhiều vào nguồn tài nguyên thiên nhiên nên là một trong những nước bị ảnh
hưởng nghiêm trọng bởi BĐKH. Thêm vào đó, do quá trình đô thị hóa diễn ra
nhanh chóng sẽ góp phần làm gia tăng sự ảnh hưởng của BĐKH đến các nhóm dễ bị
tổn thương vì sự tập trung đông ở các khu vực có nguy cơ rủi ro cao. Do đó, việc
nghiên cứu và tìm hiểu xu thế BĐKH đang là vấn đề đang được các nhà khoa học
quan tâm.
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng [10, 11, 12] nhiệt độ trung bình trong 50
năm qua (1958-2007) đã tăng lên từ 0,5-0,70C. Nhiệt độ trung bình một số tháng
mùa hè tăng khoảng 0,1-0,30C/thập kỉ. Về mùa đông, nhiệt độ giảm đi trong các
tháng đầu mùa và tăng lên trong các tháng cuối mùa, nhiệt độ trong mùa đông có xu
thế tăng nhanh hơn trong mùa hè. Nhiệt độ mùa đông trên các vùng khí hậu phía
Bắc có sự biến đổi vượt trội hơn so với các vùng khí hậu phía Nam.
Phân tích số ngày nắng nóng trong từng thời kỳ trên lãnh thổ Việt Nam,
Nguyễn Đức Ngữ [10] khẳng định rằng, số ngày nắng nóng trong thập kỷ 19912000 nhiều hơn so với các thập kỷ trước, đặc biệt ở Trung Bộ và Nam Bộ.

hai tháng này trên các vùng khí hậu đều tăng, trong đó các vùng khí hậu phía Nam
tăng nhanh hơn các vùng khí hậu phía Bắc, trên khu vực Tây Nguyên tăng nhanh
hơn các khu vực khác. Mức độ tăng trong tháng 7 nhỏ hơn trong tháng 1, đặc biệt
tại trạm Huế, nhiệt độ tháng7 còn giảm với hệ số góc xấp xỉ -0,02. Theo các tác giả,
sự giảm nhiệt độ tại Huế là một vấn đề cần được kiểm chứng kĩ lưỡng, đặc biểm là
kiểm chứng từ nguồn số liệu quan trắc [4].
Bằng việc sử dụng số liệu 40 năm (từ năm 1971 đến năm 2010) của 7 trạm
khí tượng (Mường Tè, Hàm Yên, Nho Quan, Hòn Ngư, Quy Nhơn, Pleiku và Mỹ
Tho) những trạm ít chịu ảnh hưởng của sự vi phạm hành lang an toàn kĩ thuật và ít
chịu ảnh hưởng của sự biến đổi của môi trường xung quanh, đại diện cho 7 vùng khí
hậu trên lãnh thổ cả nước, Nguyễn Viết Lành và cs. đã tính toán xu thế biến đổi của
các yếu tố khí tượng chính. Kết quả cho thấy, nhiệt độ không khí trung bình năm tại
7 trạm khí tượng này đều tăng, trong suốt 40 năm qua với hệ số góc có giá trị nhỏ
13


nhất là 0,0064 (tại trạm Mường Tè) và lớn nhất là 0,0183 (tại trạm Hòn Ngư). Nhiệt
độ trung bình tối cao năm tăng tại 6 trạm và giảm nhẹ tại trạm Mường Tè với hệ số
góc là -0,0063. Nhiệt độ trung bình tối thấp năm tại cả 7 trạm khí tượng đều tăng
với hệ số góc khá lớn, đặc biệt là tại trạm Hàm Yên (0,0471) [3, 9].
Cũng bằng nguồn số liệu đã nói, các tác giả đã tiến hành tính toán xu thế biến
đổi của tổng lượng mưa năm, lượng mưa mùa mưa và lượng mưa mùa khô. Kết quả
cho thấy, tại 3 trạm Mường Tè, Quy Nhơn và Mỹ Tho có tổng lượng mưa năm
tăng còn tại 4 trạm: Hàm Yên, Nho Quan, Hòn Ngư và Pleiku có tổng lượng mưa năm
giảm. Sự biến đổi của lượng mưa mùa mưa tương tự như xu thế biến đổi của tổng
lượng mưa năm. Sự biến đổi của lượng mưa mùa khô giảm nhẹ tại 4 trạm: Mường
Tè, Hàm Yên, Hòn Ngư và Pleiku và tăng tại 3 trạm còn lại.
Khi nghiên cứu về sự biến đổi khí hậu trên lãnh thổ Việt Nam, Nguyễn Viết
Lành và cs. đã kết luận rằng, nhìn chung, lượng mưa tháng 1 tăng trên hầu hết các
vùng khí hậu, ngoại trừ khu vực Tây Nguyên. Còn trong tháng 7, lượng mưa tại tất

còn mực nước biển thấp nhất thì ngược lại, tăng chậm hơn, thậm chí có nơi hạ thấp.
Kết quả tính toán cụ thể cho 3 trạm: Hòn Dấu, Sơn Trà và Vũng Tàu đại diện cho 3
khu vực bờ biển: miền Bắc, miền Trung và miền Nam cho thấy, mực nước biển
trung bình tại cả 3 trạm đều tăng, trong đó tại Hòn Dấu tăng mạnh nhất.
Đinh Văn Ưu và CS (2005) [17] đã nghiên cứu “Biên động mùa và nhiều
năm của trường nhiệt độ nước mặt biên và sự hoạt động của bão tại khu vực Biên
Đông”. Kêt quả cho thấy có sự biên động đáng kê của trường nhiệt độ nước mặt
biên và hoạt động của bão nhiệt đới trên khu vực Biên Đông trong những thập niên
gần đây. Thông qua việc tính các chỉ số khí hậu có thê thấy khi hiện tượng El Nino
hoạt động mạnh thì sự hoạt động của bão nhiệt đới trên toàn khu vực giảm. Trong
thời kỳ này sự biên động của trường nhiệt độ nước mặt biên và hoàn lưu trên Biên
Đông là đáng kê. Cũng theo tác giả Đinh Văn Ưu (2009) [18] “Đánh giá quy luật
biên động dài hạn và xu thê biên đổi số lượng bão và áp thấp nhiệt đới trên khu vực
Tây Thái Bình Dương, Biên Đông và ven biên Việt Nam” cho thấy số lượng trung
bình năm của bão và siêu bão dao động theo các chu kỳ dài từ hai năm đên nhiều
chục năm. Trong năm thập niên gần đây, số lượng bão ảnh hưởng trực tiêp đên ven
bờ Vịnh Bắc Bộ giảm, trong khi ở Nam Trung Bộ và Nam Bộ lại gia tăng. Tác giả
Nguyễn Văn Tuyên (2007) [16] cũng đã nghiên cứu “Xu hướng hoạt động của xoáy
thuận nhiệt đới trên Tây Bắc Thái Bình Dương và Biên Đông theo các cách phân
loại khác nhau”. Sự phân bố của bão được nghiên cứu trong đó bão được phân loại
theo vùng ảnh hưởng và theo cường độ rồi phân tích xu hướng hoạt động. Kêt quả
phân tích cho thấy, trong thời kỳ 1951-2006, hoạt động của bão trên khu vực Tây
Bắc Thái Bình Dương có xu hướng giảm về số lượng, trong đó số cơn bão yêu và
trung bình có xu hướng giảm, còn số cơn bão mạnh lại có xu hướng tăng lên. Trên
khu vực Biên Đông, những cơn bão vào Biên Đông nhưng không vào vùng ven biên
và đất liền nước ta lại có xu hướng tăng về số lượng. Bão có xu hướng tăng lên ở
hai vùng Trung Bộ và Nam Bộ nhưng ở vùng Bắc Bộ lại có xu hướng giảm. Cường
độ bão có xu hướng giảm, trong đó các cơn bão yêu có xu hướng giảm rõ rệt nhất.
Đối với bão và áp thấp nhiệt đới, theo Nguyễn Đức Ngữ [10], hoạt động của
15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status