Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Hồng Hạnh CNTYA - K50
I. Mở đầu
1.1. Đặt vấn đề.
Khoa học di truyền đạt được những đỉnh cao ngay từ đầu thế kỷ 21, thế kỷ của
sinh học với những thành tựu nổi bật của sinh học phân tử đặc biệt là công nghệ
gen. Nhờ các kỹ thuật di truyền phân tử: kỹ thuật tách ADN, kỹ thuật nhân gen
PCR (Polymeraza Chain Reaction), kỹ thuật cắt gen RFLP (Restriction Fragment
Length Polymorphisms) và giải trình tự gen cho phép chúng ta tiến hành xác định
một kiểu gen nào đó và gọi tên chính xác kiểu gen có liên quan đến tính trạng mà
ta cần nghiên cứu ở mức phân tử. Các nhà khoa học đã chứng minh sự biểu hiện
của các tính trạng là do gen quy định. Mỗi tính trạng có thể do một hoặc nhiều gen
tác động và từ đó tạo nên tính đa dạng cho quần thể. Sự đa hình của các nucleotit
hay chính là sự sai khác về trình tự các nucleotit làm nên sự đa dạng di truyền của
mỗi gen.
Melanocortin receptor 1 (MC1R) là một gen được biết đến với vai trò điều
khiển màu lông ở động vật có vú. Trên thế giới đã có những công trình nghiên cứu
về gen quy định màu lông ở động vật có vú bao gồm nghiên cứu trên trâu bò
(Klungland và cs, 1995), trên ngựa (Marklund và cs, 1996), cáo (Vage và cs, 1997),
gà (Takeuchi và cs, 1997) cũng đã có nghiên cứu về MC1R trên dê (Li và cs,
2002). Tại Việt Nam, việc nghiên cứu và ứng dụng các kỹ thuật di truyền phân tử
vào trong chăn nuôi đã và đang được triển khai rộng rãi. Tuy nhiên công việc này
chủ yếu thực hiện trên lợn, bò và gia cầm. Chăn nuôi dê ở Việt Nam ngày càng phát
triển với cả các giống dê nội và ngoại nhập. Các giống dê nhập ngoại hiện đang
nuôi ở nước ta có đặc điểm ưu việt về tính trạng sản xuất sữa, thịt hoặc cả hai. Màu
lông của chúng thường đồng nhất. Bộ lông là biểu hiện bên ngoài của một con vật.
1
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Hồng Hạnh CNTYA - K50
Bộ lông óng mượt và có màu sắc đặc trưng của giống chứng tỏ con vật đó sinh
trưởng phát triển tốt. Thậm chí màu sắc lông còn tham gia trong quá trình chọn lọc
giống và định hướng sử dụng giống vật nuôi. Bộ lông mà con vật sở hữu có thể là
kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố như dinh dưỡng, môi trường chăn nuôi, khả năng
nói ngắn gọn hơn bởi cái chúng ta gọi là “gen”. Quan niệm đó về gen tồn tại suốt
cả giai đoạn phát triển của di truyền học kinh điển. Từ đó đến nay bản chất của gen
là vấn đề trung tâm của di truyền học, luôn luôn phản ánh ở dạng cô đọng nhất
mức độ phát triển, thành tựu và những vấn đề chưa được giải quyết của di truyền
học.
Trong khoảng thời gian đó không những người ta tìm ra cơ sở vật chất của gen
mà chính bản thân gen là một đoạn của phân tử ADN đã trở thành đối tượng và
phương tiện kỹ thuật di truyền và công nghệ sinh học. Người ta giải mã được cấu
trúc sơ cấp của hàng ngàn gen, làm sáng tỏ những đặc điểm cơ bản và tính đa dạng
trong cấu tạo của chúng ở các đối tượng khác nhau. Ngày nay chúng ta biết rằng
“gen không phải là đơn vị tái tổ hợp mà là đơn vị cấu trúc của thông tin di truyền
không thể phân nhỏ hơn nữa về phương diện chức năng”.
3
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Hồng Hạnh CNTYA - K50
Gen hiện nay được hiểu theo nghĩa đơn giản là một đoạn của phân tử ADN mã
hoá cho phân tử ARN chức năng.
Một gen là một thực thể hoàn chỉnh và bền vững nhưng cũng có thể bị thay đổi
trong trình tự nucleotit, thay đổi đó được gọi là đột biến.
Gen sắp xếp theo trình tự nối tiếp nhau trong nhiễm sắc thể. Năm 1910 Morgan
đã phát hiện ra gen nằm trong nhiễm sắc thể. Trong thực tế số lượng gen của một
cơ thể lớn hơn rất nhiều số lượng nhiễm sắc thể có trong tế bào. Nhiễm sắc thể
chứa một phân tử ADN dài liên tục bao gồm những vị trí đột biến trên phân tử
ADN làm cho trình tự nucleotit thay đổi.
Vậy một nhiễm sắc thể phải chứa nhiều gen. Các gen được xắp xếp và tương
tác với nhau.
2.2. Cấu trúc ADN
Ở phần lớn sinh vật, vật chất di truyền là chuỗi xoắn kép ADN. ADN có những
đặc điểm sau: Một là bền vững, vì thông tin di truyền cần hoạt động chức năng
trong khoảng thời gian 100 năm hoặc hơn nữa. Hai là ADN có khả năng sao chép,
đảm bảo thông tin di truyền trong các tế bào mới sinh ra được duy trì trong các quá
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Hồng Hạnh CNTYA - K50
Hình 1: Sơ đồ chuỗi xoắn kép ADN
2.3. Cấu trúc của gen
Thuật ngữ gen được dùng như một đoạn của thông tin di truyền được phiên mã
sang một phân tử ARN đơn lẻ, và tiếp đó thông tin di truyền từ phân tử này được
dịch mã sang một polypeptit nhất định. Các gen nằm trên các nhiễm sắc thể, và vị
trí trên nhiễm sắc thể nơi một gen định vị được gọi là locus của gen đó. Ở các sinh
vật lưỡng bội, các nhiễm sắc thể sắp xếp thành các cặp tương đồng. Trên cặp nhiễm
sắc thể tương đồng tại các vị trí tương ứng tồn tại các dạng khác nhau cùa cùng một
gen gọi là các alen. Phân tử ADN mạch kép có thể mang thông tin di truyền ở cả 2
6
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Hồng Hạnh CNTYA - K50
sợi. Hiện nay có khá nhiều thuật ngữ dùng để chỉ 2 sợi của ADN mạch kép ví dụ
như sợi có nghĩa/ sợi đối nghĩa, sợi cộng/ sợi trừ, sợi phiên mã/ sợi không phiên
mã, sợi khuôn / sợi không làm khuôn. Tuy nhiên theo hướng dẫn của Liên đoàn hoá
sinh quốc tế (IUB) và Liên đoàn quốc tế về hoá học cơ bản và ứng dụng (IUPAC)
thì các thuật ngữ nên dùng là sợi mã hoá/ sợi không mã hoá. Các thuật ngữ sợi
khuôn/ sợi không làm khuôn được sử dụng để mô tả các sợi ADN khi không cần
nói đến chức năng mã hóa. Như vậy thông tin di truyền được biểu hiện phiên mã
sợi không mã hoá của ADN tức là sản sinh ra phân tử mARN. Có một khởi điểm để
bắt đầu quá trình phiên mã, nằm cạnh vị trí mà ADN-polymeraza bám vào, gọi là
khởi điểm (promoter), đó là điểm đặc hiệu để bắt đầu quá trình phiên mã. Đoạn từ
điểm bắt đầu T
C
đến điểm kết thúc t
C
đôi khi được gọi là đơn vị phiên mã, tức là
đoạn ADN dùng để làm khuôn sao chép ARN . Bên trong đơn vị phiên mã có
những điểm điều hoà dùng cho quá trình dịch mã gọi là điểm bắt đầu T
L
=16, còn thiếu 4 axit amin chưa được xác định. Vậy tối
thiểu phải 3 bazơ nitơ xác định một axit amin như thế số tổ hợp bộ ba có thể có của
4 bazơ nitơ là 4
3
= 64. Vậy nếu mã di truyền là mã bộ 3 sẽ xảy ra trường hợp nhiều
bộ ba xác định một axit amin.
Mãi tới năm 1966 mã di truyền mới được khẳng định một cách đầy đủ khi
Gobind Khorana tìm cách thiết kế các mã qua việc sử dụng sao chép trùng lặp:
GUGUGU, AAGAAG và GUUGUU. Ông đã có một số kết luận về mã di truyền
sau đây:
• Tất cả các mã chứa ba nucleotit kế tiếp nhau là mã di truyền.
• Mỗi amino axit có thể được mã hoá bởi hai hay nhiều mã di truyền.
Trong trường hợp này gọi là thoái hoá mã di truyền. Trong tất cả 64 tổ hợp của
ba nucleotit có 61 tổ hợp được sử dụng cho các amino axit. Có 3 mã không được
mã hoá cho bất kỳ một axit amin nào cả, đó là UAA, UAG, UGA. Chúng chịu trách
nhiệm cung cấp tín hiệu ngừng hoặc chấm dứt quá trình tổng hợp protein. Mã AUG
mã hoá Methionin và cũng là mã cung cấp tín hiệu khởi đầu cho quá trình tổng hợp
protein.
8
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Hồng Hạnh CNTYA - K50
2.5. Phiên mã di truyền
Phiên mã thông tin di truyền từ ADN sang phân tử ARN là nhờ sự xúc tác của
một hệ thống Enzym quan trọng nhất là ARN-polymeraza và Trancriptaza. Quá
trình phiên mã diễn ra nhiều công đoạn. Trước hết là sự gắn ARN-polymeraza vào
phân tử ADN. Vị trí để ARN-polymeraza tiếp xúc với ADN gọi là Promotor. Vùng
Promotor này chứa khoảng 20 - 30 cặp nucleotit và có một đặc điểm dễ nhận biết là
tỷ lệ bazơ A và T cao (có 16 - 20 nucleotit loại này). Trên một đoạn gen bất kỳ
thường bắt đầu bằng vùng khởi động rồi tiếp đến vùng điều khiển tiếp theo là vùng
exon (vùng chưa mã hoá) và vùng intron (vùng không chứa mã di truyền) xen kẽ
nhau. Sau khi ARN-polymeraza gắn xong, quá trình phiên mã diễn ra ở một trong
sinh vật, chỉ cần sử dụng hai đoạn nucleotit ở đầu 5
’
- 3
’
nếu gen đó đã biết trước
được trình tự sắp xếp các nucleotit của nó, hoặc có thể dùng một đoạn mồi bất kỳ
để nhân ngẫu nhiên bất kỳ một gen. Sau đó phân tách bằng điện di trên gel thạch
rồi thanh lọc để sử dụng.
Tóm lại PCR là một kỹ nghệ nhằm nhân bản phân tử ADN hoặc đoạn ADN
nhất định lặp đi lặp lại qua nhiều chu kỳ trong ống nghiệm đến khi thu được một số
lượng ADN mong muốn.
2.6.2. Nguyên lý kỹ thuật nhân gen PCR
Phương pháp PCR cho phép khuếch đại một số lượng bản sao của gen (hay
một đoạn ADN) trong thời gian ngắn.
Nguyên tắc của phản ứng: Sử dụng enzyme ARN-polymeraza chịu nhiệt để
tổng hợp trong ống nghiệm các đoạn ADN mới từ mạch khuôn trong môi trường có
các deoxyribonucleotit triphotphat (dNTPs) và các cặp mồi đặc hiệu. Các đoạn
ADN mới được hình thành lại được sử dụng làm khuôn. Sau nhiều chu kỳ, số
lượng đoạn ADN khuôn được nhân lên gấp bội, nhờ vậy có thể đủ số lượng phục
vụ cho những mục đích nghiên cứu tiếp theo.
10
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Hồng Hạnh CNTYA - K50
Quá trình nhân gen gồm 3 giai đoạn lặp đi lặp lại nhiều lần như sau:
Giai đoạn biến tính (denaturation): ở nhiệt độ cao 90
o
C – 95
o
C, làm các liên
kết hydro của phân tử ADN bị đứt, hai mạch của phân tử tách rời nhau. Căn cứ vào
ADN khuôn để lựa chọn nhiệt độ biến tính và thời gian biến tính phù hợp.
móng chân người chết).
Mặc dầu kích thước ADN khuôn không phải là yếu tố quan trọng nhưng nếu
dùng ADN hệ gen có phân tử lượng cao, người ta thường cắt thành từng đoạn nhỏ
hơn bằng enzym giới hạn như Not I hay Sfi I.
Thông thường lượng ADN làm khuôn cho một phản ứng nên:
< 1 mg với ADN tổng số
< 1ng với ADN tách dòng
2.6.3.2. Đoạn mồi
Đoạn mồi (primer ) là chỉ tiêu quan trọng nhất để khuếch đại đặc trưng và có
hiệu quả cao. Chọn mồi là giai đoạn quyết định của PCR, chọn mồi phải tuân thủ
một số nguyên tắc sau:
Mồi gồm một mồi xuôi (forward primer) và một mồi ngược (Reverse primer).
Xuôi và ngược là so với chiều sao mã của gen.
Trình tự mồi được chọn sao cho không có sự bắt cặp bổ sung giữa mồi xuôi
với mồi ngược và không có bắt cặp bổ sung giữa các phần khác nhau của một mồi
(trình tự của chúng không được bổ trợ cho nhau).
Nhiệt độ nóng chảy (Tm) của mồi xuôi và mồi ngược không cách xa nhau
Mồi phải đặc trưng cho trình tự ADN cần khuếch đại, không trùng với các
trình tự lặp lại trên gen. Trình tự nằm giữa mồi xuôi và mồi ngược không quá lớn.
PCR sẽ tối ưu trên những trình tự < 1kb
12
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Hồng Hạnh CNTYA - K50
Xét về bản chất hoá sinh học mồi là những đoạn oligonucleotit, mạch đơn dài
6 - 30bp, có trình tự bổ sung với trình tự bazơ của hai đầu đoạn khuôn để khởi đầu
quá trình tổng hợp ADN. Mồi cần mang tính đặc thù, để tăng tính đặc hiệu của
phản ứng. Mồi càng dài, khả năng tổng hợp chính xác đoạn ADN đích càng lớn. Số
lượng 4 loại bazơ nitơ trong mồi nên xấp xỉ nhau, tránh những vùng trình tự không
bình thường, hoặc trình tự lặp đi lặp lại.
2.6.3.3. Các nuleotit (dNTP)
Là hỗn hợp 4 loại dATP, dTTP, dGTP, dCTP, làm nguyên liệu cho phản ứng
phân tử 94 kDa, có hoạt tính 5
’
- 3
’
exonucleaza và hoạt động tốt nhất ở 70
0
C - 80
0
C
Trong 1 giây, trung bình nó gắn được 75 nucleotit. Ngoài ra, còn có một số enzym
đáp ứng yêu cầu trên như Vent
TM
ADN-polymeraza, Pfu ADN, UIT ma
TM
ADN.
2.6.3.5. Dung dịch đệm
Thành phần dung dịch đệm (buffer) có thể thay đổi tuỳ loại enzym được sử
dụng, thành phần quan trọng nhất của dung dịch đệm là ion Mg
2+
. Nó hình thành
một phức hợp hoà tan với dNTP, rất cần cho quá trình liên kết các dNTP, xúc tác
cho enzym ADN-polymeraza, làm tăng nhiệt độ nóng chảy (Tm) của ADN mạch
kép.
Nồng độ MgCl
2
trong hỗn hợp phản ứng cuối cùng biến đổi từ 0,5 - 5 mM,
nồng độ tối ưu là 1 - 1,5mM. Trong một số trường hợp, nồng độ này có thể thay
đổi.
Nồng độ MgCl
2
deoxynucleotit triphotphat tiếp theo. Do đó khi trộn lẫn lượng nhỏ dideoxynucleotit
triphotphat với 4 loại deoxynucleotit triphotphat rồi tiến hành tổng hợp ADN nhờ
ADN-polymeraza thì sẽ thu được một loạt các đoạn ADN được kết thúc đặc hiệu
bởi gốc dideoxynucleotit. Tiến hành 4 thí nghiệm tách rời, mỗi phản ứng bổ sung 1
loại dideoxynucleotit khác nhau sẽ thu được các đoạn ADN có kết thúc bằng các
dideoxynucleotit khác nhau và hơn kém nhau 1 nucleotit. Chạy điện di các đoạn
này rồi hiện hình chúng, ta có thể xác định trình tự của chuỗi ADN quan tâm
(Nguyễn Quang Thạch, 2004).
15
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Hồng Hạnh CNTYA - K50
2.8. Vai trò của màu lông ở động vật
Màu lông là một trong những biểu hiện kiểu hình có thể quan sát dễ dàng ở
các loài vật. Màu lông của các loài khác nhau là khác nhau, thậm chí trong cùng
một giống cũng có sự sai khác nhất định. Sự sai khác này làm nên sự phong phú
trong màu sắc các loài động vật. Màu sắc lông còn có vai trò như dấu hiệu của tiến
hóa. Động vật có màu lông như hiện nay một phần là kết quả chiến thắng quá trình
đào thải của chọn lọc, thích nghi với các yếu tố sinh thái và môi trường sống. Sự
biểu hiện của màu sắc lông, da là một phản ứng tự vệ. Một con sâu sống trên thân
cây sẽ hình thành màu xanh trên thân chúng để tránh kẻ thù phát hiện. Ngoài ra
trong giao phối tự nhiên màu sắc lông còn được sử dụng để kêu gọi bạn tình mà
chúng ta gặp điển hình ở loài Công. Những con Công đực thường có bộ lông sặc sỡ
hơn những con công cái. Ở loài chim sắc tố màu lông có chức năng sinh lý quan
trọng, bao gồm chống oxy hóa, điều chỉnh miễn dịch, và thuộc tính bảo vệ quang
học. Sắc tố cũng được nhiều loài chim sử dụng như chất nhuộm màu, và chịu trách
nhiệm cho màu đỏ, cam và vàng. Cụ thể, sắc tố đỏ ở loài chim có tác dụng như tín
hiệu thể hiện tình trạng sức khỏe và dinh dưỡng của một cá thể và khả năng tìm
kiếm những nguồn thức ăn tốt của nó. Những nghiên cứu gần đây cho thấy sự biến
đổi sắc tố diễn ra trực tiếp trong kén khi lông phát triển. Hiểu rõ sự biến đổi cơ chế
hình thành màu sắc giữa các loài có thể là chìa khóa để hoàn chỉnh quá trình tiến
hóa khác nhau bao gồm tín hiệu màu sắc.
trong những protein then chốt tham gia vào quá trình điều chỉnh màu da và lông ở
động vật có vú. Protein này định vị trên màng plasma của tế bào melanocyte,
17
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Hồng Hạnh CNTYA - K50
những tế bào tạo ra sắc tố melanin thông qua quá trình melanogenesis. Thông qua
sự điều chỉnh kiểu melanin được tạo ra và sự hoạt hóa của quá trình làm tế bào
melanocyte chuyển đổi việc tạo ra phaeomelanin có màu vàng hoặc đỏ thành
eumelanin có mầu đen hoặc nâu (Garcia-Bronron và cs, 2005).
Khi được hoạt hóa bởi một trong nhiều loại MSH, thường là α-MSH, MC1R
khởi động một phức hệ các nấc truyền tín hiệu, dẫn đến sự hình thành mầu nâu
hoặc đen do sắc tố eumelanin. Ngược lại, thụ thể này cũng có thể bị trung hòa/ gây
tác dụng ngược bởi peptit tín hiệu Agouti (ASIP), kết quả các tế bào trở lại trạng
thái sản xuất ra phaeomelanin có mầu vàng hoặc đỏ.
Hình 2: Sơ đồ hoạt hóa MC1R
A: MC1R bị bất hoạt bởi Agouti (bị bám vào), phaomelanin (sắc tố màu
vàng hoặc đỏ) được tổng hợp.
B: Không có Agouti, α-MSH bám vào MC1R, eumelanin (sắc tố màu nâu
hoặc đen) được sinh ra
18
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Hồng Hạnh CNTYA - K50
Những tín hiệu truyền tới MC1R thông qua ASIP tạo ra các kiểu lông dải
mầu vàng hoặc đen, được quan sát thấy trên lông ở phần lớn động vật có vú. Ở một
số loài, tín hiệu ASIP không hoạt động tự nhiên mà bị giới hạn trong những vùng
chính. Sự riêng biệt này có mặt ở ngựa, ví dụ lông ngựa có thể là màu đen ở chân,
bờm và đuôi, nhưng có màu đỏ ở thân (). Tuy nhiên, các đột
biến của gen MC1R có thể tạo nên một thụ thể “trơ” ngay khi không bị kích thích
hoặc có hoạt động ở mức thấp hơn. Các alen MC1R hoạt động chủ yếu được di
truyền trội và tạo ra mầu lông đen, trong khi các alen MC1R có chức năng không
bình thường thể hiện tính trạng lặn sẽ tạo ra màu lông sáng. Các thay đổi ở MC1R
liên quan tới màu đen, đỏ/ vàng và trắng/ kem ở một số loài động vật đã được công
Tại các vị trí có các màu tô đậm khác nhau là vị trí có sự sai khác nhau trong
cấu trúc gen MC1R ở các loài khác nhau.
Tuy nhiên, các đa hình trên MC1R ở dê hiện vẫn chưa được công bố trên
ngân hàng gen (Genbank). Với mục đích tìm ra mối liên quan giữa gen MC1R với
màu lông trên dê, việc phân tích đa hình trên MC1R được tiến hành.
Sự đa dạng màu sắc đặc biệt phong phú ở động vật nuôi, trong cùng loài
cũng như khác loài. Đặc điểm này được ứng dụng trong các nghiên cứu cơ bản về
sắc tố và mối liên quan giữa kiểu hình và kiểu gen trên mô hình động vật nuôi.
Việc tổng hợp màu sắc có một số chức năng như trong phối giống, trong ngụy trang
kẻ thù và để thích nghi điều kiện môi trường. Và hệ quả là, gen MC1R rất bảo thủ
và được coi là công cụ cho các nghiên cứu về tiến hóa.
2.10. Nguồn gốc, phân bố và phân loại động vật học chung của dê
Về nguồn gốc và theo phân loại động vật, dê là gia súc nhai lại nhỏ thuộc lớp
động vật có vú (Mammalia), bộ móng chẵn (Artiodactyla), bộ phụ nhai lại
(Ruminantia), họ sừng rỗng (Bovidae), họ phụ dê cừu (Capra rovande), loài dê
(Capra hircus), giống dê.
Dê rừng (Capra aegagrus) trên thế giới được chia làm ba nhóm: Nhóm 1 là
Bezoar (C. a eagagrus), nhóm 2 là: Ibex (C. a Ibex) và nhóm 3 là: Markhor. Dê
rừng phân bố rộng ở vùng núi và bán sơn địa, phạm vi phân bố tự nhiên của nhóm
Bezoar là vùng Tây Á. Nhóm Ibex phân bố ở vùng Tây Tạng, đông Châu Phi và
Châu Á. Nhóm Markhor phân bố ở Afghanistan và vùng Kashimir - Karakorum
Với những dẫn liệu đặc biệt tìm thấy được gần đây, người ta cho rằng nơi
thuần hóa các giống dê đầu tiên bắt nguồn từ Châu Á, vào thiên niên kỷ thứ 7 - 9
trước công nguyên tại vùng Tây Á.
Theo tài liệu của Herre và Robrs 1973 thì dê là loài vật nuôi sớm nhất của
loài người. Giống như các loài vật nuôi khác dê sau khi thuần hóa đầu tiên được
nuôi với mục đích lấy thịt, lấy sữa cũng là một hướng sử dụng sớm của con người
21
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Hồng Hạnh CNTYA - K50
thậm chí còn sớm hơn cả nuôi bò lấy sữa vì vắt sữa dê còn dễ hơn vắt sữa bò.
Hình 5: Dê Boer
23
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Hồng Hạnh CNTYA - K50
2.11.3. Dê Beetal
Nguồn gốc, phân bố:
• Tên tiếng anh là dê Beetal.
• Nguồn gốc : từ các vùng Punjab Ấn Độ, Rawalpindi và Lahore Pakistan.
Được nhập vào Việt Nam từ năm 1994.
• Phân bố : Đầu tiên nuôi ở Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây –Hà
Nội. Hiện nay còn nuôi thêm ở cả một số tỉnh miền Trung và miền Nam.
Đặc điểm hình thái:
• Màu lông dê Beetal thường hung đỏ, có các điểm trắng và cũng có các màu
khác như màu đen. Mũi gồ và tai dài, con đực thường có bộ râu cằm đặc
trưng mà con cái không có.
• Lúc trưởng thành con đực cao khoảng 89cm, con cái cao khoảng 84cm. Lúc
trưởng thành con đực nặng khoảng 60 kg và con cái nặng khoảng 40 kg.
Hình 6: Dê Beetal
24
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Hồng Hạnh CNTYA - K50
2.11.4. Dê Jamnapari
Nguồn gốc, phân bố:
• Tên tiếng anh là dê Jamnapari.
• Được nhập từ Ấn Độ vào Việt Nam năm 1994.
• Phân bố: Dê Jamnapari hiện đang được nuôi ở Trung tâm nghiên cứu dê và
thỏ Sơn Tây - Hà Nội.
Đặc điểm hình thái:
Toàn thân màu trắng, tai và má có những đốm đen, tai to cụp. Con đực trưởng
thành có khối lượng 60 - 75 kg, con cái trưởng thành khối lượng 40 - 50 kg.