nghiên cứu xác định hàm lượng phóng xạ một số nguyên tố nặng trong mẫu môi - Pdf 23


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết, ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Để thực hiện tốt việc phân tích hoạt độ phóng xạ của các đồng vị
phóng xạ trong mẫu môi trường, cần phải có những quy trình phân tích và
thiết bị đo phù hợp. Về cơ bản, việc xác định các đồng vị phóng xạ phát
alpha bằng hệ phổ kế alpha bao gồm ba bước chính: (1) xử lý mẫu bằng
phương pháp hóa học, (2) tách hóa các đồng vị quan tâm và (3) tạo nguồn
alpha phù hợp với hệ đo. Do tính chất vật lý của hạt alpha, nên việc phân
tích đòi hỏi quá trình xử lý mẫu, tách hoá và quá trình chuẩn bị mẫu đo
(phương pháp điện phân, đồng kết tủa, hấp thụ trên đĩa MnO
2
) phải được
thực hiện một cách thật tốt nhằm hạn chế tối đa sự thất thoát và sự tự hấp
thụ trong mẫu… Trên thế giới có khá nhiều công trình đã được thực hiện
nhằm giải quyết các khó khăn nêu trên. Đa phần các công trình này được
phát triển bởi các tác giả nổi tiếng ở những phòng thí nghiệm tiên tiến
khác nhau trên thế giới.
Ở Việt Nam chúng ta hiện nay, với điều kiện nền khoa học nước
nhà đang từng bước phát triển, thì việc áp dụng và triển khai các thành
tựu nêu trên một cách thuần tuý là rất khó. Việc áp dụng mang tính chọn
lọc và tự phát triển những quy trình phù hợp với các điều kiện của mình
là đều thật sự cấp bách và cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
Ý nghĩa khoa học của luận án là dựa trên các kết quả nghiên cứu thực
nghiệm để đề xuất một quy trình phân tích các đồng vị phóng xạ tự nhiên
trong các mẫu môi trường bằng hệ phổ kế alpha có độ chính xác và độ tin
cậy cao. Trong một chừng mực nào đó, qui trình không chỉ được giới hạn
duy nhất ở phòng thí nghiệm Bộ môn Vật Lý Hạt Nhân - Trường Đại Học
Khoa Học Tự Nhiên, TpHCM.
Ý nghĩa thực tiễn của luận án là góp phần xây dựng hệ thống phân

hạt nhân thực nghiệm kết hợp với phương pháp hóa phóng xạ.
3. Bố cục của luận án
Luận án gồm có phần mở đầu, 3 chương và phần kết luận chung.
Trong đó phần kết luận chung nêu lên các kết quả chính, các đóng góp mới
của luận án và các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, danh mục công trình của
tác giả, tài liệu tham khảo và phụ lục.
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Vấn đề xử lý mẫu bằng phương pháp hóa học đã được nghiên cứu bởi
nhiều nhóm tác giả như Joshi, Schulz, Bojanowski, Nozaki…Các mẫu phân
tích ở dạng rắn như đất, đá và mẫu sa lắng thường được xử lý bằng nhiều
cách khác nhau để đưa chúng về dạng dung dịch hoà tan.
Vấn đề tách hóa các đồng vị quan tâm cũng đã được nghiên cứu bởi nhiều
nhóm tác giả như Sill, Rodriguez-Alvarez và Sanchez, Zikovsky,
Bojanowski, Koide và Bruland, Michel, Koulouris, Hancock & Martin và
Purkl & Eisenhauer…Các đồng vị phóng xạ quan tâm được tách dựa trên
các phương pháp như trao đổi ion, tách chiết dung môi sử dụng các hóa chất
tách chiết đặc biệt như TBP, TOPO, EDTA, DAAP…hoặc các nhựa trao
đổi ion như BioRad AG50WX8 hoặc Dowex 50WX8 hay UTEVA, DGA…

3
Việc tạo nguồn alpha phù hợp với hệ đo bằng các phương pháp mạ điện
phân và đồng kết tủa cũng đã được nghiên cứu bởi nhiều nhóm tác giả như
Sill, Talvite Koide và Bruland Soret và Tauveron Whitehead, Roman,
Orlandini, Alvarado…
1.1.2. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Tại Việt Nam hiện nay không có nhiều nhóm nghiên cứu, phân tích và
xác định hoạt độ thấp của đồng vị phóng xạ hay hàm lượng phóng xạ một
số nguyên tố kim loại nặng trong mẫu môi trường bằng hệ phổ kế alpha.

Bảng 2.1. Các tracer cần thêm vào và năng lượng phát alpha khi phân tích.
Nguyên tố

Đồng vị phóng xạ trong mẫu và
năng lượng phát alpha (MeV)
Các tracers thêm vào
và năng lượng phát alpha
(MeV)
U
234
U (4,8),
235
U (4,4),
238
U (4,2)
232
U (5,3),
233
U (4,8),
236
U
(4,5)
Th
228
Th (5,4),
230
Th (4,7),
232
Th(4,0)
227

Có nhiều phương pháp để tách đồng vị uranium. Một trong những hoá
chất tách chiết phù hợp cho vấn đề này là TBP. Năm 1984, Holm đã sử
dụng TBP cho việc tách chiết uranium cùng với thorium từ dung dịch 8 M
HNO
3
. Tuy nhiên, vẫn phải cần thiết thực hiện thêm một quy trình tách
chiết nữa (sử dụng kỹ thuật trao đổi anion) để chắc chắn rằng một lượng

5
nhỏ thorium và các nguyên tố gây nhiễu khác hoàn toàn được tách khỏi
uranium.
2.5.4. Đồng vị thorium
Cũng giống như việc tách uranium, việc tách chiết thorium bằng TBP
có thể được thực hiện hoàn toàn theo mục 2.5.3. Sau khi được tách chiết với
TBP trong xylene, thorium được thu hồi trở lại bằng 4 lần tách chiết với
dung dịch HCl nồng độ 5 M. Ngoài ra, thorium cũng có thể được tách ra
khỏi mẫu phân tích bằng việc phản ứng tạo kết tủa với chì sulfate và
potasium.
2.5.5. Đồng vị radium
Việc xác định radium bằng kỹ thuật đo khí radon cân bằng đã được
phát triển rất sớm vào những năm 1964, 1966. Radium cũng có thể được
tách ra khỏi mẫu phân tích bằng phản ứng tạo kết tủa với chì sulfate, từ đó
radium được tách ra bằng dung dịch 6 M HNO
3
. Đa phần việc tạo mẫu đo
radium bằng các phương pháp đồng kết tủa với BaSO
4
trên một màng lọc.
2.6. Các phương pháp tạo mẫu đo phù hợp cho phép phân tích sử dụng
hệ phổ kế alpha

97
20,4
60
98
20,9

6
Các kết quả ở bảng 2.3 trình bày những thí nghiệm của Hallstadius khi sử
dụng mô hình bộ dụng cụ điện phân vào năm 1984.
2.6.3. Phương pháp đồng kết tủa
Phương pháp này được đưa ra bởi Sill và Williams vào năm 1981, họ
đã dùng Ce và chất nền (cả hai dạng oxide và hợp chất fluoride) để tiến
hành tạo mẫu. Hindman (năm 1986) đã phát hiện ra phương pháp tách các
nguyên tố phóng xạ (ví dụ như thorium, uranium, plutonium, americium)
bằng phương pháp đồng kết tủa và sử dụng chất nền là neodymium
fluoride.
2.7. Kết luận chương 2
Trong chương 2, chúng tôi đã tập trung trình bày các phương pháp
thường được sử dụng cho việc phân tích các đồng vị phóng xạ trong mẫu
môi trường bằng hệ phổ kế alpha. Các công trình này được phát triển bởi
các tác giả nổi tiếng ở những phòng thí nghiệm tiên tiến khác nhau trên
thế giới.
CHƯƠNG 3
XÁC ĐỊNH NHANH CÁC ĐỒNG VỊ PHÓNG XẠ TỰ NHIÊN
URANIUM, THORIUM, RADIUM VÀ POLONIUM
TRONG MẪU MÔI TRƯỜNG BẰNG HỆ PHỔ KẾ ALPHA

3.3.1. Thiết kế bộ dụng cụ điện phân
3.3.3.3. Các kết quả và thảo luận quy trình tạo nhanh nguồn alpha
thorium và uranium bằng phương pháp mạ điện phân kết tủa.
Kết quả của dòng điện tối ưu thu được cho việc mạ điện phân được
minh hoạ trong hình 3.6, hình 3.7 và bảng 3.3. Các thông số tối ưu cho việc
mạ điện phân tạo nhanh nguồn alpha thorium và uranium được trình bày
trong bảng 3.4 và bảng 3.5.
Tách chiết bằng H
2
SO
4

Đo Th với hệ phổ kế
alpha

Mạ điện phân hoặc đồng kết tủa

Hoà tan bột ThO
2
trong HNO
3
đậm đặc

Điều chỉnh pH dung dịch đến giá trị 9,5 bằng dung dịch
NH
4
OH
Li tâm trong 60 phút để thu nhận tủa Th(OH)
4

Mạ điện phân

10
10
Dung dịch cần điện phân (μL)
15
15
Khoảng cách anode – cathode (mm)
5
3
[[[
Hình 3.6. Sự phụ thuộc của hiệu
suất điện phân uranium theo
cường độ dòng điện
Hình 3.7. Sự phụ thuộc của hiệu suất
điện phân thorium theo cường độ
dòng điện

60%
80%
100%
0 2 4 6 8 10 12 14
Deposition time/min
Deposition efficiency %
0%
20%
40%
60%
80%
100%
0 5 10 15 20 25
Current mA
Deposition efficiency %
Cường độ dòng điện (mA)
Hiệu suất điện phân

9
Năng lượng (keV)
Số đếm
Bảng 3.5. Các thông số tối ưu cho việc tạo nhanh nguồn alpha thorium.
Các thông số cơ bản
Thorium
Anode (1 mm)
Điện cực Platinum
Cathode (backing)
Thép không gỉ
Diện tích mạ điện phân (cm
2

226
Ra bằng đĩa MnO
2
.
Các bước và cách bố trí thí nghiệm cho việc hấp thụ
226
Ra bằng đĩa
MnO
2
được trình bày ở hình 3.15.
10
Hình 3.15. Sơ đồ các bước thí nghiệm hấp thu
226
Ra bằng đĩa MnO
2
.
3.5.2. Quy trình lắng đọng
210
Po trên đĩa đồng
Cho 0,5 g acid ascorbic vào hỗn hợp dung dịch mẫu và khuấy đều (pH 1 – 1,5)
Lắp đĩa Cu vào bộ dụng cụ Teflon và cho vào dung dịch mẫu,
quay mẫu từ 2 đến 3giờ và gia nhiệt 80
o
C.

11
của 6 - 10 mL HNO
3
và 3 - 5 mL HF bên trong một cốc Teflon. Trong bước
tiếp theo, mẫu được acid hóa cùng với 2 - 4 mL HClO
4
hoặc HNO
3
trong
cốc Teflon và được quay trong lò vi sóng. Sau đó hỗn hợp này được bốc
hơi để khô và cuối cùng, dư lượng này được hòa tan trong hỗn hợp dung
dịch H
2
O
2
- HCl.
3.6.2.4. Tách hoá đồng vị polonium
Sau khi được xử lý hóa, mẫu được chuyển về dạng dung dịch trong
môi trường HCl (0,1-0,5 M) với pH=1. Sự lắng đọng tự phát của polonium
trên đĩa đồng được thực hiện theo các bước ở mục 3.5.2 với nhiệt độ duy trì
80
0
C - 85
0

Tách chiết với 5 – 10 mL dung môi
TOPO-cyclohexane 0,1 M.

Hấp thụ Radium bằng đĩa MnO
2

pH 7,5 – 8,5 trong vòng 6 giờ
/H
2
O
2
 HCLChỉnh pH = 1
Thêm acid ascorbic Tách chiết U bằng (NH
4
)
2
CO
3

Lằng đọng Po lên đĩa Ag hoặc đĩa Cu

u disc
Bốc hơi dung dịch còn lại sau đó hòa tan phần cặn vào axít HNO
3
1M.
Tách chiết bằng H
2
SO
4
0,3 M
Đo U với hệ phổ kế alpha

uranium và thorium từ dung dịch hỗn hợp là khá cao khoảng trên 98%
(trung bình của ba lần phân tích một mẫu).
Bảng 3.6. Hiệu suất tách Uranium từ mẫu dung dịch hỗn hợp.
Mẫu dung dịch hỗn hợp (µL)
Hiệu suất tách hóa (%)
U,100; Th, 10
98,7 ± 0,3
U,100; Th, 25
98,6 ± 0,4
U,100; Th, 50
98,3 ± 0,7
U,100; Th, 75
98,4 ± 0,5
U,100; Th, 100
98,2 ± 0,8
Các kết quả phân tích để kiểm tra và xác nhận quy trình này được trình
bày trong bảng 3.8. Đối với các mẫu nước, hiệu suất tách hóa các đồng vị
phóng xạ đạt được tương ứng (95 ± 3)% và (95 ± 5)% cho hai đồng vị
phóng xạ uranium và radium.

14
Bảng 3.7. Hiệu suất tách Thorium từ mẫu dung dịch hỗn hợp.
Mẫu dung dịch hỗn hợp (µL)
Hiệu suất tách hóa (%)
Th,100; U, 10
98,8 ± 0,9
Th,100; U, 25
98,6 ± 0,5
Th,100; U, 50
98,7 ± 0,8

0,34 ± 0,05
5,5

226
Ra
0,69 ± 0,04
0,66 ± 0,12
4,3
Sample 02
234
U
1,20 ± 0,04
1,17 ± 0,16
2,5
(n=2)
238
U
1,25 ± 0,04
1,18 ± 0,16
5,6

226
Ra
1,93 ± 0,09
1,85 ± 0,29
4,1
Sample 04
Tổng alpha

3,93 ± 0,08

Ra
780 ± 62
704 ± 85
7,3

230
Th
211 ± 9
200 ± 25
5,2

234
U
120 ± 9
110 ± 12
8,3

238
U
120 ± 11
112 ± 13
6,7
n: Số lần phân tích mẫu,
629 ± 54: giá trị hoạt độ của
210
Pb đã được hiệu chỉnh tại thời điểm phân
tich 2010.

15
Đối với các mẫu phosphogypsum, hiệu suất tách hóa các đồng vị phóng

6,0.10
-5

Radium (
226
Ra)
5,0.10
-53.6.3. Kết quả phân tích thử nghiệm mẫu nước uống đóng chai
Việc phân tích đồng vị phóng xạ
226
Ra trong các mẫu nước uống đóng
chai bằng hệ phổ kế alpha được thực hiện theo qui trình phân tích ở mục
3.4.3.
Đối với việc phân tích bằng hệ phổ kế gamma,
226
Ra trong các mẫu
nước uống này được phân tích trực tiếp dựa trên đỉnh gamma năng lượng
186 keV với thời gian đo 86400 giây (1 ngày). Nhìn chung các kết quả phân
tích từ hai phương pháp khác nhau trên hai hệ phổ kế alpha và gamma là
khá tương đồng.
16
Bảng 3.10. Kết quả phân tích hoạt độ phóng xạ của
226
Ra trong các mẫu

SP_VKG_EDTA
0,137  0,030
0,207  0,036

3.6.4. Kết quả phân tích thử nghiệm mẫu thuốc lá
Bảng 3.11 trình bày hàm lượng
210
Po trong các thuốc mẫu thuốc lá là khá
cao và dao động trong khoảng từ 18,9 mBq/g cho đến 109,5 mBq/g. Cùng
một nhà máy sản xuất nhưng hoạt độ
210
Po của các mẫu khác nhau lại chênh
lệch khá nhiều, đại đa phần hoạt độ phóng xạ
210
Po tập trung nhiều chủ yếu
ở các loại thuốc lá rẻ tiền.
Bảng 3.11. Kết quả phân tích hoạt độ phóng xạ của
210
Po trong 18 mẫu
thuốc lá.
Mẫu
Hoạt độ
210
Po (mBq/g)
Hoạt độ
210
Po (mBq/điếu)
TN01
49,3 ± 4,7
35,5 ± 3,4

1. Các kết quả đạt được:
Tại Việt Nam hiện nay không có nhiều nhóm nghiên cứu, phân tích và
xác định hoạt độ thấp của đồng vị phóng xạ hay hàm lượng phóng xạ một
số nguyên tố kim loại nặng trong mẫu môi trường bằng hệ phổ kế alpha. Do
đó, luận án đã được thực hiện với mục đích đơn giản hoá việc xác định hoạt
TN07
24,5 ± 2,3
17,49 ± 1,7
TN08
43,2 ± 3,8
28,8 ± 2,6
TN09
99,9 ± 7,5
71,2 ± 5,4
TN10
74,2 ± 6,9
56,7 ± 5,3
TN11
29,5 ± 3,2
22,6 ± 2,5
TN12
109,5 ± 7,6
82,6 ± 5,7
TN13
87,7 ± 6,3
62,3 ± 4,5
TN14
41,3 ± 3,7
33,7 ± 3,1
TN15

sử dụng phương pháp tách chiết dung môi hữu cơ TOPO với hiệu suất tách
hóa khá cao đạt trong khoảng 95% đến 98%. Do tính không phức tạp và
không đòi hỏi quá nhiều kiến thức hóa phân tích chuyên sâu, nên quy trình
tách hóa này phù hợp cho nhiều kỹ sư và các nhà nghiên cứu phân tích hoạt
độ phóng xạ thấp của các mẫu môi trường.
4. Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc nhằm phát triển phương pháp luận
thực nghiệm, luận án đã xây dựng quy trình chuẩn bị mẫu đo bằng phương
pháp mạ điện phân các đồng vị phóng xạ uranium và thorium lên đĩa thép
không gỉ sử dụng điện cực platinium với hiệu suất mạ điện phân đạt gần

19
như 100% trong thời gian từ 40 đến 60 phút. Trong đó, luận án đã nghiên
cứu chế tạo bộ dụng cụ điện phân phù hợp cho các điều kiện các phòng thí
nghiệm tại Việt Nam, giúp tiết kiệm được khoảng chi phí đáng kể so với
việc mua từ nước ngoài.
5. Luận án đã phát triển mới quy trình tạo đĩa MnO
2
nhằm hấp thu các
đồng vị phóng xạ radium trong mẫu lỏng. Các đĩa MnO
2

được tạo ra có hiệu
suất hấp thu các đồng vị phóng xạ radium trong mẫu lỏng khá ổn định và
đạt trên 95%.
6. Trên cơ sở các thiết bị, phụ kiện của quy trình hấp thu các đồng vị
phóng xạ radium trong mẫu lỏng bằng đĩa MnO
2
, luận án đã phát triển quy
trình chuẩn bị mẫu đo sử dụng đĩa đồng để hấp thu các đồng vị phóng xạ
polonium với hiệu suất 85%.

nơi sản suất khác nhau tại Việt Nam) trên thị trường hiện nay và phân tích

20
hoạt độ của
210
Po trong 18 mẫu thuốc lá sản xuất tại Việt Nam. Các kết quả
phân tích cho thấy hoạt độ phóng xạ của
226
Ra trong các mẫu nước uống
đóng chai dao động từ 0,06 đến 0,5 Bq/lít trong khi hoạt độ phóng xạ
210
Po
trong các mẫu thuốc lá Việt Nam nằm trong khoảng từ 18,9 cho đến 109,5
mBq/g.
2. Những điểm mới của luận án:
Trong từng vấn đề còn tồn đọng, luận án đã tập trung nghiên cứu chi
tiết, hướng đến nhu cầu và các điều kiện thực tế của phòng thí nghiệm hiện
có mà đưa ra các giải pháp tương ứng như sau:
1. Lần đầu tiên xây dựng quy trình tách chiết đồng vị phóng xạ thorium
sử dụng phương pháp tách chiết dung môi hữu cơ TOPO với hiệu suất tách
hóa khá cao đạt được trong khoảng 95% đến 98%. Chúng tôi đã sử dụng
trực tiếp dung dịch hữu cơ chứa thorium (ThCl
4
.3TOPO) để tạo nguồn
alpha-thorium bằng phương pháp mạ điện phân kết tủa thay vì phải thực
hiện một cách thật tốt việc tách chiết 2 lần với 10mL dung dịch H
2
SO
4
nồng

mới của luận án.
5. Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc, xây dựng và phát triển phương pháp
thực nghiệm từ các công trình nghiên cứu trên thế giới, lần đầu tiên luận án
đã xây dựng mới quy trình xử lý mẫu, hoà tan mẫu và đưa mẫu cần phân
tích về dạng dung dịch hoà tan cũng như tách hoá các đồng vị phóng xạ tự
nhiên uranium, thorium, radium và polonium trong cùng một mẫu. Ngoài
ra, quy trình này còn giúp phân tích nhanh và đồng thời các đồng vị phóng
xạ kể trên trong cùng một mẫu trong thời gian chỉ từ 2 đến 3 ngày. Thêm
vào đó, do hiệu suất tách hoá của quy trình khá ổn định nên cho phép chúng
ta phân tích các mẫu không cần sử dụng các chất đánh dấu, giúp tiết kiệm
chi phí phân tích một cách đáng kể. Toàn bộ quy trình phân tích này đã
được công bố trên các tạp chí khoa học trong nước cũng như quốc tế nên
trong một chừng mực nào đó, quy trình này không chỉ được giới hạn duy
nhất ở Việt Nam. Đây là điểm mới của luận án. 22
KIẾN NGHỊ VỀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO
Dựa vào những mặt hạn chế còn tồn tại, một số kiến nghị về hướng
nghiên cứu tiếp theo cần giải quyết như sau:
1. Tiếp tục nghiên cứu cải thiện chất lượng đĩa MnO
2
vì thông qua các
khảo sát từ thực nghiệm, chúng tôi nhận thấy phương pháp sử dụng đĩa
MnO
2
để hấp thu
226
Ra trong nước có hạn chế về thời gian sử dụng và chỉ
sử dụng tốt trong khoảng 30 ngày. Sau thời gian trên chúng ta cần bảo quản

Tập (2006) “Lắp Đặt Và Vận Hành Hệ Phân Tích Alpha Với
Detector Bán Dẫn Dùng Trong Phân Tích Mẫu Môi Trường” Báo
cáo đề tài nghiên cứu cấp trường – Trường ĐHKHTN Tp. Hồ Chí
Minh, mã số T2006 – 14.
2. Lê Công Hảo, Mai Văn Nhơn, Nguyễn Đình Gẫm, Hồ Viết Sinh
(2006) “Khai Thác Và Vận Hành Hệ Phân Tích Alpha Với Bộ Mẫu
Chuẩn” Hội nghị khoa học Trường ĐHKHTN Tp. Hồ Chí Minh.
3. Lê Công Hảo, Mai Văn Nhơn, Nguyễn Đình Gẫm (2006) “Nghiên
Cứu Khả Năng Ứng Dụng Của Srim – 2006 Cho Việc Tính Toán
Năng Suất Hãm Và Quãng Chạy Hạt Alpha Trong Vật Liệu” Hội
nghị khoa học Trường ĐHKHTN Tp. Hồ Chí Minh.
4. Huỳnh Trúc Phương, Lê Công Hảo, Nguyễn Đình Gẫm (2006)
“Khảo Sát Các Đặc Trưng Của Detector HPGe Tại Bộ Môn Vật Lý
Hạt Nhân – Ứng Dụng Xác Định Hoạt Độ Phóng Xạ Tự Nhiên
Trong Mẫu Đất” Báo cáo đề tài nghiên cứu cấp trường – Trường
ĐHKHTN Tp. Hồ Chí Minh, mã số T2006 – 14.
5. Huỳnh Trúc Phương, Lê Công Hảo, Trịnh Hoa Lăng, Trần Duy
Tập, Nguyễn Đình Gẫm, Nguyễn Thị Mỹ (2007) “Khảo Sát Hoạt
Độ Phóng Xạ Của Uranium, Thorium và Potasium Trong Rau Cải
Ở Tp. Hồ Chí Minh” Báo cáo đề tài nghiên cứu cấp trường –
Trường ĐHKHTN Tp. Hồ Chí minh, mã số T2007 – 03.
6. Huỳnh Trúc Phương, Lê Công Hảo, Trịnh Hoa Lăng, Trần Duy
Tập, Nguyễn Đình Gẫm, Nguyễn Thị Mỹ (2008) “Phát Triển
Phương Pháp Chuẩn Hóa K
0
– INAA Trong Phân Tích Kích Hoạt
Neutron Cho Nguồn Neutron Đồng Vị Am – Be Tại Bộ Môn Vật Lý
Hạt Nhân” Đề tài NCKHN cấp Đại Học Quốc Gia Tp. Hồ Chí
Minh, mã số B2008 – 18 – 09.
7. Lê Công Hảo, Mai Văn Nhơn, Nguyễn Đình Gẫm, Hồ Viết Sinh,

sources by electroplating technique”, Kerntechnik, 06, 381-385.
15. Hao, L.C., Tao, C.V., Dong, N.V., Thong, N.V., Linh, D.M.,
(2011), “Determination of natural uranium, thorium and radium
isotopes in water and soil samples by alpha spectroscopy”,
Kerntechnik, 04, 285-191.
16. Hao, L.C., Tao, C.V., Dong, N.V., Nghi, H.N., Linh, D.M., (2010),
“A rapid procedure for extraction and preparation of alpha source
thorium from ThO
2
sample for alpha spectroscopy”, Proceedings of

25
the topical conference on nuclear physics, high energy physics and
astrophysics, Science and technics publishing house, 268-272.
17. Lê Công Hảo, Trần Nguyễn Thùy Ngân, Châu Văn Tạo, Nguyễn
Văn Đông, (2011), "Determination of
210
Po in cigarettes produced
in VietNam by alpha spectroscopy", Proceedings of the second
academic conference on natural science for master and Ph. D
students from Cambodia, Lao and Viet Nam, VNU-HCM
Publishing house 270-274.
18. Phan Thị Minh Tâm, Châu Văn Tạo Hoàng Đức Tâm, Trần Thiện
Thanh, Lê Công Hảo, (2011), "Measurement of radon in botted
drinking water in VietNam", Proceedings of the second academic
conference on natural science for master and Ph. D students from
Cambodia, Lao and Viet Nam, VNU-HCM Publishing house, 280-
284.
19. Le Cong Hao, Miyako Nitta, Ryoko Fujiyoshi, Takashi Sumiyoshi,
Chau Van Tao, (2013), “Radiocesium Fallout in Surface Soil of


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status