ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN MINH HẰNG
MỐI LIÊN HỆ GIỮA KHẢ NĂNG TỰ PHỤC HỒI VÀ
VẤN ĐỀ CẢM XÚC, HÀNH VI CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Hà Nội - 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN MINH HẰNG
MỐI LIÊN HỆ GIỮA KHẢ NĂNG TỰ PHỤC HỒI VÀ
VẤN ĐỀ CẢM XÚC, HÀNH VI CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
CHUYÊN NGÀNH: TÂM LÝ HỌC LÂM SÀNG TRẺ EM VÀ VỊ THÀNH NIÊN
Mã số: Thí điểm
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Amie Alley Pollack
PGS.TS. Đặng Hoàng Minh
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT
HS
Học sinh
KNTPH
Khả năng tự phục hồi
THPT
Trung học phổ thông
TNKK
Trải nghiệm khó khăn
CXHV
Cảm xúc, hành vi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG ANH
ACE
Adverse Childhood Experiences – Các trải nghiệm khó khăn thời thơ ấu
ASEBA
ICD-10
International Classification of Diseases - Bảng phân loại bệnh quốc tế
lần thứ 10
M
Mean – Điểm trung bình
READ
Resilience Scale for Adolescents – Thang đo khả năng tự phục hồi cho
vị thành niên
SD
Standard Deviation – Độ lệch chuẩn
SDQ
Strengths and Difficulties Questionnaire – Bảng hỏi điểm mạnh và khó
khăn
SPSS
Statistical Package for the Social Sciences – Phần mềm thống kê cho
ngành khoa học xã hội
YSR
và điểm số thang đo YSR ..........................................................................................62
Bảng 3.14. Phân tích hồi quy tuyến tính để dự báo vấn đề cảm xúc, hành vi từ khả
năng tự phục hồi ........................................................................................................65
Bảng 3.15. Tương quan giữa các trải nghiệm khó khăn thời thơ ấu với các vấn đề
cảm xúc, hành vi của học sinh ..................................................................................67
Bảng 3.16. Phân tích hồi quy dự báo điểm số YSR từ tổng điểm ACE ...................68
Bảng 3.17. Tương quan giữa các trải nghiệm khó khăn thời thơ ấu với khả năng tự
phục hồi ở học sinh THPT ........................................................................................68
Bảng 3.18. Phân tích hồi quy dự báo điểm số READ từ tổng điểm ACE ................70
Bảng 3.19. Phân tích hồi quy để dự báo vấn đề CXHV của học sinh THPT từ
TNKK thời thơ ấu và KNTPH ..................................................................................70
iii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1. Mô hình Kim tự tháp các trải nghiệm khó khăn thời thơ ấu của Felitti
và cs. (1998) ..............................................................................................................33
Biểu đồ 3.1. Hàm phân phối điểm trung bình thang READ .....................................46
Biểu đồ 3.2. Điểm trung bình thang đo READ của Việt Nam và Na Uy .................48
Biểu đồ 3.3. Hàm phân phối tổng điểm thô thang đo YSR ......................................52
iv
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................ i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT ...................................................... ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG ANH ....................................................... ii
DANH MỤC CÁC BẢNG ...................................................................................... iii
CHƢƠNG 2..............................................................................................................38
TỔ CHỨC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...............................................38
2.1. Sơ lược về địa bàn nghiên cứu ...........................................................................38
2.2. Mẫu nghiên cứu ..................................................................................................38
2.3. Các phương pháp nghiên cứu.............................................................................40
2.3.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận ....................................................................40
2.3.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi .............................................................40
2.3.3. Phương pháp thống kê toán học .....................................................................43
2.4. Quy trình thu thập dữ liệu ..................................................................................43
2.5. Tiến trình nghiên cứu .........................................................................................44
2.6. Đạo đức nghiên cứu ...........................................................................................44
Tiểu kết chƣơng 2 ....................................................................................................44
CHƢƠNG 3..............................................................................................................46
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .....................................................................................46
3.1. Thực trạng khả năng tự phục hồi của học sinh THPT .......................................46
3.1.1. Thực trạng khả năng tự phục hồi của học sinh THPT ....................................46
3.1.2. Sự khác biệt của các nhóm nhân khẩu học về KNTPH của học sinh THPT...48
3.2. Thực trạng vấn đề cảm xúc, hành vi của học sinh THPT ..................................51
3.2.1. Thực trạng vấn đề cảm xúc, hành vi của học sinh THPT ...............................51
3.2.2. Sự khác biệt của các nhóm nhân khẩu học về vấn đề cảm xúc, hành vi của
học sinh THPT...........................................................................................................54
3.3. Thực trạng các trải nghiệm khó khăn thời thơ ấu của học sinh THPT ..............57
3.3.1. Thực trạng các trải nghiệm khó khăn thời thơ ấu của học sinh THPT ..........57
3.3.2. Sự khác biệt ở các nhóm nhân khẩu học về các trải nghiệm khó khăn thời thơ
ấu của học sinh THPT ...............................................................................................59
3.4. Mối quan hệ giữa khả năng tự phục hồi và vấn đề cảm xúc, hành vi của học
sinh THPT .................................................................................................................60
3.4.1. Mối quan hệ giữa khả năng tự phục hồi nói chung và các vấn đề cảm xúc,
hành vi của học sinh THPT .......................................................................................60
3.4.2. Mối quan hệ hệ giữa các yếu tố trong khả năng tự phục hồi với vấn đề CXHV
luật pháp, giáo dục; đồng thời gia tăng các nguy cơ rối loạn tâm thần trong tương lai
[63]. Fergusson (2002) đã nghiên cứu trường diễn và cho thấy những vị thành niên
có biểu hiện trầm cảm thì có nguy cơ cao mắc rối loạn trầm cảm chủ yếu, rối loạn lo
âu, phụ thuộc hoặc lạm dụng chất, ý định tự sát, kết quả học tập thấp, thất nghiệp và
làm cha mẹ sớm trong giai đoạn trưởng thành [36]. Ngoài ra, nghiên cứu của
Hofstra (2002) trên nhóm mẫu vị thành niên Hà Lan cũng cho thấy kết quả tương tự
[47]. Bên cạnh đó, Colman (2009) cũng đã chỉ ra những kết quả tiêu cực của vấn đề
hành vi ở lứa tuổi vị thành niên ở Anh: Những em có các vấn đề hướng ngoại
nghiêm trọng thì có xu hướng bỏ học cao và gặp nhiều khó khăn liên quan đến sức
khỏe tâm thần, mối quan hệ, cuộc sống gia đình, vấn đề giáo dục, vấn đề kinh tế khi
trưởng thành [26]. Các kết quả trên cho thấy vấn đề CXHV của lứa tuổi vị thành
niên có thể dẫn đến những kết quả tiêu cực, rất cần được quan tâm nghiên cứu sâu.
Trong hoạt động phòng ngừa, can thiệp các vấn đề cảm xúc, hành vi của vị
thành niên, một khía cạnh được quan tâm nhiều hiện nay là khả năng tự phục hồi
2
(KNTPH). Nhiều nghiên cứu trước đó đã cho thấy rằng trong nhóm trẻ em sống ở
môi trường có nguy cơ cao (như sống trong gia đình bạo lực, nghèo đói, gặp nhiều
1
2
Tiếng Anh: emotional and behavioral problems
Tiếng Anh: Resilience
1
thiên tai, phải sống tị nạn…), vẫn có nhiều em đạt được kết quả phát triển tích cực
[81]. Các em đó được coi là có KNTPH [56]. Theo Hjemdal và cộng sự (2006),
2
về thực trạng rối loạn lo âu ở học sinh trường Trung học phổ thông chuyên Quảng
Bình; nghiên cứu của nhóm tác giả Đặng Hoàng Minh, Barh Weiss, Nguyễn Cao
Minh (2013) về thực trạng sức khỏe tâm thần trẻ em Việt Nam…[1][7][9] Tuy
nhiên, trong phạm vi tìm hiểu của đề tài, những nghiên cứu tại Việt Nam về mối
quan hệ giữa KNTPH và vấn đề CXHV còn khá hạn chế. Đồng thời, mối quan hệ
giữa TNKK thời thơ ấu, KNTPH và vấn đề CXHV cũng chưa được nghiên cứu
trong các đề tài trước đây ở Việt Nam. Như vậy, đòi hỏi cần thêm các nghiên cứu
tại Việt Nam để làm bổ sung thêm kho tàng lý luận và các kết quả thực chứng cho
hướng này.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi thực hiện đề tài “Mối liên hệ
giữa khả năng tự phục hồi và vấn đề cảm xúc, hành vi của học sinh trung
học phổ thông tại thành phố Hà Nội” để giúp tìm hiểu mối liên hệ giữa
KNTPH và vấn đề CXHV của học sinh THPT, đặc biệt xem xét nó với sự tồn tại
của TNKK thời thơ ấu. Trên cơ sở đó, đề xuất các chiến lược cho hoạt động
phòng ngừa và can thiệp vấn đề CXHV ở vị thành niên. Các câu hỏi nghiên cứu
mà đề tài đặt ra như sau: (1) Thực trạng KNTPH; vấn đề CXHV của các HS
THPT tại Hà Nội là như thế nào? (2) Giữa KNTPH và vấn đề CXHV của các HS
THPT tại Hà Nội có mối quan hệ gì, đặc biệt khi xem xét mối quan hệ này với sự
tồn tại của các yếu tố nguy cơ như TNKK thời thơ ấu? (3) Những yếu tố nhân
khẩu học như giới tính, học lực, khu vực sống… có liên quan đến KNTPH, vấn
đề CXHV của học sinh THPT hay không?
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm tìm hiểu về mối liên hệ giữa khả năng tự phục hồi và vấn
đề cảm xúc, hành vi của học sinh THPT; đặc biệt xem xét mối liên hệ này với sự
tồn tại của TNKK thời thơ ấu. Trên cơ sở đó, đưa ra những khuyến nghị cho hoạt
Trên cơ sở đọc và phân tích, tổng hợp tài liệu liên quan đến đề tài nghiên
cứu; hệ thống hóa cơ sở lý luận với những khái niệm công cụ; tổng quan lịch sử
nghiên cứu vấn đề; xây dựng cơ sở lý thuyết về đề tài.
6.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Thang đo Khả năng tự phục hồi cho vị thành niên (Resilience Scale for
Adolescents: READ) được sử dụng để đánh giá về khả năng tự phục hồi ở học sinh THPT.
- Bảng tự báo cáo của thiếu niên (The Youth Self-Report Form: YSR) được
sử dụng nhằm đánh giá vấn đề CXHV của học sinh THPT.
4
- Bảng hỏi Các trải nghiệm khó khăn thời thơ ấu (Adverse childhood
Experiences Questionnaire: ACE) để khảo sát các TNKK thời thơ ấu của học sinh
THPT.
6.3. Phương pháp thống kê toán học
Để xử lý các số liệu được thu thập từ phương pháp điều tra bằng bảng hỏi,
nghiên cứu sử dụng phần mềm xử lý số liệu SPSS bản 22.
7. Giới hạn nghiên cứu
- Về nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu này chỉ tập trung đánh giá KNTPH
với các cấu trúc theo thang đo READ. Đối với vấn đề CXHV, chỉ đánh giá 8 nhóm
vấn đề CXHV theo thang đo YSR. Về các TNKK thời thơ ấu, đề tài này chỉ khảo
sát 10 loại TNKKTTA theo bảng hỏi ACE.
- Về phạm vi nghiên cứu: chỉ thực hiện nghiên cứu đối với học sinh lớp 10
và lớp 11 của 4 trường THPT trên TP. Hà Nội.
- Về thời gian nghiên cứu: nghiên cứu được thực hiện từ tháng 11/2016 đến
tháng 10/2017.
8. Đóng góp mới của luận văn
đề CXHV ở mức lâm sàng là 18%, phần lớn vấn đề thuộc nhóm hướng nội như
trầm cảm, lo âu. Nữ giới có mức độ trầm cảm, lo âu, phàn nàn cơ thể nói riêng và
vấn đề hướng nội nói chung cao hơn so với nam giới. Nam giới và vị thành niên lớn
tuổi báo cáo mức độ hành vi phá vỡ quy tắc cao hơn [50]. Tác giả Pathak (2011) đã
nghiên cứu với 1150 học sinh Ấn Độ từ 12 đến 18 tuổi, kết quả cho thấy, tỉ lệ vấn
đề CXHV do bằng Bảng thiếu niên tự báo cáo (YSR) là 30%, nữ nhiều hơn nam.
Các triệu chứng hướng nội là vấn đề thường gặp nhất (28.6%) [66]. Tại Trung
Quốc, Wang và cộng sự (2014) đã khảo sát 5520 vị thành niên Trung Quốc tuổi 1118 từ 30 trường công với bảng hỏi Điểm mạnh và khó khăn (SDQ). Số liệu thu chỉ
ra rằng có 10.7% vị thành niên có điểm số VĐCXHV trên mức ranh giới [77].
Thực trạng vấn đề CXHV ở vị thành niên từ các nền văn hóa khác nhau cũng
được quan tâm bởi nhiều nghiên cứu. Nghiên cứu của Weisz và cộng sự (1993) cho
thấy trẻ em Mỹ da trắng có tỷ lệ cao các vấn đề hướng ngoại (như tranh cãi, không
nghe lời, hung bạo với người khác) còn trẻ Kenya có tỉ lệ cao các vấn đề hướng nội
(như sợ hãi, cảm giác tội lỗi, vấn đề cơ thể). Các tác giả cũng gợi ý rằng sự khác
biệt này có thể liên quan đến tính vâng lời và tuân thủ được nhấn mạnh ở văn hóa
Kenya, trong khi ở văn hóa Mỹ nhấn mạnh đến tính độc lập [79]. Ngoài ra, sự nhạy
6
cảm của phụ huynh và điều kiện sống ở Thế giới thứ ba cũng là những giả thuyết
được các tác giả đặt ra. Không chỉ vậy, Weisz còn thực hiện nghiên cứu để tìm hiểu
vấn đề CXHV ở trẻ em Mỹ và Thái Lan. Trẻ em Thái Lan, với nền văn hóa chịu ảnh
hưởng từ Phật giáo khuyến khích tính tự chủ, khả năng kiểm soát cảm xúc và không
khuyến khích các hành vi gây hấn, đã báo cáo nhiều vấn đề hướng nội hơn (như xấu
hổ, sợ hãi) so với trẻ em Mỹ [80]. Tương tự, Crijnen (1993) và cộng sự đã so sánh
vấn đề CXHV ở trẻ em và vị thành niên từ 12 nền văn hóa bao gồm Úc, Bỉ, Trung
Quốc, Đức, Hy Lạp, Israel, Jamaica, Hà Lan, Puerto Rico, Thụy Điển, Thái Lan và
Hoa Kỳ. Số liệu thu được chỉ ra rằng có sự khác biệt mức độ trung bình giữa các
nền văn hóa khác nhau ở các vấn đề thu mình và vấn đề xã hội; sự khác biệt nhỏ ở
Về biểu hiện của rối loạn lo âu, Beesdo và cộng sự (2009) đã tổng hợp kết quả của
các nghiên cứu khác nhau ở các nước Đài Loan, Puerto Rico, New Zealand, Mỹ,
Đức, Canada, Thụy Điển, Hà Lan và đưa ra tỷ lệ rối loạn lo âu ở trẻ em và vị thành
niên như sau: tỉ lệ ám sợ đặc hiệu đo tại thời điểm dao động từ 0.2%-14.6%; ám sợ
xã hội là 0.5%-11.1%... [18]. Các tác giả đã giải thích tỷ lệ rối loạn lo âu dao động
nhiều là do khác biệt trong các nhóm tuổi, các công cụ nghiên cứu khác nhau,
nguồn thông tin, phương pháp tổng hợp dữ liệu và các hệ thống chẩn đoán được sử
dụng… Tương tự, các nghiên cứu về thực trạng rối loạn hành vi cũng rất đa dạng:
Nghiên cứu của tác giả Murray (2013) tìm hiểu tỷ lệ mắc rối loạn hành vi ở trẻ em
và vị thành niên Brazil với kết quả cho thấy tỷ lệ trung bình các vấn đề hành vi
trong bảng hỏi sàng lọc là 20.8%, tỷ lệ trung bình rối loạn cư xử/rối loạn khiêu
khích chống đối là 4.1% [61]. López-Villalobos (2014) ở Tây Ban Nha đã nghiên
cứu và cho biết biết tỷ lệ rối loạn khiêu khích chống đối của trẻ là 5.6%; xét theo
giới tính: nam là 6.8% và nữ là 4.3% [52].
Ở Việt Nam, một số nghiên cứu đã được thực hiện để tìm hiểu thực trạng vấn
đề CXHV nói chung cũng như các loại VĐCXHV cụ thể ở vị thành niên:
Về các loại vấn đề CXHV cụ thể: Lê Thị Kim Dung (2007) đã nghiên cứu
2549 học sinh trung học cơ sở tuổi từ 11-15 ở miền Bắc, cho thấy tỷ lệ một số vấn
đề cảm xúc, hành vi cụ thể là: lo âu (12.3%); trầm cảm (8.4%); tic (4.2%)…[1] Bên
cạnh đó, Nguyễn Thị Hằng Phương (2009) đã điều tra về thực trạng rối loạn lo âu ở
học sinh trường Trung học phổ thông chuyên Quảng Bình, kết quả nghiên cứu cho
thấy tỉ lệ rối loạn lo âu ở học sinh là 21.6% [9]. Về rối loạn trầm cảm ở trẻ vị thành
niên, Cao Vũ Hùng (2010) đã tiến hành nghiên cứu trên nhóm trẻ điều trị tại Bệnh
viện Nhi Trung ương. Trong số vị thành niên bị trầm cảm, tuổi 13-16 chiếm tỷ lệ
cao (63.75%), tuổi trung bình là 14.15 (SD=1.74), nữ nhiều hơn nam (1.16/1). Bên
8
cạnh đó, các rối loạn khác ở trẻ vị thành niên bị trầm cảm nhiều nhất là rối loạn lo
9
Đối với rối loạn lo âu, một số yếu tố nguy cơ đã được Beesdo và cộng sự
(2009) chỉ ra: yếu tố nhân khẩu học (nữ giới, trình độ học vấn thấp, thu nhập thấp),
các yếu tố sinh học (gen, chức năng thần kinh), đặc điểm khí chất và nhân cách, các
yếu tố về môi trường (phong cách làm cha mẹ, bầu không khí trong gia đình, các
khó khăn thời thơ ấu, biến cố trong cuộc đời) [18]. Đối với triệu chứng rối loạn lo
âu xã hội, Wu (2016) đã nghiên cứu và phát hiện các yếu tố nguy cơ như: độ tuổi,
rối loạn chức năng gia đình, chất lượng cuộc sống, khả năng ứng phó kém, triệu
chứng trầm cảm và lòng tự trọng thấp [87].
Ở rối loạn cư xử, các yếu tố nguy cơ đã được chỉ ra trong nghiên cứu của
Murray (2010) là tính khí bốc đồng, chỉ số IQ thấp, thành tích học thấp, ít sự giám
sát của cha mẹ, kỷ luật của cha mẹ không nhất quán, cha mẹ có thái độ lạnh nhạt, bị
lạm dụng tình dục, cha mẹ có xung đột với nhau, cha mẹ và bạn bè có thái độ chống
đối xã hội, gia đình thu nhập thấp, trường học và khu phố có tỷ lệ tội phạm cao [60].
Không chỉ xác định các yếu tố nguy cơ với vấn đề CXHV cụ thể, một số nghiên
cứu tìm hiểu về yếu tố nguy cơ với vấn đề CXHV nói chung. Compas và cộng sự
(1989) đã khảo sát 309 trẻ 10-15 tuổi ở Vermont, Mỹ và cha mẹ của các em trong
nghiên cứu dài 9 tháng để tìm hiểu yếu tố nguy cơ đối với vấn đề CXHV của lứa tuổi
đầu vị thành niên. Kết quả cho thấy, vấn đề CXHV của trẻ được dự đoán bởi các sự
kiện gây căng thẳng với trẻ, sự kiện gây căng thẳng, triệu chứng tâm lý của cha mẹ
[27]. Rae-Grant (1989) đã nghiên cứu 3294 trẻ em và vị thành niên từ 4 đến 16 tuổi ở
Canada, cho thấy các vấn đề liên quan đến phụ huynh và gia đình là yếu tố gây nguy cơ
cao với các rối loạn [67]. Bên cạnh đó, nghiên cứu của Gortmaker và cộng sự (1990)
với 11699 trẻ em và vị thành niên ở Mỹ cũng chỉ ra thấy điều kiện về sức khỏe với các
bệnh mãn tính cũng là yếu tố gây nguy cơ cao với vấn đề CXHV: có sự khác biệt lớn
giữa các em có bệnh mãn tính và không có bệnh mãn tính ở các vấn đề trầm cảm/lo âu,
xung đột với bạn/thu mình; tỷ lệ các vấn đề hành vi cực đoan ở các em có bệnh mãn
động [7]. Trên nhóm mẫu vị thành niên nam trường giáo dưỡng, tác giả Trần Thành
Nam (2015) tìm mối liên hệ giữa phong cách hành vi làm cha mẹ và các biểu hiện
rối loạn hành vi cảm xúc ở vị thành niên trên 172 khách thể nam trường Giáo dưỡng
và 172 khách thể nam từ cộng đồng trong độ tuổi từ 13-16. Kết quả nghiên cứu
khẳng định phong cách hành vi làm cha mẹ ảnh hưởng đến 8 nhóm rối loạn gồm rối
loạn lo âu trầm cảm, thu mình trầm cảm, than phiền cơ thể, vấn đề xã hội, vấn đề tư
duy, vấn đề chú ý, hành vi xâm kích/gây hấn và hành vi phá luật. Cụ thể, phong
cách dễ dãi nuông chiều dự báo 7/8 nhóm rối loạn, phong cách làm cha mẹ độc
đoán dự báo 5/8 nhóm rối loạn. Một số yếu tố nguy cơ gồm: sự thiếu nhất quán
11
trong ứng xử của cha mẹ với con cái, hành vi kiểm soát cảm xúc và một số biến
nhân khẩu học như thu nhập, số lượng anh chị em trong gia đình [8].
Nhìn chung, từ những nghiên cứu trên, có thể thấy rằng vấn đề CXHV ở vị
thành niên đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong nước và ngoài
nước. Các nghiên cứu về thực trạng vấn đề CXHV ở vị thành niên đã được thực
hiện trên các nhóm đối tượng khác nhau và tập trung cả vào vấn đề CXHV chung
lẫn những loại vấn đề CXHV cụ thể. Kết quả của các nghiên cứu đó cho thấy tỷ lệ
vấn đề CXHV ở vị thành niên khá cao. Một số vấn đề CXHV thuộc nhóm hướng
nội có xu hướng xuất hiện nhiều hơn các vấn đề CXHV thuộc nhóm hướng ngoại
(như nghiên cứu ở các nước Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam...). Những yếu tố nguy cơ
đã được chỉ ra trong các nghiên cứu đi trước bao gồm những yếu tố thuộc về cá
nhân, gia đình, trường học/cộng đồng. Các trải nghiệm khó khăn thời thơ ấu cũng là
một trong số những yếu tố nguy cơ đối với vấn đề CXHV của vị thành niên.
1.1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu về khả năng tự phục hồi
Các nghiên cứu về KNTPH nổi lên từ những năm 1960, 1970 của thế kỉ
trước khi một số nhà nghiên cứu bắt đầu quan tâm đến hiện tượng nhóm trẻ sống
trong điều kiện nhiều nguy cơ nhưng vẫn biểu hiện sự thích ứng tích cực [54]. Từ
lòng tin cho trẻ. Không chỉ vậy, cá nhân có KNTPH còn tìm kiếm những môi
trường mang tính củng cố và khen thưởng cho những năng lực của mình, giúp họ
thành công vượt qua các thay đổi trong cuộc đời [81].
Tương tự, nghiên cứu về 139 gia đình đơn thân người Mỹ gốc Phi có con từ
6 đến 9 tuổi của các tác giả Bordy, Flor và Gibson (1999) chỉ ra rằng thói quen gia
đình (như có thời gian nói chuyện với nhau mỗi ngày, cha/mẹ đi làm về vào cùng
một thời điểm mỗi ngày) cũng đóng góp vào việc có kết quả phát triển tích cực của
trẻ. Khi gia đình không có các hoạt động chung cùng nhau hoặc cha mẹ thường về
nhà muộn, trẻ có thể cảm thấy mình tự do, được làm những thứ mà cha mẹ không
cho phép nếu họ ở nhà, bao gồm cả hành vi thử nghiệm với các chất hoặc từ chối
làm bài tập (dẫn theo Luthar, 2006) [53]. Buckner, Mezzacappa và Beardslee (2003)
đã tiến hành nghiên cứu 155 trẻ từ các gia đình thu nhập thấp để xác định các yếu
tố, đặc điểm tạo nên sự khác biệt giữa những trẻ có KNTPH và những trẻ khác. Kết
quả cho thấy, các em có KNTPH báo cáo kỹ năng tự điều chỉnh bản thân và lòng tự
tôn nhiều hơn, đồng thời nhận được nhiều sự giám sát của cha mẹ hơn [21].
Cicchetti và Rogosch (1997) khi nghiên cứu về trẻ em bị ngược đãi đã cung
cấp bằng chứng về việc các yếu tố trong KNTPH có thể khác nhau ở những hoàn
cảnh, điều kiện khác nhau [24]. Trong khi nhiều nghiên cứu khác chỉ ra mối quan
hệ liên cá nhân gần gũi và hỗ trợ xã hội dự báo kết quả phát triển tốt của trẻ em gặp
13
nhiều nguy cơ, nghiên cứu của hai tác giả này lại cho thấy rằng những trẻ bị ngược
đãi mà vẫn có sự thích nghi tích cực dài hạn là những em mà ít nhận được hỗ trợ
hơn. Dự án KNTPH của trẻ em Rochester cũng cho thấy các bằng chứng tương tự.
Khảo sát nhóm trẻ em khu vực đô thị có bối cảnh khó khăn (tỉ lệ đói nghèo, bạo lực
cao, gia đình bất hòa và các vấn đề sử dụng chất), nghiên cứu này cho thấy các yếu
tố bảo vệ có hiệu ứng khác nhau phụ thuộc vào đặc điểm của trẻ và bối cảnh [88].
Ví dụ, mặc dù các kỳ vọng tương lai tích cực và sự nhận thức về năng lực bản thân
trong các hệ thống sinh thái và phát triển. Từ đó, giúp đưa ra bằng chứng cho thấy
hiệu ứng của các yếu tố trong KNTPH đa dạng theo bối cảnh (từ hoàn cảnh, điều
kiện này tới hoàn cảnh, điều kiện khác) và theo thời gian (xuyên suốt một tình
huống hoặc trải qua các giai đoạn trong cuộc đời cá nhân).
- Hướng thứ hai: Những nghiên cứu tìm hiểu các chiến lược, biện pháp
nâng cao khả năng tự phục hồi
Nhiều chương trình can thiệp, phòng ngừa nhằm tăng cường KNTPH đã
được nghiên cứu và chứng minh về tính hiệu quả:
Một trong những chương trình phòng ngừa tập trung vào việc nâng cao
KNTPH là chương trình RAP (Resourceful Adolescent Program) được tiến hành để
phòng ngừa trầm cảm ở vị thành niên. Trong đó, bao gồm cả các phiên dành cho trẻ
và các phiên cho bố mẹ. Nghiên cứu về hiệu quả của can thiệp này được thực hiện
trên 260 học sinh lớp 9 ở Australia và phụ huynh của họ, kết quả cho thấy khi so
sánh với nhóm không được can thiệp, cả hai nhóm can thiệp (RAP cho vị thành niên
và RAP cho phụ huynh) đều thể hiện điểm triệu chứng trầm cảm thấp sau khi can
thiệp và 10 tháng theo dõi sau đó [71].
Ngoài ra, một nghiên cứu khác đánh giá hiệu quả của chương trình can thiệp
mang tính phòng ngừa có tên Familias Unidas –, dành cho nhóm người nhập cư gốc
Tây Ban Nha ở Mỹ. Chương trình này tập trung vào yếu tố gia đình trong KNTPH,
giúp tăng cường sự tham gia của phụ huynh vào quá trình trao quyền; xây dựng
mạng lưới hỗ trợ mạnh mẽ của phụ huynh và sử dụng mạng lưới đó để tăng các kỹ
năng làm cha mẹ; kiến thức làm cha mẹ theo khía cạnh văn hóa; ứng dụng các kỹ
năng mới vào các hoạt động nhằm giảm nguy cơ thường gặp ở môi trường đô thị
nghèo. Triển khai chương trình Familias Unidas trên 167 gia đình học sinh lớp 6,7
gốc Tây Ban Nha đã cho thấy hiệu quả tích cực đối với việc giảm các vấn đề hành
vi ở trẻ. Mặc dù chương trình này không có ảnh hưởng đáng kể đến kết quả học tập
của trẻ, nhưng đã cho thấy việc áp dụng các chiến lược theo bối cảnh văn hóa là
điều quan trọng [25].
15
cứu về KNTPH ở Việt Nam còn tương đối mới mẻ, cần có thêm các đề tài để khai
thác sâu về thực tiễn và lý luận.
16