ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ QUÝ
NHẬN THỨC VÀ HÀNH VI TÌM KIẾM TRỢ GIÚP
CỦA CHA MẸ CHO TRẺ CÓ BIỂU HIỆN TĂNG ĐỘNG
GIẢM CHÚ Ý Ở TUỔI TIỂU HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
HÀ NỘI – 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ QUÝ
NHẬN THỨC VÀ HÀNH VI TÌM KIẾM TRỢ GIÚP
CỦA CHA MẸ CHO TRẺ CÓ BIỂU HIỆN TĂNG ĐỘNG
GIẢM CHÚ Ý Ở TUỔI TIỂU HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Chuyên ngành: Tâm lý học lâm sàng trẻ em và vị thành niên
Mã số: Thí điểm
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS.TRẦN THÀNH NAM
HÀ NỘI – 2017
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ADHD
Attention Dificit Hyperactivity Disorder- Rối loạn
tăng động giảm chú ý.
Diagnostic and Statistical Manual of Mental
DSM
Disorder- Sách hướng dẫn chẩn đoán và phân loại
bệnh tâm thần (Hội tâm thần học Hoa Kỳ)
The 10th International Classification of Diseases-
ICD-10
World Health Organization- Bảng phân loại bệnh
quốc tế lần thứ 10 của tổ chức y tế thế giới.
Tr
Trang
ii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................... I
3.1. Nhận thức chung về rối loạn tăng động giảm chú ý ................................ 50
3.1.1. Khả năng nhận diện các biểu hiện tăng động giảm chú ý..................... 50
3.1.2. Nhận thức của cha mẹ về khái niệm hiếu động và tăng động giảm chú ý .. 53
3.1.3. Định nghĩa của cha mẹ về tăng động giảm chú ý ................................. 54
3.1.4. Nhận định về thời gian xuất hiện các biểu hiện .................................... 55
3.1.5. Nhận định về môi trường xuất hiện các hành vi của trẻ có adhd.......... 55
3.1.6. Nhận định về độ tuổi dễ phát hiện tăng động giảm chú ý nhất ............ 56
3.2. Thực trạng nhận diện các biểu hiện, nguyên nhân, cách thức can thiệp và
hành vi tìm kiếm sự hỗ trợ .............................................................................. 57
3.2.1. Thực trạng nhận diện các biểu hiện của rối loạn tăng động giảm chú ý ..... 57
3.2.2. Nhận thức của cha mẹ về nguyên nhân gây ra adhd ở học sinh tiểu học.... 59
3.2.3. Nhận thức của cha mẹ về phương pháp can thiệp cho trẻ có ADHD......................60
3.3. Hành vi tìm kiếm sự trợ giúp của cha mẹ cho trẻ có biểu hiện adhd....... 62
3.3.1. Hành vi tìm kiếm thông tin về adhd ...................................................... 62
3.3.2. Hành vi tìm kiếm sự trợ giúp của cha mẹ cho trẻ có biểu hiện adhd.... 63
3.4. Tương quan giữa nhận thức về biểu hiện, nguyên nhân, cách can thiệp và
hành vi tìm kiếm sự trợ giúp ........................................................................... 66
3.4.1. Tương quan giữa trình độ học vấn của cha mẹ với nhận thức về các
biểu hiện, nguyên nhân của adhd .................................................................... 66
3.4.2. Tương quan giữa nhận thức về biểu hiện, nguyên nhân, cách can thiệp
và hành vi tìm kiếm sự trợ giúp ...................................................................... 67
3.4.3. Hồi quy dự báo hành vi tìm kiếm sự hỗ trợ adhd từ biến số nhận thức
của phụ huynh về các biểu hiện và nguyên nhân dẫn đến adhd ..................... 70
Kết luận chƣơng 3 ......................................................................................... 72
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ............................................................... 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 76
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 80
iv
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ
Biểu đồ 3.1. Khả năng nhận diện của cha mẹ về tình huống 1 ....................... 51
Biểu đồ 3.2. Khả năng nhận diện của cha mẹ về tình huống 2. ...................... 52
Biểu đồ 3.3. Biểu đồ phân biệt giữa hiếu động và ADHD ............................. 53
Biểu đồ 3.4: Biểu đồ phân bố tần số và tỷ lệ lựa chọn độ tuổi dễ phát hiện
ADHD nhất ..................................................................................................... 56
vi
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tăng động giảm chú ý( ADHD) là rối loạn tâm thần thường gặp nhất ở
trẻ em và thanh thiếu niên (TE&TTN ).Theo DSM-IV TR thì tỉ lệ trẻ trong độ
tuổi đi học mắc ADHD là 3-7 %, theo số liệu của viện sức khỏe tâm thần
quốc gia Hoa Kỳ thì rối loạn này có xu hướng tăng lên trong những năm gần
đây. Theo nghiên cứu khác của tác giả Ayaka Ishii- Takahashi - Nhật Bản thì
tỉ lệ mắc rối loạn tăng động giảm chú ý ở nước này tăng từ 3% (1980) lên 7%
(2009). Ở Việt Nam, theo báo cáo của tác giả Nguyễn Văn Lương, bệnh viện
tâm thần trung ương Huế thì hiện nay tỉ lệ mắc rối loạn ADHD ở lứa tuổi tiểu
học là từ 3-5 % và ngày càng gia tăng (dẫn theo Đỗ Minh Thúy Liên ,2010).
Gần hơn, số liệu nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hiền cho thấy tỉ lệ là
khoảng 9,3% (Nguyễn Thị Thu Hiền, 2012)
ADHD ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống của trẻ: ảnh hưởng đến
hoạt động học tập, sinh hoạt, cũng như các mối quan hệ của trẻ với những người
xung quanh: cha mẹ, bạn bè, thầy cô. Trẻ ADHD thường gây khó chịu cho
người khác và hay bị gán cho những nhãn mác: “Hư, bướng, phá phách...” mà
không được quan tâm điều trị, làm ảnh hưởng đến phát triển tâm lý của trẻ. Các
chưa nhận thức được vấn đề của trẻ.
Việc điều trị cho những trẻ ADHD cũng cần được chú trọng để giảm
bớt các hậu quả nghiêm trọng do hội chứng này gây ra, giúp trẻ hòa nhập tốt
với trường lớp, gia đình và xã hội. Trên thế giới, ở Bỉ , trong chính sách chăm
sóc sức khỏe , suốt từ năm 2004 thuốc Ritalin là một trong những thuốc được
hỗ trợ đặc biệt để điều trị cho rối loạn này. Ở Mỹ, trong những năm 1990,
Chính phủ Mỹ trong cuộc cải cách xã hội với cam kết chi ra một khoản tiền
lớn cho những trẻ có khó khăn học tập, mà ADHD là một trong những dự án
này . Tại Việt Nam cho đến thời điểm hiện tại, sự quan tâm của Nhà nước về
sức khỏe tâm thần mới chỉ tập trung chủ yếu vào đối tượng người lớn mắc
một số loại bệnh tâm thần nặng, nghiêm trọng như: tâm thần phân liệt, động
kinh tâm thần, chậm phát triển tâm thần, mà ít chú trọng đến rối loạn như
2
ADHD. Chính vì vậy, công tác sàng lọc phát hiện sớm và chăm chữa cho trẻ
ADHD chủ yếu là do gia đình trong đó có vai trò đặc biệt quan trọng của cha
mẹ. Tuy nhiên trình độ nhận thức của người dân Việt nam nói chung cũng như
của các bậc phụ huynh nói riêng về rối loạn ADHD còn hạn chế. Bằng chứng
nghiên cứu đi trước cho thấy có nhiều cha mẹ vẫn quan niệm “trẻ nghịch, hiếu
động mới là trẻ thông minh” nên công tác nhận diện, phát hiện và can thiệp sớm
cho trẻ bị ADHD còn gặp rất nhiều rào cản (Trần Thành Nam, 2001). Nghiên
cứu của Nguyễn Thị Phương Trang trên 110 cha mẹ về nhận thức về hội chứng
ADHD ở học sinh tiểu học chỉ ra rằng có 71 cha mẹ (chiếm 64,5%) trả lời rằng
mình đã từng nghe nói về ADHD, 39 người (chiếm 35,5%) chưa từng nghe qua
về ADHD ( Nguyễn Thị Phương Trang, 2016). Hiện tại ở Việt Nam chưa có
nhiều nghiên cứu đủ độ tin cậy về nhận thức của cha mẹ đối với rối loạn này.
Đó là những lý do thúc đẩy tôi thực hiện đề tài nghiên cứu : “ Nhận
thức về biểu hiện, nguyên nhân, cách can thiệp và hành vi tìm kiếm trợ
giúp cho trẻ ADHD ở tuổi tiểu học.”
5. Giả thuyết nghiên cứu
- Nhận thức về nguyên nhân, biểu hiện, cách can thiệp đã có nhiều
thay đổi tuy nhiên còn nhiều hạn chế.
- Cha mẹ còn có hành vi tìm kiếm trợ giúp chưa phù hợp cho trẻ ADHD.
- Có mối tương quan giữa nhận thức của cha mẹ về biểu hiện, nguyên
nhân, hình thức can thiệp và hành vi tìm kiếm trợ giúp.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Nhằm hệ thống lại các cơ sở lý thuyết, tìm hiểu các công trình nghiên
cứu đã có về ADHD, xem xét các vấn đề đã được nghiên cứu trong và ngoài
nước bằng việc tham khảo các tài liệu, sách, báo, tạp chí, kỉ yếu...từ đó xây
dựng bảng hỏi về nhận thức của cha mẹ đối với các biểu hiện, nguyên nhân,
cách can thiệp và hành vi tìm kiếm trợ giúp cho trẻ ADHD.
6.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:
6.2.1. Bảng hỏi nhân khẩu học: tuổi, giới tính, trình độ học vấn, kinh tế….
6.2.2. Bảng hỏi về các biểu hiện tăng động giảm chú ý: thang Vanderbilt (cha
mẹ hoặc người chăm sóc báo cáo)
4
6.2.3. Bảng hỏi nhận thức về nguyên nhân, phương pháp can thiệp, hành vi
tìm kiếm trợ giúp cho vấn đề ADHD
6.3. Phương pháp thống kê toán học: Từ số liệu thu được khi khảo sát thực
tế chúng tôi sẽ tiến hành tổng hợp, mã hóa , xử lý số liệu, và phân tích kết quả
thông qua phần mềm SPSS nhằm trả lời câu hỏi nghiên cứu.
7. Cấu trúc của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị , danh mục tài liệu tham
khảo và các phụ lục khác , nội dung chính của luận văn sẽ được trình bày
trong 3 chương :
Chƣơng 1 : Cơ sở lý luận
cha mẹ khác tin vào các phương pháp không có bằng chứng khoa học như
dùng thảo dược, tâm linh, châm cứu, bấm huyệt. Hầu hết các nghiên cứu về
tổn thương sức khỏe tâm thần đều cho thấy nhận thức chung trong cộng đồng
6
về các biểu hiện tổn thương sức khỏe tâm thần là các dấu hiệu nặng: nói điều
vô lý, cười nói một mình, bỏ nhà đi lang thang (Van der Ham et all.2011)
[25]. Nghiên cứu của Gur K Sener và cộng sự trên 260 giáo viên cũng cho
thấy giáo viên đánh giá các biểu hiện nguy hiểm là các biểu hiện tổn thương
sức khỏe tâm thần. Các biểu hiện khác: kỹ năng xã hội kém, thu mình, xấu hổ
ít là các dấu hiệu tổn thương sức khỏe tâm thần [23].
Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng phần lớn bộ phận người dân còn định
kiến về sức khỏe tâm thần và thiếu sự tìm kiếm điều trị. Nghiên cứu của Kelly
và cộng sự (2007) chỉ ra rằng hầu hết các trường hợp không tìm kiếm sự trợ
giúp chuyên nghiệp hoặc chỉ tìm tới sau khi khởi phát một thời gian dài [dẫn
theo 4,tr 29].Số lượng lớn thanh thiếu niên có vấn đề về sức khỏe tâm thần
không nhận được sự can thiệp chuyên nghiệp cần có (Patel và cs, 2007)[ dẫn
the 4,tr29]. Điều này càng rõ rệt ở các nước có thu nhập thấp và thu nhập
trung bình (WHO, 2001).Thống kê lý do cho thực trạng này là sự thiếu kiến
thức, các định kiến liên quan đến rối loạn tâm thần, và khó khăn trong tiếp
cận với các dịch vụ chăm sóc (Kieling và cs, 2011) [dẫn theo 4, tr29]. Nghiên
cứu của Merritt và cs (Anh, 2007)[dẫn theo 4,tr 29-37] trên 3313 sinh viên
nhằm nâng cao nhận thức về trầm cảm, gồm nhận diện triệu chứng, hiểu biết
về điều trị và chiến lược tìm kiếm trợ giúp cho thấy có 69% đọc tờ rơi, ít hơn
½ số đó cho rằng trầm cảm có thể chữa, không có khác biệt đáng kể giữa hai
nhóm. Tuy nhiên, nhóm thực nghiệm có xu hướng nhận diện triệu chứng tốt
hơn và biết thuốc chống trầm cảm không gây nghiện (dẫn theo Đặng Hoàng
Minh và Hồ Thu Hà) [dẫn theo 4, tr 29-37]
nguyên nhân dẫn đến các bệnh tâm thần. Chính vì vậy, họ có xu hướng không
thừa nhận các vấn đề hành vi vi phạm pháp luật, chống đối xã hội, nghiện
game, béo phì là các bệnh/ vấn đề SKTT. Tuy nhiên, so sánh với các nghiên
cứu đi trước, nhận thức của cha mẹ về nguyên nhân các bệnh tâm thần có sự
chuyển biến theo hướng tích cực ở chỗ cha mẹ phần lớn không cho rằng yếu
tố tâm linh là nguyên nhân gây ra bệnh tâm thần. Việc lựa chọn điều trị cũng
mang tính khoa học hơn, phần lớn cha mẹ lựa chọn và tin vào hiệu quả trị liệu
dùng thuốc (Tây Y) và sau đó là trợ giúp từ nhà trường [16,tr290-297].
8
Những nghiên cứu về nhận thức về nhóm bệnh cụ thể chủ yếu tập trung vào
nhận thức về tự kỷ, nhận thức về lo âu, trầm cảm như “Nhận thức về tự kỉ của
sinh viên năm cuối các nghành chăm sóc sức khỏe tâm thần” của Trịnh Thanh
Hương- năm 2013; “Nhận thức của sinh viên về rối loạn trầm cảm” của
Nguyễn Thị Bình- năm 2015. Có rất ít nghiên cứu bàn về nhận thức về tăng
động giảm chú ý.
Có thể tóm lại các kết quả chính một số nghiên cứu trên thế giới và
trong nước trong bảng dưới đây
Bảng 1.1. Một số điểm luận về các nghiên cứu bàn về nhận thức sức khỏe
tâm thần và hành vi tìm kiếm trợ giúp trên thế giới và ở Việt Nam
Tác giả
Số mẫu
Nhận thức
Biểu hiện tổn thương sức
khỏe tâm thần của trẻ được
Mc Kenvey
cơ sở chăm chữa khác [30]
Hầu hết các trường hợp
không tìm kiếm sự trợ giúp
chuyên nghiệp hoặc chỉ tìm
tới sau khi khởi phát một
thời gian dài
Số lượng lớn thanh thiếu
niên có vấn đề về sức khỏe
tâm thần không nhận được
sự can thiệp chuyên nghiệp
cần có
Kelly và
cộng sự
(2007)
Patel và cs,
2007
9
Nhận thức về trầm cảm, gồm
nhận diện triệu chứng, hiểu biết
Merritt và
3313
về điều trị và chiến lược tìm
cs (Anh,
sinh
nhận diện các dấu hiệu tổn
thương SKTT và bệnh tâm
Phần lớn cha mẹ lựa chọn
thần nặng nhiều hơn. Nghiên
Đặng Thị
và tin vào hiệu quả trị liệu
221 cha cứu cũng chỉ ra rằng 70% trở
Thanh Tùng
dùng thuốc (Tây Y) và sau
mẹ
lên cha mẹ không nhận diện
(2015)
đó là trợ giúp từ nhà trường
được các vấn đề như chống đối
[16]
xã hội, nghiện game, stress, lo
lắng,đau đầu, đau bụng là tổn
thương sức khỏe tâm thần[16]
Có thể nhận xét rằng, hầu hết các công trình nghiên cứu trong nước và
quốc tế chỉ ra rằng nhận thức của cộng đồng về sức khỏe tâm thần nói chung
còn hạn chế. Đặc biệt là các hành vi ít gây nguy hại thì ít được để ý đến.
Người dân còn thiếu sự tìm kiếm trợ giúp phù hợp cho các rối loạn tâm thần.
1.1.2. Những nghiên cứu bàn về nhận thức và hành vi tìm kiếm sự trợ giúp
đối với tăng động giảm chú ý
1.1.2.1.Nghiên cứu trên thế giới
Đối với nhóm hành vi: nghịch ngợm, phá phách, ít tập trung chú ý, khó
khăn trong hoạt động nhóm, khó hoàn thành nhiệm vụ, hay quên trong các
10
11
các nhà phê bình, phụ huynh và giáo viên chấp nhận nhãn chẩn đoán và kê
đơn thuốc kích thần (psychostimulant) vì đó là giải pháp tương đối đơn giản,
không tốn kém, và cho tác dụng nhanh để giải quyết các vấn đề phức tạp. Các
nhà phê bình cho rằng ADHD là chẩn đoán quá mức và rằng trẻ em đang
được điều trị không cần thiết và không phù hợp.
Một số nghiên cứu khác đo kiến thức ADHD và quan niệm sai lầm về
ADHD chỉ ra rằng niềm tin vào kiến thức có sức mạnh rất lớn ảnh hưởng đến
việc tìm kiếm sự trợ giúp cho trẻ có ADHD (Anderson, Watt, Noble, &
Shanley, 2012; Dole & Sinatra, 1998; Taylor & Kowalski, 2004). Do đó, một
niềm tin mạnh mẽ trong nhận thức không chính xác có thể là một rào cản
trong tìm sự giúp đỡ hoặc sử dụng một hình thức cụ thể trong điều trị ADHD.
Ví dụ, cha mẹ giữ quan niệm sai lầm mạnh mẽ về việc sử dụng thuốc kích
thần cho ADHD (ví dụ, họ dẫn đến lạm dụng chất lớn hơn) có thể miễn cưỡng
xem xét lựa chọn điều trị này cho con của họ hoặc họ có thể trì hoãn tìm sự
giúp đỡ ở nơi đầu tiên nếu thuốc được coi là sự can thiệp đầu tiên. Những bậc
cha mẹ, lần lượt, có thể tìm thấy phương pháp điều trị ít được chấp nhận hơn.
Cha mẹ khác có thể giữ quan niệm sai lầm tương tự, nhưng không phải là
mạnh mẽ. Những phụ huynh có thể dễ tiếp thu thông tin mới và có thể được
mở để thay đổi nhận thức của họ theo thời gian. Những thay đổi trong nhận
thức có cha mẹ có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc cải thiện và duy
trì sự tiến bộ trong quá trình điều trị (Hoza et al., 2006). Nói chung, phụ
huynh của trẻ em bị ADHD có xu hướng tìm kiếm thông tin từ nhiều nguồn
khác nhau, bao gồm cả chăm sóc sức khỏe của nhân viên chuyên nghiệp, nhân
viên nhà trường, các mạng xã hội, Internet, và các nguồn phương tiện truyền
thông khác . Một nguồn tin đặc biệt quan trọng có thể là Internet vì nhiều cá
nhân sử dụng Internet như một nguồn tìm kiếm những thông tin về ADHD
(Akram et al, 2009;Bussing et al, 2012).
sinh hoạt trong gia đình bị gián đoạn, 76 % đồng tình với ý kiến cho rằng rất
khó khăn khi đi cùng trẻ đến một nơi nào đó và khó khăn trong việc tìm người
trông giữ trẻ. Nghiên cứu này cũng cho thấy các cha mẹ cho rằng ADHD ảnh
hưởng lớn lên cuộc sống gia đình: thời gian để cho một trẻ ADHD ngủ lâu
13
hơn nhiều so với trẻ bình thường. Một nghiên cứu khác của Adore thuộc Anh
cũng chỉ ra sự lo ngại của cha mẹ về tương lai của trẻ và sự cô lập xã hội mà
trẻ ADHD gặp phải, kết quả nghiên cứu chỉ ra có gần một nửa số trẻ bị
ADHD không được mời đến các sự kiện xã hội , trong một tháng có 45 % trẻ
ADHD không bao giờ được mời , 30 % trẻ ADHD không được mời hơn 3 lần,
trẻ được mời đến các sự kiện xã hội là rất ít chỉ 14 % trẻ được mời 1 lần, 6 %
được mời 2 lần, 5 % được mời 3 lần. Cũng theo một nghiên cứu của IPSOS
năm 2005 trên các cha mẹ có con từ 5-16 tuổi cho thấy hầu hết bố mẹ trẻ có
con có ADHD cảm thấy mệt mỏi và bị ảnh hưởng bởi hành vi kéo dài của trẻ
trong ngày,và hiệu suất ở trường của trẻ, 80 % cha mẹ cảm thấy mệt mỏi với
các hành vi kéo dài, 70 % cha mẹ cảm thấy mệt mỏi và ảnh hưởng bởi hiệu
suất làm việc ở trường của trẻ.Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng hầu hết các
bậc cha mẹ của trẻ ADHD cảm thấy quá mệt mỏi để bình thường hóa các mối
quan hệ xã hội, 64 % các cha mẹ đã hủy các sự kiện xã hội do mệt mỏi. Từ
những nghiên cứu trên cho thấy cha mẹ nhận thức khá rõ về biểu hiện, những
khó khăn của trẻ ADHD, tuy nhiên các cha mẹ chưa có cách thức tìm kiếm hỗ
trợ phù hợp để giúp đỡ trẻ cũng như giảm bớt những căng thẳng và mệt mỏi
do tình trạng bệnh của trẻ gây ra (Chew St., Allentown, PA 18.104, Hoa Kỳ.)
1.1.2.2. Nghiên cứu trong nước
Hiện tại, ở Việt Nam có nhiều nghiên cứu về tăng động giảm chú ý ở
trẻ em, tuy nhiên các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào tỉ lệ mắc tăng
động giảm chú ý, các đặc điểm tâm lý lâm sàng của trẻ ADHD như: “Đặc
chú ý, và có cách thức tìm kiếm hỗ trợ phù hợp.
Để tóm lại về những nghiên cứu đi trước liên quan đến nhận thức về
ADHD và hành vi tìm kiếm trợ giúp. Xin xem bảng 1.2 dưới đây.
15
Bảng 1.2. Một số điểm luận về các nghiên cứu bàn về nhận thức ADHD
và hành vi tìm kiếm trợ giúp trên thế giới và ở Việt Nam.
Tác giả
Số mẫu
Schmiedeler
(2013)
353 giáo
viên tiểu
học và
trung học
BlotnickyGallant, Martin,
McGonnell, và
Corkum (2014)
113 giáo
viên
Pescosolido và
cộng sự (2002).
bệnh thực
Hành vi tìm kiếm trợ
giúp.
Không đề cập
Không đề cập
65% đã thông qua việc
sử dụng cả tư vấn và
dùng thuốc
Mark J. Sciutto
Mức cao hơn của quan
niệm sai lầm về ADHD có
Quan niệm, nhận thức
liên quan với sự chấp nhận
139 người và sự chấp nhận điều
thấp hơn của thuốc và sự
trị đối với ADHD
chấp nhận cao hơn của các
can thiệp dinh dưỡng
Anderson, Watt,
Noble, &
Shanley, 2012;
Dole & Sinatra,
1998; Taylor &
Johnston, Seipp,
Hommersen,
Hoza, và Mỹ
(2005)
1998 Social
Survey,
McLeod và các
đồng nghiệp
Nguyễn Thị
Phương
Trang(2016)
64,5% cha mẹ đã
từng nghe nói về
ADHD, 35,5% chưa Không đề cập
từng nghe qua về
ADHD
1.1.3. Nghiên cứu về rối loạn tăng động giảm chú ý
1.1.3.1. Lịch sử thuật ngữ tăng động giảm chú ý.
Rối loạn tăng động giảm chú ý là một hội chứng thường xuất hiện ở
một số trẻ trong lứa tuổi mẫu giáo và những năm đầu bậc tiểu học. Hội chứng
này đã được mô tả lần đầu tiên bởi bác sỹ Henrich Hofman vào năm 1845.
Ông là một bác sỹ chuyên viết sách về y học và tâm thần học, ông quan tâm
viết sách cho trẻ em vì bản thân ông không tìm được tài liệu nào để đọc và
giải nghĩa cho hành vi của cậu con trai lên 3 tuổi của mình. Sau đó ông đã viết
một cuốn sách bằng thơ có đầy đủ tranh minh họa về trẻ em và những đặc