ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
BÙI THỊ HUYỀN
HỒNG ĐỨC QUỐC ÂM THI TẬP
DƯỚI GÓC NHÌN PHÊ BÌNH SINH THÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2018
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
BÙI THỊ HUYỀN
HỒNG ĐỨC QUỐC ÂM THI TẬP
DƯỚI GÓC NHÌN PHÊ BÌNH SINH THÁI
Ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 8.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Thị Nhung
THÁI NGUYÊN - 2018
8. Bố cục luận văn ........................................................................................... 11
Chương 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.................................. 12
1.1. Khái quát về phê bình sinh thái................................................................ 12
1.1.1. Khái niệm phê bình sinh thái ................................................................ 12
1.1.2. Sự hình thành và phát triển của phê bình sinh thái ...............................
15
1.2. Thẩm mĩ sinh thái, thẩm mĩ phi sinh thái, chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái.......
20
1.2.1. Thẩm mĩ sinh thái và thẩm mĩ phi sinh thái.......................................... 20
1.2.2. Chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái............................................................... 23
1.3. Quan hệ thiên nhiên - con người theo quan điểm Phật giáo, Nho giáo
và Đạo giáo...................................................................................................... 24
1.3.1. Phật giáo ................................................................................................ 24
1.3.2. Nho giáo ................................................................................................ 26
1.3.3. Đạo giáo ................................................................................................ 28
1.3.4. Khái quát về tập thơ HĐQÂTT............................................................. 29
Tiểu kết............................................................................................................ 30
ii
Chương 2. HỆ SINH THÁI TRONG HỒNG ĐỨC QUỐC ÂM THI TẬP..
31
2.2. Hệ động vật .............................................................................................. 38
2.3. Nhịp thiên nhiên ....................................................................................... 43
2.3.1. Nhịp bốn mùa ........................................................................................ 43
2.3.2. Nhịp tháng năm ..................................................................................... 49
2.3.3. Nhịp ngày - đêm .................................................................................... 52
Tiểu kết............................................................................................................ 55
Chương 3. MỐI QUAN HỆ THIÊN NHIÊN - CON NGƯỜI TRONG
HỒNG ĐỨC QUỐC ÂM THI TẬP ............................................................ 56
Đại học Sư phạm
iii
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Môi trường sinh thái là một trong những vấn đề liên quan mật thiết
đến sự sống trên toàn cầu, trong đó có sự tồn vong của bản thân mỗi chúng ta.
Nhận thức được nguy cơ sinh thái xảy ra ngày càng trầm trọng, nhân loại đã
có những giải pháp và cách thức khác nhau để góp phần “giải trừ nguy cơ
sinh thái”. Đề tài này được thực hiện chính là góp thêm tiếng nói nhỏ bé vào
mối quan tâm chung mang tính nhân loại ấy.
1.2. Phê bình sinh thái ra đời từ thập niên 90 của thế kỉ XX, là một trong
những bộ phận quan trọng của trào lưu tư tưởng sinh thái. Bên cạnh triết học
sinh thái, luân lí học sinh thái, chủ nghĩa nhân văn sinh thái, văn học sinh
thái... phê bình sinh thái đã ra đời “Không chi mang đến sư tươi mới cho lĩnh
vực nghiên cứu phê bình ma đây còn la khuynh hướng co sư mệnh đặc thu với
lịch sư môi trường nhân loại. Thông qua văn học đê tra vấn văn hóa, phê
phán văn hóa, tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến nguy cơ sinh thái; thay đổi cách
ưng xư của con người với tư nhiên đồng thời khẳng định vai tro của ngôn ngư
trong việc hình thành diễn ngôn vê văn minh sinh thái....”[36]. Với sứ mệnh
đặc thù như vậy, phê bình sinh thái đã lan tỏa rộng rãi trên toàn thế giới. Luận
văn vận dụng lí luận phê bình sinh thái vào nghiên cứu HĐQÂTT hy vọng sẽ
đem đến một cách nhìn mới về tác phẩm khá quen thuộc này, tìm ra ý nghĩa
sinh thái tiềm ẩn trong tập thơ, đồng thời chỉ ra hạn chế của nó trong tương
quan với chỉnh thể sinh thái.
1.3. HĐQÂTT là tập thơ viết bằng chữ Nôm của vua Lê Thánh Tông và
tập thể tác giả Hội Tao Đàn ở thế kỉ XV. Đây là một trong những tập thơ với
các sáng của những thi sĩ được coi là tinh tú ở triều đại thịnh trị Hồng Đức.
Văn Dũng, Hà Nội, 2006); Nghiên cứu thơ Nôm Lê Thánh Tông trong Hồng
Đức quốc âm thi tập (Luận án Tiến sĩ, Trần Thị Giáng Hoa, Hà Nội, 2013);
Tìm hiêu giá tri của phần phong cảnh môn trong Hồng Đức quốc âm thi tập
(Luận văn tốt nghiệp đại học, Phạm Mai Hương); Phương diện nội dung
trong tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập (Luận văn tốt nghiệp đại học,
Nguyễn Thị Nga, 2014)...
2
Các bài báo: Hồng Đức quốc âm thi tập một tác phẩm lớn của văn học
tiếng Việt thế kỷ XV (Bùi Duy Tân, Tạp chí văn học số 4 - 1983); Giá tri biểu
đạt nghệ thuật của ngôn ngư đời sống trong Hồng Đức quốc âm thi tập (Trần
Quang Dũng, Tạp chí Khoa học ĐHSP TP HCM, số 23 năm 2010); Thơ đê
vịnh thiên nhiên trong Hồng Đức quốc âm thi tập (Trần Quang Dũng, Tạp chí
Khoa học ĐHSP TP HCM, số 55 năm 2014)...
Có thể thấy, HĐQÂTT tuy không phải là tập thơ đỉnh cao của văn học
trung đại, nhưng nó có những đặc sắc riêng và đã được không ít nhà nghiên
cứu quan tâm. Dưới đây, chúng tôi xin trình bày lịch sử nghiên cứu vấn đề
qua hai phương diện chính:
2.1. Lịch sử nghiên cứu chung về HĐQÂTT
Những nghiên cứu chung về HĐQÂTT đã quan tâm đến vấn đề tác giả,
giá trị nội dung và đóng góp về nghệ thuật của HĐQÂTT.
Trong phần thứ 3 “Văn học Việt Nam nửa sau thế kỉ XV và Lê Thánh
Tông” của giáo trình Lịch sư Văn học Việt nam (tập 1), Ủy ban khoa học xã
hội Việt Nam do Đinh Gia Khánh chủ biên đã có những nhận định vừa cụ thể,
vừa khái quát về nghệ thuật của tập thơ: “Trong HĐQÂTT cũng co nhiều câu
thơ phản ánh được những nét chân thật vê sinh hoạt của nhân dân...”, “Noi
chung ngôn ngư văn học dân tộc trong HĐQÂTT đã thành thục va hình tượng
nhiều khi điêu luyện. Thê thơ trong HĐQÂTT la thê thơ thất ngôn va thơ lục
ngôn việc áp dụng niêm luật thơ Hàn luật noi chung khá vững vàng”[17,tr 92].
“sáng tạo một hệ thống hình tượng nghệ thuật bắt nguồn trực tiếp từ cuộc
sống đầy đu dân dã gop phần tạo đa cho bước phát triển mới trong nghệ
thuật sáng tạo hình tượng của các tác giả thơ Nôm trong giai đoạn khác
nhau”[6, tr16]. Luận án đã nghiên cứu một cách khá đầy đủ, tỉ mỉ và chi tiết
về chủ đề cũng như hình thức của tập thơ giúp người đọc có cái nhìn bao quát
hơn về HĐQÂTT.
Trong cuốn Lê Thánh Tông vê tác gia va tác phẩm, soạn giả đã tập hợp
nhiều bài viết với ý kiến đánh giá khách quan của nhiều nhà nghiên cứu,
Nguyễn Hồng Phong nhận xét: “HĐQÂTT một mặt phản ánh tư tưởng va
tâm lí của giai cấp phong kiến triêu Lê, kiêu hãnh vì sư nghiệp dựng nước
4
của dong ho nha Lê, cũng kiêu hãnh vê lịch sư oanh liệt của dân tộc”
[11,tr534]. Bùi Duy Tân lại đặc biệt chú ý đến hình thức nghệ thuật của tập
thơ. Tác giả đã có cái nhìn tổng quát, đa chiều về cách thức sử dụng tiếng
Việt dưới triều đại Hồng Đức:“HĐQÂTT la một tập thơ Tiếng Việt cỡ lớn,
lớn vê số lượng thơ, vê giá trị, vê ý nghĩa thời đại của nó”,“tác phẩm la một
bằng chứng vê một thời kì phát triển mạnh, một bước tiến mới của thơ tiếng
Việt”[11,tr589], “HĐQÂTT la kết tinh cố gắng của cả một thế hệ thi si trên
lĩnh vực trau dồi va nâng cao sức biêu hiện của ngôn ngư văn hóa dân
tộc”[11,tr590]. Cũng trong cuốn này, Vương Lộc đưa ra khẳng định về giá
trị của HĐQÂTT trong tiến trình phát triển văn học: “Lịch sư văn học Việt
Nam thế ki XV được đánh dấu bằng hai tác phẩm viết bằng chư Nôm nổi
tiếng: nửa đầu thế ki la Quốc Âm thi tập của Nguyễn Trãi va nửa sau thế ki
la Hồng Đức quốc âm thi tập của Lê Thánh Tông va một số triêu thần”.
[11,tr650]
Nguyễn Phạm Hùng trong Trên hành trình văn học trung đại Việt Nam
nhận định HĐQÂTT là tập thơ:“mang không khí lạc quan, sáng sủa, khẳng
định ca ngợi chế độ”[15, tr436]. Ông cũng cho rằng : “Tập thơ la kết quả của
tiến trình văn học dân tộc.
2.2. Lịch sử nghiên cứu thiên nhiên trong HĐQÂTT
Trong HĐQÂTT, thơ viết về thiên nhiên chiếm số lượng phong phú và
đa dạng. Vì vậy, bên cạnh rất nhiều công trình nghiên cứu về tập thơ nói
chung, có một số công trình nghiên cứu đã đề cập đến thiên nhiên trong tập
thơ này với tư cách là đối tượng nghiên cứu chính.
Trong lời giới thiệu cuốn Hồng Đức quốc âm thi tập của Bùi Văn
Nguyên và Phạm Trọng Điềm (phiên âm- chú giải- giới thiệu), các tác giả
cũng đã đề cập đến vấn đề thiên nhiên đất nước được thể hiện trong tập thơ:
“Điêm nổi bật đầu tiên trong tập thơ quốc âm, thời Hồng Đức la tình thơ của
các tác giả qua sư biến chuyên của thời khắc va qua vẻ mỹ lệ của thiên nhiên
mông lung vô cung tận. Lòng người va cảnh vật, nha thơ với thiên nhiên: một
đê tai co thê noi la “muôn thuở” từ “cô chí kim” từ “đông sang tây”.[7,tr17]
6
Trong giáo trình Việt Nam văn học sư giản ước tân biên (tập 2) của
Phạm Thế Ngũ, tác giả nói về mối quan hệ giữa đề tài thiên nhiên trong tập
thơ với tư tưởng triết lí Nho giáo: “nhiều phần ở môn thiên đạo va phẩm vật
noi vê thời tiết hay cây cỏ thường mang tư tưởng triết lí của đạo Nho vê vũ
trụ, xã hội, nhân sinh”[22,tr129].
Tác giả Kiều Văn trong bài nghiên cứu “Thơ Nôm của Lê Thánh Tông va
hội Tao Đàn” nhận xét: “Thơ Nôm thời Hồng Đức danh một mảng đáng kê
chuyên miêu tả sinh hoạt dân dã với những sinh vật hết sức thông thường, nhỏ
mọn nhưng rất đỗi thân thương, gắn bo mật thiết với người Việt như hình với
bong: khoai lang, quả dưa, cây chuối, cây cau, cái non, cái quạt, ông đầu rau,
cối xay, thằng bu nhìn, nha dột, con cho đá, con gà, con muỗi, con coc, trứng
vịt...Những đê tài, đối tượng “rất tầm thường”ma văn chương chư Hán
thường coi khinh va chối bỏ thì thơ Nôm Hồng Đức lại tiếp nhận va miêu tả
Giáo trình văn học trung đại Việt Nam nhận xét một cách xác đáng về việc
các thi sĩ Tao Đàn đã mượn hình ảnh thiên nhiên để tụng ca nhà vua: “Nha
thơ mượn hình ảnh chúa xuân đê ngợi ca đương kim hoàng thượng. Mua xuân
của đất trời va mua xuân của lòng người, du co chuyên vần trong thời gian
hay không gian thì vẫn khắp hoa chốn chốn một trời xuân” [30,tr157].
Trong công trình nghiên cứu Thơ Nôm Đường luật, Lã Nhâm Thìn đã
nhận xét: “Chu đê thiên nhiên la một chu đê lớn trong HĐQÂTT. Qua những
vần thơ gợi tả sư mi lệ của thiên nhiên, các tác giả đã ca ngợi vẻ đẹp của non
sông cẩm tú”; “HĐQÂTT ngoai phong vi Đường thi, nhiều bức tranh thiên
nhiên trong tập thơ mang đậm sắc thái dân tộc bởi các tác giả cảm nhận
được cái hồn quê hương Việt”[28,tr159]. Trong công trình nghiên cứu này,
tác giả đánh giá khá đầy đủ về nội dung của tập thơ, chỉ ra sự khác biệt trong
việc sử dụng yếu tố thiên nhiên đậm chất Đường thi và đậm sắc thái dân tộc.
Tuy nhiên những nhận định này chỉ dừng lại ở cấp độ khái quát chứ chưa đi
sâu phân tích, thống kê, phân loại cụ thể từng bài có những hình ảnh thiên
nhiên nào để tạo ra sự khác biệt đó. Trong đề tài nghiên cứu của chúng tôi sẽ
thống kê, phân loại chi tiết để làm nổi bật được sự khác biệt đó.
8
Có thể nói, HĐQÂTT đã được khá nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Các
bài viết về thiên nhiên trong tập thơ cũng đã được đề cập ở nhiều góc độ khác
nhau, hoặc gián tiếp hoặc trực tiếp. Tuy nhiên, những bài viết đó chưa đặt
thành vấn đề riêng biệt, chưa khảo sát toàn diện tập thơ từ góc nhìn phê bình
sinh thái. Chính vì vậy tiếp thu thành tựu của các nhà nghiên cứu đi trước
chúng tôi mạnh dạn tìm hiểu đề tài “Hồng Đức Quốc âm thi tập dưới góc
nhìn phê bình sinh thái” với hi vọng sẽ đưa ra thêm một cách đọc mới về
tập thơ này.
3. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu HĐQÂTT từ góc nhìn phê bình sinh thái, luận văn sẽ làm rõ:
6.2. Phương pháp tiếp cận văn hóa học
Phương pháp này giúp cho việc phục nguyên không gian văn hóa tại thời
điểm HĐQÂTT ra đời, xác lập sự chi phối của các quan niệm đạo đức, chính
trị, quan niệm về con người... từng tồn tại trong một không gian văn hóa xác
định đến tác phẩm. Từ đó giải mã các hình tượng nghệ thuật để thấy rõ hơn về
mối quan hệ thiên nhiên - con người trong tập thơ.
6.3. Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại
Phương pháp này được dùng để thống kê các sáng tác viết về thiên
nhiên trong HĐQÂTT. Đồng thời, phương pháp này còn được dùng để khảo
sát và thống kê số loài, tần suất xuất hiện của các loài động vật và thực vật
trong tập thơ.
6.4. Phương pháp phân tích - tổng hợp
Hai phương pháp này được vận dụng song song với nhau nhằm mục đích
làm rõ và chứng minh những luận điểm mà luận văn đưa ra.
6.5. Phương pháp so sánh
Chúng tôi sử dụng phương pháp này để đối chiếu sáng tác trong
HĐQÂTT với sáng tác của một số tác giả khác như: Nguyễn Trãi, Nguyễn
Bỉnh Khiêm... nhằm làm nổi bật vấn đề nghiên cứu.
7. Đóng góp của đề tài
- Về khoa học: Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần kiểm định
hướng tiếp cận phê bình sinh thái trong văn học, đồng thời thực nghiệm một
cách đọc văn bản văn học trung đại theo hướng nghiên cứu liên ngành.
10
- Về thực tiễn: Luận văn được hoàn thành sẽ góp thêm một tài liệu
tham khảo hữu ích cho cho việc giảng dạy và nghiên cứu HĐQÂTT. Luận
văn giúp người đọc hiểu rõ hơn về chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái, về mối
quan hệ thiên nhiên - con người trong tập thơ, góp phần bồi dưỡng ý thức
sinh thái cho mỗi người.
(tính chất phê bình sinh thái) va ecocritic (nha phê bình sinh thái). Hơn nữa,
ho thích tiên tố “eco-” (sinh thái) hơn tiền tố “enviro-” (môi trường) bởi vì...
theo nghĩa rộng, tiên tố “enviro-” (môi trường) mang quan điểm con người
la trung tâm va co tính nhi nguyên, ngụ ý rằng, con người chúng ta la trung
tâm, tất cả xung quanh chúng ta la môi trường. Ngược lại, tiên tố “eco-”
(sinh thái) ám chi vạn vật cộng đồng phụ thuộc lẫn nhau, tạo thanh một hệ
thống va những yếu tố trong hệ thống đo luôn co sư hoa hợp, gắn bo chặt
chẽ với nhau”[32, tr139]
12
Các học giả phương Tây đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về phê
bình sinh thái, chẳng hạn, định nghĩa của Joseph Meeker, William Rueckert,
Cheryll Glotfelty, James S. Hans, Scott Slovic, Cheryll Glotfety, William
Howarth, Lawrence Buell... Trong đó, định nghĩa của Cheryll Glotfety là
định nghĩa được ghi nhận rộng rãi. Cheryll Glotfety cho rằng: “Nói đơn giản,
phê bình sinh thái la nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học va môi trường tư
nhiên. Cũng giống như phê bình nư quyên xem xét ngôn ngư va văn học từ
góc độ giới tính, phê bình Marxist mang lại ý thức của phương thức sản xuất
va thanh phần kinh tế đê đọc văn bản, phê bình sinh thái mang đến phương
pháp tiếp cận trái đất la trung tâm (earth-centered approach) đê nghiên cứu
văn học”[2,tr89]
Học giả Trung Quốc là Vương Nặc định nghĩa: “Phê bình sinh thái la
phê bình văn học nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học va tư nhiên từ định
hướng tư tưởng của chu nghĩa sinh thái, đặc biệt la chu nghĩa chỉnh thê sinh
thái. No phải phơi bày nguồn gốc văn hóa tư tưởng của nguy cơ sinh thái
được phản ánh trong tác phẩm văn học, đồng thời khám phá thẩm mi sinh
thái va biểu hiện của nghệ thuật của no trong tác phẩm”[32,tr153]
Nguyễn Thị Tịnh Thy đề xuất định nghĩa như sau: “Phê bình sinh thái la
phê bình văn học nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học va tư nhiên từ định
liên ngành; Thể hiện tinh thần văn hóa sinh thái thông qua “tính văn học”;
Hàm nghĩa của thuật ngữ rất phức tạp.
Phê bình sinh thái có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển văn hóa,
Karen Thornber khẳng định: “Đây la một lý thuyết liên nganh, kết hợp giữa
văn học va khoa học, giữa phân tích văn chương va rút ra những cảnh báo vê
môi trường. No co thê không đưa ra được những giải pháp trực tiếp cho
những vấn đê môi trường nghiêm trọng hiện nay nhưng bằng cách phân tích
các diễn ngôn vê thiên nhiên va môi trường, no co thê tác động đến tâm thức
con người, điều chỉnh nhận thức, khắc phục những ngộ nhận vê môi trường,
đê từ đó, co những hành động đúng đắn hơn, hướng đến sư phát triên bền
vững va xa hơn, đồng thời quan trọng hơn cả, la hình thanh một chu nghĩa
nhân văn mới, ở đó, con người biết nghe tiếng noi của thiên nhiên đê đối
thoại với no.” [16, tr72]
14
Trên đây là những điểm khái quát nhất về khái niệm phê bình sinh thái.
Khái niệm này sẽ là tiền đề lí luận quan trọng đầu tiên giúp chúng tôi triển
khai luận văn này.
1.1.2. Sự hình thành và phát triển của phê bình sinh thái
Khí hậu trái đất nóng lên, sự thay đổi lượng mưa, độ ẩm, nhiệt độ thổ
nhưỡng, chuyển động tuần hoàn khí quyển, hạn hán, hoang mạc hóa, mưa lớn,
bão tuyết, sự tan chảy của các sông băng và băng ở Nam Bắc cực, sự hỗn loạn
của hệ thống các dòng chảy đại dương, mực nước biển dâng cao, sự rối loạn
mô thức sinh trưởng và sinh sản loài cũng như tuyệt chủng loài… những hiện
tượng bất thường này (hay nói cách khác là nguy cơ sinh thái) chính là
nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của phê bình sinh thái. Đỗ Văn Hiểu trong bài
viết Phê bình sinh thái - khuynh hướng nghiên cưu văn học mang tính cách
tân khẳng định: “... một phần rất lớn la Phê bình sinh thái ra đời không phải
từ khát vọng sáng lập lí thuyết mới của các nha phê bình, cũng không phải
trọng bậc nhất ma tất cả mọi vật xung quanh đều châu tuần vê nó”. Mục từ
anthropocentrism được giải thích: “Khái niệm diễn đạt quan niệm, công khai
hay ngầm ẩn, đặt con người vào vi trí trung tâm của thế giới va nhìn nhận tất
cả mọi vật khác trong thế giới này như la vật phụ thuộc hay phục vụ cho con
người”[31,tr152]
Quan niệm nhân loại trung tâm luận đã ảnh hưởng sâu sắc đến tất cả các
lĩnh vực đời sống. Trong văn học: “Con người theo nhân loại trung tâm luận
với sư thống tri của no đã áp đặt cho các cảnh trí thiên nhiên các phẩm chất,
hành vi, cảm xúc của mình. Thưc tế văn học dẫn đến sư ra đời phương pháp
phân tích thơ châu Âu theo đo đối chiếu sư song hành con người va thiên
nhiên. Nếu ở phương Đông, con người hài hòa, tan biến vào thế giới thiên
nhiên xung quanh, thì trong thơ châu Âu, con người luôn la chu thê ma thiên
nhiên la vật so sánh” [31,tr 155]
Một vài điều khái quát như vậy về chủ nghĩa nhân loại trung tâm luận
giúp chúng tôi hiểu rõ hơn về bối cảnh ra đời của phê bình sinh thái: phê bình
sinh thái ra đời ở phương Tây, gắn với truyền thống văn hóa phương Tây,
việc vận dụng nó vào nghiên cứu văn học phương Đông, trong đó có văn học
Việt Nam là một việc không dễ dàng và cần thận trọng.
16
Tuy nhiên, chúng tôi cũng quan tâm đến nhận định sau đây của nhà
nghiên cứu Karen Thornber trong bài viết “ Nhưng tương lai của phê bình
sinh thái va văn học”: “Những hình dung phô biến ở trong va ngoài Đông Á
thường cho rằng tình trạng môi trường bi xuống cấp ở khu vực này bắt đầu
xảy ra từ cuối thế kỷ XIX, khi người dân Đông Á, dưới áp lực của các quốc
gia Tây phương, đã tiếp thu, đồng hoa kỹ thuật va các ngành công nghiệp của
họ. Song thưc chất, các xã hội Đông Á đã kế thừa cả hàng ngàn năm môi
trường bi thoái hóa nghiêm trọng. Rhoades Murphey đã đi rất xa khi tranh
luận:“Tất cả những nền văn hóa châu Á thuộc khu vưc ở phía đông
Raymond thuật đến vấn đề văn học
và
William
Từ 1972 đến Williams,
môi trường ngày càng gia
John
Elder,
1990 (Giai Rueckert,
tăng.
Frederick O.Waage, Cheryll
đoạn hình
- Thuật ngữ phê bình sinh
Glotfelty, Glen A.Love,
thành)
thái chính thức được đề xuất
Peter A. Fritzell, Robert
(1978)
Finch, John Elder
Đây được xem là giai đoạn
Harold Fromm, Jonathan - Các hội thảo về phê bình
Bate, Max
Glen
A.
Pogue,
Oelschlaeger, sinh thái được tổ chức và
Love,
Jonh P. O’Grady, Peter
Quigley, Lawrence Buell,
William
Slaymaker,
Patrick D. Murphy, David
Mazel, Rosendale Steven,
Richard
L.
Knight,
Thomas S. Edwards, Gred
Garrard,
Michael
Branch, Jeffrey Myers...
18
P.