Chính sách và việc thực hiện chính sách về ngôn ngữ các dân tộc thiểu số trong truyền thông ở Việt Nam (Luận văn thạc sĩ) - Pdf 52

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
–––––––––––––––––––––––––

KHAMMONH NOYVONGTHONG

CHÍNH SÁCH VÀ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
VỀ NGÔN NGỮ CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
TRONG TRUYỀN THÔNG Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ,
VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2018


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHAMMONH NOYVONGTHONG

CHÍNH SÁCH VÀ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
VỀ NGÔN NGỮ CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
TRONG TRUYỀN THÔNG Ở VIỆT NAM
Ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 8.22.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ,
VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thu Quỳnh


ii


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ...........................................................................................................i
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................... ii
MỤC LỤC ................................................................................................................... iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ..............................................................................iv
DANH MỤC CÁC BẢNG ............................................................................................ v
MỞ ĐẦU .......................................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài ........................................................................................................1
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu, khảo sát .............................................................. 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.............................................................................3
4. Phương pháp nghiên cứu ...........................................................................................3
5. Đóng góp của luận văn .............................................................................................. 4
6. Cấu trúc của luận văn.................................................................................................5
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN ...........6
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu .............................................................................6
1.1.1. Những nghiên cứu cơ bản về ngôn ngữ các DTTS trong truyền thông và
chính sách ngôn ngữ các DTTS trong truyền thông ở nước ngoài ................................ 6
1.1.2. Những nghiên cứu cơ bản về hoạt động truyền thông bằng ngôn ngữ DTTS
và chính sách ngôn ngữ các DTTS trong truyền thông ở Việt Nam ............................. 8
1.2. Cơ sở lí luận ..........................................................................................................12
1.2.1. Chính sách và chính sách ngôn ngữ ..................................................................12
1.2.2. Truyền thông, truyền thông đại chúng ............................................................... 16
1.2.3. Truyền thông bằng ngôn ngữ DTTS và ngôn ngữ DTTS trong truyền thông ...23
Chương 2: NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH VỀ NGÔN NGỮ CÁC DTTS
TRONG TRUYỀN THÔNG Ở VIỆT NAM ........................................................... 26
2.1. Khái quát chính sách về ngôn ngữ quốc gia, ngôn ngữ các DTTS ở Việt Nam...26

3.3.2. Tình hình tiếp cận truyền thông bằng ngôn ngữ DTTS của đồng bào các
dân tộc ở Việt Nam ......................................................................................................68
3.4. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả, hiệu lực truyền thông
bằng các ngôn ngữ DTTS ở Việt Nam ........................................................................75
3.4.1. Giải pháp về nội dung ........................................................................................75
3.4.2. Giải pháp hiện đại hóa hình thức .......................................................................76
3.4.3. Các giải pháp khác ............................................................................................. 76
KẾT LUẬN .................................................................................................................80
TÀI LIỆU THAM KHẢO .........................................................................................83

iv


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ĐHQG

: Đại học Quốc gia

ĐHTN

: Đại học Thái Nguyên

DTTS

: Dân tộc thiểu số

KH&CN

: Khoa học và Công nghệ


Bảng 2.2. Các văn bản ban hành chính sách về ngôn ngữ DTTS ở Việt Nam............28
Bảng 2.3. Các văn bản ban hành chính sách về ngôn ngữ DTTS trong truyền
thông ở Việt Nam .......................................................................................44
Bảng 3.1. Thống kê tình hình phát thanh, truyền hình cấp trung ương bằng ngôn
ngữ DTTS ở Việt Nam ...............................................................................61
Bảng 3.2. Thống kê tình hình phát thanh, truyền hình cấp tỉnh bằng ngôn ngữ
DTTS ở Việt Nam ......................................................................................62
Bảng 3.3. Khả năng sử dụng ngôn ngữ của các đối tượng được khảo sát ...................71
Bảng 3.4. Mức độ sử dụng các loại hình truyền thông của các đối tượng khảo sát ....72

v


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc và đa ngôn ngữ, tỉ lệ dân tộc thiểu số
(DTTS) chiếm số lượng lớn trong thành phần dân tộc. Các DTTS phân bố chủ yếu ở
khu vực miền núi và trung du - nơi thượng nguồn của các dòng sông, nơi có tiềm năng
lớn về tài nguyên thiên nhiên và có vị trí quan trọng về an ninh đất nước. Để cải thiện
môi sinh, nâng cao chất lượng đời sống cho đồng bào các DTTS, đồng thời cũng để
phát triển bền vững dân tộc và quốc gia trong thời kì đổi mới và hội nhập hiện nay,
Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có nhiều chủ trương, chính sách và giải pháp thiết
thực, cụ thể đối với đồng bào các dân tộc. Một trong những giải pháp được đặc biệt chú
trọng là nâng cao chất lượng của hoạt động truyền thông bằng ngôn ngữ DTTS.
Hoạt động truyền thông bằng ngôn ngữ DTTS có thể giúp cho đồng bào DTTS
nói chung, đồng bào DTTS không biết tiếng Việt nói riêng có điều kiện tiếp cận
thông tin để mở mang nhận thức, thay đổi hành vi theo hướng tích cực; phát triển
ngôn ngữ mẹ đẻ và ngôn ngữ phổ thông vùng; giữ gìn bản sắc văn hóa, góp phần bảo
vệ sự đa sắc trong văn hóa Việt Nam. Hoạt động này cũng góp phần phát triển kinh
tế, văn hóa xã hội ở vùng miền núi, biên giới; tạo tiền đề quan trọng cho công tác an

2/ Thực trạng việc ban hành, triển khai thực hiện chính sách về ngôn ngữ các
DTTS trong truyền thông ở Việt Nam.
3/ Đề xuất và kiến nghị về chính sách và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của
hoạt động truyền thông bằng ngôn ngữ các DTTS ở Việt Nam.
Phạm vi khảo sát của đề tài tập trung vào ba phương diện:
1/ Khảo sát trên văn bản là các quyết định, chỉ thị, nghị quyết, thông tư... có liên
quan đến việc triển khai và hướng dẫn thực hiện chính sách về truyền thông và hoạt động
truyền thông bằng ngôn ngữ DTTS ở Việt Nam.
2/ Khảo sát việc thực hiện và hiệu quả của chính sách về ngôn ngữ các DTTS trong
truyền thông ở Việt Nam.
3/ Khảo sát thí điểm nhu cầu, nguyện vọng, thái độ của đồng bào DTTS về việc
tiếp nhận truyền thông bằng ngôn ngữ dân tộc tại một địa phương cụ thể. Trong phạm vi
khảo sát của đề tài và khả năng thực hiện của học viên, luận văn lựa chọn địa bàn khảo
sát là xã Kim Phượng, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Xã Kim Phượng có số dân là
3231 người1, là nơi tập trung đông đồng bào dân tộc Tày sinh sống (hơn 90% là người
Tày) và cũng là địa phương tiếp nhận được nhiều kênh phát thanh, truyền hình bằng
ngôn ngữ DTTS của các Đài phát thanh, truyền hình cấp trung ương và địa phương.
1

Theo số liệu trong Báo cáo tổng kết của UBND xã Kim Phượng, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên năm 2017

2


3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu chính sách và chỉ ra thực trạng
của việc ban hành, triển khai thực hiện chính sách về ngôn ngữ các DTTS trong hoạt
động truyền thông ở Việt Nam. Từ đó, luận văn có mục đích đề xuất những kiến nghị
về chính sách và giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động truyền thông

lược về chính sách chung và các giải pháp thực hiện để đảm bảo cho hoạt động
truyền thông bằng ngôn ngữ các DTTS có hiệu quả thiết thực trong điều kiện hiện
nay của Việt Nam.
4.2. Phương pháp ngôn ngữ học điền dã
Phương pháp này được sử dụng để thu thập tài liệu về thực trạng hoạt động
truyền thông và việc tiếp nhận truyền thông bằng ngôn ngữ DTTS của đồng bào dân tộc
ở Việt Nam hiện nay.
4.3. Phương pháp ngôn ngữ học xã hội
Phương pháp này được sử dụng để thu thập tài liệu và ý kiến chuyên gia về hoạt
động truyền thông bằng ngôn ngữ DTTS, chính sách về ngôn ngữ các DTTS trong
truyền thông ở Việt Nam hiện nay.
5. Đóng góp của luận văn
5.1. Về mặt lí luận
- Làm rõ các cơ sở lí luận của việc xác định giải pháp, cách thức nâng cao hiệu
quả, hiệu lực hoạt động truyền thông bằng ngôn ngữ các DTTS ở Việt Nam hiện nay.
- Góp phần hoàn thiện một số chính sách liên quan đến hoạt động truyền thông
bằng ngôn ngữ các DTTS ở Việt Nam hiện nay.
5.2. Về mặt thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được vận dụng để giải quyết các vấn
đề đặt ra trong hoạt động truyền thông bằng ngôn ngữ DTTS trên cả nước và ở các
địa phương có đồng bào DTTS ở Việt Nam sinh sống bởi luận văn đề xuất được một
cách khoa học những giải pháp tăng cường hiệu quả, hiệu lực truyền thông bằng ngôn
ngữ các DTTS ở Việt Nam hiện nay.
- Kết quả nghiên cứu đề tài là tài liệu tham khảo về vấn đề truyền thông bằng
ngôn ngữ DTTS cho các quốc gia có cảnh huống ngôn ngữ tương tự Việt Nam.
- Luận văn cũng là tài liệu tham khảo tốt cho những người nghiên cứu về DTTS,
ngôn ngữ DTTS, những người thực hiện truyền thông bằng ngôn ngữ DTTS, giảng
viên, sinh viên đại học chuyên ngành Ngữ văn, Ngôn ngữ học, Dân tộc học và những
người quan tâm.


Lan vào năm 1948.
Vào những năm cuối thập niên 1980, 1990, truyền thông bằng ngôn ngữ DTTS ở
các quốc gia châu Âu như Anh, Pháp, Nauy, Thụy Điển, Bỉ, Thụy Sĩ phát triển nhanh
chóng. Ở Đức, các thành phố lớn như Munich, Stuttgart đều có các khung giờ phát sóng
bằng ngôn ngữ DTTS. Năm 1998, truyền thông Pháp ghi nhận có khoảng 265 giờ truyền
hình bằng sáu ngôn ngữ DTTS được phát trong năm. Ở Tây Ban Nha, sau năm 1975, các
địa phương giành được quyền tự chủ nhiều hơn và đó là cơ hội cho các đài phát thanh
địa phương phát sóng các chương trình bằng ngôn ngữ DTTS. Các chương trình cho
cộng đồng Catalan và Basque xuất hiện trên truyền thanh vào năm 1977 và truyền hình
vào năm 1983...
Truyền thông DTTS phát triển rất nhanh ở Úc với đủ các loại hình: báo in,
truyền thanh, truyền hình, phim, video, truyền thông đa phương tiện và truyền thông
trực tuyến. Nhưng trong tất cả các loại hình đó, truyền thanh bằng ngôn ngữ DTTS
thành công nhất . Lí do các chương trình truyền thanh bằng ngôn ngữ DTTS thành

6


công ở Úc là các cộng đồng DTTS thường sống ở khu vực xa xôi, hẻo lánh, điều kiện
tiếp cận với báo in khó khăn. Đây cũng là một bài học hay cho Việt Nam khi lựa chọn
phát triển mạnh loại hình truyền thông phù hợp cho từng nhóm DTTS ở từng khu
vực, địa phương cụ thể.
Hiện nay, ở Trung Quốc, hệ thống truyền thông nhiều loại ngôn ngữ, nhiều cấp
độ, nhiều tần số đã được hình thành. Truyền thanh bằng năm thứ tiếng dân tộc là
tiếng Mông Cổ, tiếng Tạng, tiếng Duy Ngô Nhĩ, tiếng dân tộc Ka-giắc-stan, tiếng
Triều Tiên đã phủ sóng gần một nửa diện tích Trung Quốc. Một số ngôn ngữ thuộc về
nhóm các DTTS chỉ còn số lượng người sử dụng rất ít ỏi cũng đã được sử dụng trong
các chương trình phát thanh như tiếng Choang, tiếng Di, tiếng Thái, tiếng Khang Ba...
Lào cũng là đất nước đa ngôn ngữ, đa dân tộc và là đất nước có diện tích nhỏ,
với số dân trên 6 triệu người. Đất nước Lào có 49 dân tộc, dân tộc chính là dân tộc

(2) Để những hoạt động truyền thông bằng ngôn ngữ DTTS đạt hiệu quả cao thì
việc giữ gìn bản sắc văn hóa và mở rộng thêm “không gian công” cho người DTTS
cần phải được đề cao.
(3) Khi nhìn nhận và đánh giá những hoạt động truyền thông bằng ngôn ngữ
DTTS cần đặt nó trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của
Internet và công nghệ kĩ thuật số.
(4) Cần có những chính sách và giải pháp phù hợp để có thể phát huy những
điểm tích cực mà hoạt động truyền thông mang lại cho cộng đồng DTTS; đồng thời
giảm thiểu những tác động tiêu cực, đặc biệt là trong trường hợp các ngôn ngữ DTTS
có nguy cơ mai một.
Đây là những kinh nghiệm quý báu, là cơ sở để nghiên cứu và đề xuất các chính
sách nhằm phát triển hoạt động truyền thông bằng ngôn ngữ DTTS ở Việt Nam.
1.1.2. Những nghiên cứu cơ bản về hoạt động truyền thông bằng ngôn ngữ DTTS
và chính sách ngôn ngữ các DTTS trong truyền thông ở Việt Nam
Từ trước đến nay, đã có nhiều nghiên cứu về hoạt động truyền thông bằng ngôn
ngữ DTTS và chính sách ngôn ngữ các DTTS trong truyền thông ở Việt Nam.
Nguyên Tổng Giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam Hồ Anh Dũng trong bài
viết Sự nghiệp phát triển truyền hình ở vùng DTTS (in trong cuốn Các DTTS Việt
Nam thế kỉ XX) đã cho thấy sự cần thiết và dự báo khả năng đóng góp, tăng cường
đầu tư cho công tác thông tin truyền thông của Đài Truyền hình Việt Nam đối với
vùng DTTS trong tình hình mới [53].
Tài liệu Hội nghị tổng kết công tác bảo tồn và phát huy tiếng nói, chữ viết các
DTTS của Ủy ban Dân tộc (2006) [77], cũng đã đề cập đến khá nhiều vấn đề liên
8


quan đến hoạt động truyền thông bằng ngôn ngữ các DTTS và việc triển khai, thực
hiện các chính sách về truyền thông bằng ngôn ngữ DTTS.
Tác giả Nguyễn Văn Khang, trong bài viết “Một số vấn đề về đời sống tiếng
Chăm ở Việt Nam hiện nay” (2011), đã đề cập đến hoạt động truyền thông bằng tiếng

Phát thanh & Truyền hình tỉnh Bắc Kạn. Gần đây nhất là luận văn thạc sĩ của Đinh
Thị Hà Giang (2018), Tiếng Tày - Nùng trong truyền thông trên địa bàn tỉnh Thái
Nguyên [23]. Luận văn đã chỉ ra được thực trạng sử dụng tiếng Tày - Nùng trong
truyền thông trên địa bàn tỉnh, từ đó phân tích những thành công, hạn chế của việc sử
dụng tiếng Tày - Nùng trong truyền thông và đề xuất những cách thức lựa chọn sử
dụng tiếng Tày - Nùng nhằm nâng cao hiệu quả, hiệu lực truyền thông bằng tiếng Tày
- Nùng trên địa bàn tỉnh. Luận văn cũng đề xuất xây dựng, triển khai một số chính
sách nhằm khuyến khích phát triển truyền thông bằng tiếng Tày - Nùng như chính
sách về việc lựa chọn ngôn ngữ/ phương ngữ; chính sách về việc lựa chọn loại hình,
cấp truyền thông; chính sách về nội dung truyền thông; chính sách về khoa học, công
nghệ và sự hiện đại hóa truyền thông; chính sách về nhân lực làm truyền thông; chính
sách về kinh tế, tài chính, huy động các phương tiện và nguồn lực cho hoạt động
truyền thông…
Một số khóa luận có đề tài liên quan đến hoạt động truyền thông bằng ngôn ngữ
DTTS đã được sinh viên khoa Báo chí, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân
văn Hà Nội thực hiện như: Các ấn phẩm báo chí của thông tấn xã Việt Nam phục vụ
đồng bào DTTS và miền núi thời kì đổi mới (Trương Văn Quân), Vấn đề chỉ dẫn - tư
vấn khoa học kĩ thuật nông nghiệp cho nông dân trên báo chí Việt Nam (Bùi Thị
Hồng Vân), Thông tin kinh tế - xã hội trên báo trực tuyến các tỉnh miền núi phía Bắc
(Hoàng Chung Thảo)...
Bên cạnh đó, cũng phải kể đến các hội thảo trong nước và quốc tế đã được tổ
chức xoay quanh những vấn đề này như: Hội thảo Đóng góp của Khoa học Xã hội
Nhân văn trong phát triển kinh tế xã hội, Hội thảo Chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam
và Đài Loan, Hội thảo Phối hợp sản xuất chương trình tiếng dân tộc do Ban Truyền
hình Tiếng dân tộc, Đài Truyền hình Việt Nam tổ chức trong khuôn khổ các hoạt
động của Liên hoan Truyền hình toàn quốc lần thứ 33 (ngày 19/12/2013) với sự tham
gia của 41 Đài phát thanh truyền hình có chương trình tiếng DTTS.

10



11


hóa hơn nữa, đẩy mạnh truyền thông trực tuyến, truyền thông đa phương tiện, ứng
dụng nhiều hơn các thành tựu của khoa học công nghệ hiện đại vào truyền thông.
Dường như ở vấn đề này, hoạt động truyền thông bằng ngôn ngữ DTTS chưa phát
huy được hiệu quả. Thực tiễn trên đặt ra rất nhiều vấn đề cần phải giải quyết liên
quan đến chính sách và những giải pháp về ngôn ngữ DTTS trong truyền thông để
hoạt động truyền thông bằng ngôn ngữ DTTS phát triển và phát huy hiệu quả trong
thời gian tới.
1.2. Cơ sở lí luận
1.2.1. Chính sách và chính sách ngôn ngữ
1.2.1.1. Chính sách
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa:“chính sách là sách lược và kế hoạch cụ thể
nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình
thực tế mà đề ra” [86, tr.163]. Từ điển Bách khoa Việt Nam xem chính sách là một
thuật ngữ thuộc chuyên ngành chính trị, như là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện
đường lối, nhiệm vụ trong một thời gian nhất định và trên những lĩnh vực cụ thể nào
đó [87]. Wikipedia định nghĩa: “Chính sách là tập hợp các chủ trương và hành động
về phương diện nào đó của chính phủ, nó bao gồm các mục tiêu mà chính phủ muốn
đạt được và cách làm để thực hiện các mục tiêu đó. Những mục tiêu này bao gồm sự
phát triển toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - xã hội - môi trường” [90].
Theo Nguyễn Văn Khang, ở Việt Nam, liên quan đến khái niệm chính sách còn
có các khái niệm chủ trương, đường lối. Chủ trương là những điều quyết định về
phương hướng hoạt động. Đường lối là phương hướng có tính chỉ đạo lâu dài trong
hoạt động (thường là của một quốc gia, một tổ chức chính trị lớn). Đối với Việt Nam,
Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền và là cơ quan lãnh đạo tối cao nên
chính sách ở Việt Nam là do Đảng và Nhà nước Việt Nam hoạch định.
1.2.1.2. Chính sách ngôn ngữ

sách ngôn ngữ do hai bộ phận hợp thành là chủ trương chính trị về ngôn ngữ và sự
thực thi chủ trương đó; do nhà nước hoặc tổ chức chính trị đưa ra; phạm vi ở cấp địa
phương, cấp trung ương hoặc một tổ chức liên minh xuyên quốc gia.
Tác giả Nguyễn Văn Lợi [27] cho rằng, trong các quốc gia đa dân tộc, đa ngôn
ngữ, chính sách ngôn ngữ thường tập trung vào giải quyết 3 lĩnh vực chính là:
- Lựa chọn ngôn ngữ: xác định, phân công chức năng xã hội các ngôn ngữ.
- Bảo tồn, giữ gìn ngôn ngữ: phát triển chức năng xã hội của các ngôn ngữ, bảo
vệ đa dạng ngôn ngữ, văn hóa.

13


- Phát triển song ngữ
Gần đây, do những biến động phức tạp xảy ra trong các quan hệ giữa các dân
tộc của nhiều khu vực trên thế giới, các quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ cũng bắt
đầu quan tâm tới một số lĩnh vực khác trong chính sách ngôn ngữ như: xung đột ngôn
ngữ, ngôn ngữ xuyên biên giới, xây dựng luật ngôn ngữ…
b. Cơ sở ra đời của chính sách ngôn ngữ
* Cơ sở xã hội
Đối với một dân tộc, một quốc gia, ngôn ngữ là tiêu chí và là biểu tượng cho
chủ quyền dân tộc, bản sắc văn hóa, lòng tự tôn và sự cố kết cộng đồng. Ngôn ngữ
cũng là công cụ điều hành mọi hoạt động và phát triển của xã hội. Ngôn ngữ có vai
trò quan trọng trong đời sống của con người, của cộng đồng xã hội và rộng hơn là của
dân tộc, quốc gia, khu vực cũng như thế giới. Ngôn ngữ là biểu hiện của sự tiến hóa
của con người, giúp con người thoát khỏi thế giới của loài vật. Với tư cách là phương
tiện giao tiếp và phương tiện tư duy, ngôn ngữ là chất keo để gắn kết xã hội, giúp cho
xã hội phát triển. Đối với một dân tộc, một quốc gia, ngôn ngữ gắn với ý thức về độc
lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Ngôn ngữ gắn liền với sự hưng thịnh của một
quốc gia với tư cách là một công cụ để điều hành xã hội. Đây cũng là lí do giải thích
vì sao quốc gia nào cũng quan tâm tới việc giải quyết vấn đề ngôn ngữ chung và mối

thực tế của nó. Mô hình chính sách ngôn ngữ không hài hòa là mô hình chính sách
ngôn ngữ thường được thực hiện không dựa trên cơ sở cảnh huống ngôn ngữ và
những tiềm năng biến đổi của cảnh huống ấy. Chính sách ngôn ngữ này có thể dẫn
đến sự thay thế một ngôn ngữ này bằng một ngôn ngữ khác. Điều này có thể gây ra
những xung đột ngôn ngữ hoặc xung đột sắc tộc.
Ngoài ra, chính sách ngôn ngữ cũng có thể được phân loại thành hai mô hình:
chính sách ngôn ngữ dân tộc theo hướng nhất thể hóa và chính sách ngôn ngữ dân tộc
theo hướng biệt lập hóa. Hướng nhất thể hóa giải quyết các vấn đề dân tộc và ngôn
ngữ bằng con đường đồng hóa, tức là xóa bỏ đi sự khác biệt giữa các dân tộc và ngôn
ngữ của các dân tộc. Hướng biệt lập hóa lại giải quyết các vấn đề dân tộc và ngôn
ngữ bằng con đường loại trừ hoặc giảm đến mức tối thiểu sự cùng tồn tại, sự tiếp xúc
giữa các dân tộc: mỗi dân tộc sống ở một khu vực riêng, trẻ em các dân tộc khác nhau
không được học chung một trường.
Theo Nguyễn Văn Khang [35], không có một chính sách giống nhau giữa các
quốc gia, ngay cả ở các quốc gia có nền chính trị giống nhau, nên mỗi quốc gia đều
có những chính sách ngôn ngữ riêng. Tuy nhiên, do chính sách ngôn ngữ vẫn được
xây dựng từ những tiền đề lí thuyết chung như cảnh huống ngôn ngữ, điều kiện chính
trị, xã hội… nên vẫn có thể quy chính sách ngôn ngữ về một số mô hình như:
15


(1). Chính sách đồng hóa ngôn ngữ (chính sách đơn nguyên về ngôn ngữ): Nội
dung của chính sách này hướng những người sử dụng ngôn ngữ yếu chuyển sang
ngôn ngữ đa số.
(2). Chính sách thừa nhận địa vị khác nhau của các ngôn ngữ: Chính sách này
cho phép cùng tồn tại các nhóm ngôn ngữ theo các địa vị khác nhau. Theo đó, chính
sách này bảo vệ những ngôn ngữ yếu, thừa nhận sự tồn tại của các ngôn ngữ bằng
cách cấp các địa vị khác nhau cho các ngôn ngữ trong một quốc gia như ngôn ngữ
quốc gia, ngôn ngữ chính thức, ngôn ngữ dân tộc.
(3). Chính sách ngôn ngữ không can thiệp: Chính sách này để cho ngôn ngữ tự phát

để dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và nhận thức” [56, tr.13].
Như vậy, có thể thấy, trong các định nghĩa kể trên, truyền thông đã được chú ý ở
các khía cạnh sau: (1). Truyền thông là một quá trình, được diễn ra trong một khoảng
thời gian nhất định. Quá trình này mang tính liên tục vì nó không thể kết thúc ngay
sau khi truyền tải nội dung mà nó còn tiếp diễn sau đó trong sự trao đổi, chia sẻ…;
(2). Truyền thông có sự tác động xã hội rộng rãi, dẫn đến sự hiểu biết lẫn nhau. Đây
là yếu tố cực kì quan trọng đối với mục đích và hiệu quả của truyền thông; (3).
Truyền thông đem lại sự thay đổi trong nhận thức và hành vi của con người.
b. Các yếu tố trong quá trình truyền thông
Hoạt động truyền thông có sự tham gia của nhiều yếu tố như: Nguồn hoặc Người
gửi/ cung cấp, Thông điệp, Mạch truyền/ Kênh, Người tiếp nhận/ nơi tiếp nhận.
Nguồn (source): là yếu tố khởi xướng việc thực hiện truyền thông. Yếu tố khởi
xướng có thể là một người, một nhóm người, một tổ chức thực hiện truyền thông như
cơ quan đài phát thanh, truyền hình, thông tấn, báo chí…
Thông điệp (message): có thể bằng tín hiệu, kí hiệu, mã số, bằng mực trên giấy,
sóng trên không trung hoặc bất kì kí hiệu nào mà người ta có thể hiểu được và trình
bày ra một cách có ý nghĩa.
Mạch truyền/ Kênh (channel): giúp con người nhận biết được thông điệp bằng
các giác quan. Con người có thể nhìn thấy được thông điệp qua các thể loại in hay
hình ảnh trực quan; nghe/nhìn thấy được qua các phương tiện phát thanh, truyền hình
và những phương tiện nghe nhìn khác.
Người tiếp nhận (receiver): là một trong những nhân tố quan trọng của quá trình
truyền thông. Người làm công tác truyền thông luôn đặt ra câu hỏi về việc người tiếp
nhận có chấp nhận được suy nghĩ, hành động và thực hiện có kết quả như mong
muốn của người cung cấp, khởi xướng không? Nếu đạt được các câu trả lời theo
hướng tích cực có nghĩa là truyền thông có hiệu quả.

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status