ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ TUÂN THỦ VỆ SINH BÀN TAY CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ TẠI CÁC KHOA LÂM SÀNG - Pdf 52

SỞ Y TẾ QUẢNG NINH
TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN VÂN ĐỒN

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ TUÂN THỦ VỆ SINH BÀN TAY CỦA
NHÂN VIÊN Y TẾ TẠI CÁC KHOA LÂM SÀNG
BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÂN ĐỒN NĂM 2016

Người thực hiện: CNMT Tô Thị Hải – Trưởng khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn
Người tham gia: CNĐD Bùi Thị Hường – Trưởng phòng Điều dưỡng

Vân Đồn, Tháng 11 năm 2016


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11

Chữ viết tắt
VSBT

thuật xâm lấn. Các vi khuẩn vãng lai thường là các tác nhân gây nhiễm khuẩn bệnh viện
phổ biến và thường tồn tại trên da không quá 28 giờ chúng dễ dàng bị loại bỏ bằng vệ
sinh bàn tay với nước và xà phòng hay dung dịch rửa tay nhanh.
Tổ chức y tế thế giới khẳng định “Rửa tay là biện pháp đơn giản và hiệu quả nhất
trong phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện”. Nhiều nghiên cứu về vệ sinh bàn tay trên thế
giới đã chứng minh rằng các biện pháp VSBT đã giảm 50% nguy cơ nhiễm khuẩn bệnh
viện (NKBV) cũng như nguy cơ phơi nhiễm bệnh nghề nghiệp cho nhân viên y tế, với
hiệu quả dự phòng NKBV các biện pháp VSBT đã tích cực góp phần giảm chi phí trong
điều trị, giảm thời gian điều trị nội trú, giảm tỷ lệ tử vong…..Theo WHO: Rửa tay được
coi là liều vắcxin tự chế, rất đơn giản, dễ thực hiện, hiệu quả và chi phí cũng như có thể
cứu sống hàng triệu người.
Nhiều nghiên cứu cũng khẳng định VSBT là biện pháp quan trọng nhất để dự
phòng sự lây truyền tác nhân gây bệnh trong các cơ sở y tế. Một nghiên cứu tại Thụy Sỹ
cho thấy: Khi tỷ lệ tuân thủ rửa tay của nhân viên y tế tăng từ 48% lên 66% thì tỷ lệ
nhiễm khuẩn bệnh viện giảm từ 16,9% xuống còn 9,9% . Tại Việt Nam Bộ Y tế đã ban
hành thông tư số 18/2009/TT-BYT ngày 14 tháng 10 năm 2009 hướng dẫn tổ chức thực
hiện công tác kiểm soát nhiễm khuẩn tại các cơ sở khám chữa bệnh, trong đó đã quy
định thầy thuốc, nhân viên y tế, sinh viên – học sinh và người bệnh, người nhà người
bệnh khi đến bệnh viện phải rửa tay theo quy định và hướng dẫn của cơ sở khám chữa
bệnh. Một số kết quả nghiên cứu về VSBT tại bệnh viện Bạch Mai của Nguyễn Việt
Hùng năm 2008, Bệnh viện Thanh Nhàn năm 2009; bệnh viện Nhi đồng 1 cho thấy tỷ lệ
tuân thủ VSBT của NVYT còn rất thấp do thiếu ý thức và thiếu phương tiện …
Với những kết quả nghiên cứu của các Bệnh viện lớn như trên cho thấy tỷ lệ tuân
thủ các thời điểm cần rửa tay của nhân viên y tế còn thấp.
Bệnh viện Đa khoa Vân Đồn là một bệnh viện hạng 3. Với quy mô 120 giường
bệnh bao gồm 16 khoa phòng và 130 nhân viên. Bệnh viện tiếp đón hơn 100 lượt người
bệnh đến khám và điều trị mỗi ngày, lại là cơ sở thực hiện nhiều hoạt động chuyên khoa
nên vấn đề phòng ngừa nhiễm khuẩn đang trở nên cấp thiết. Chính vì vậy việc rửa tay của
NVYT tại các khoa lâm sàng có vai trò hết sức quan trọng. Năm 2015 bệnh viện có
nghiên cứu đánh giá thực trạng về kiến thức, thái độ và các yếu tố liên quan đến tỷ lệ

Ông quan sát và thấy rằng các bác sĩ và sinh viên y khoa thường không rửa tay sau khi
thăm khám mỗi bệnh nhân, thậm chí là sau khi mổ tử thi. Ông cho rằng nguyên nhân sốt
hậu sản là do bàn tay không rửa của các bác sĩ và sinh viên y khoa chứa tác nhân gây
bệnh. Ông đã đề xuất sử dụng dung dịch nước vôi trong (chứa chlorine) để rửa tay vào
thời điểm chuyển tiếp sau mổ tử thi sang thăm khám bệnh nhân. Tỷ lệ tử vong của các bà
mẹ sau đó đã giảm từ 12,24% xuống 2,38%. Tuy vậy, tại thời điểm đó nhiều người cho
rằng khuyến cáo rửa tay giữa những lần tiếp xúc với bệnh nhân của ông là quá nhiều và
không bác sĩ nào chấp nhận đôi bàn tay của họ chính là nguyên nhân gây tử vong hậu
sản. Một số người khác cho rằng kết quả nghiên cứu của ông là thiếu bằng chứng khoa
học. Năm 1849 ông bị xa thải khỏi bệnh viện Vienne rồi tới làm việc ở khoa sản phụ
bệnh viện Pests St. Rochus ở Hungari (1851-1857). Ngày nay ở Hungari, người ta lập lên
bảo tàng Semminweis, bệnh viện Semminweis. Tại Áo người ta thành lập bệnh viện
Semminweis và ông đã được ghi nhận là người mở đường cho học thuyết về vô trùng và
học thuyết về nhiễm khuẩn bệnh viện.
Năm 1879, tại một hội thảo khoa học ở Paris, bác sĩ Louis Pasteur đã lên tiếng:
“Nguyên nhân gây tử vong ở những bà mẹ bị nhiễm trùng hậu sản chính là các bác sĩ đã
sử dụng bàn tay khám các bà mẹ bị bệnh rồi khám các bà mẹ khỏe mạnh”. Sau đó ông đã
đưa ra lý thuyết về “Mầm bệnh” và phương pháp tiệt khuẩn Pasteur được sử dụng tới
ngày nay. Trong những năm đó khuyến cáo rủa tay đã gặp rất nhiều khó khăn bởi thiếu
phương tiện rửa tay, thiếu nước, sự gia tăng để kháng kháng sinh của vi khuẩn trong khi
đó NVYT rất thiếu kiến thức về vệ sinh bệnh viện. Điều đó đã giải thích cho sự phản ứng
của các bác sĩ trước khuyến cáo rửa tay giữa những lần tiếp xúc với bệnh nhân khác
nhau, họ cho rằng rửa tay như vậy là quá nhiều.
5


Trong những năm 1975 và 1985, CDC đã xuất bản hướng dẫn chính thức về thực
hành rửa tay trong các bệnh viện . NVYT được khuyến cáo rửa tay bằng xà phòng trung
tính giữa các lần tiếp xúc với người bệnh và rửa bằng xà phòng khử khuẩn trước và sau
khi thực hiện các thủ thuật xâm lấn hoặc khi chăm sóc người bệnh ở các khu vực có nguy

tay bác sĩ có chứa 275,110 vi khuẩn/ cm 2; bàn tay điều dưỡng chứa 126,875 vi khuẩn/
cm2 .
Các chủng vi khuẩn thường có trên bàn tay NVYT:
6


a) Vi khuẩn định cư: Ít có khả năng gây nhiễm khuẩn trừ khi chúng xâm nhập vào
cơ thể qua các thủ thuật xâm lấn như phẫu thuật, đặt catherter lòng mạch. Cần rửa tay
bằng hóa chất khử khuẩn như cồn hoặc chlorhexidine với thời gian đủ dài nhằm loại bỏ
các vi khuẩn này.
b) Vi khuẩn vãng lai: Loại vi khuẩn này xuất hiện ở bàn tay NVYT khi bàn tay bị
nhiễm bẩn từ bệnh nhân hoặc các đồ vật bẩn trong môi trường bệnh viện trong qua trình
chăm sóc và điều trị. Vi khuẩn vãng lai gồm mọi sinh vật có mặt trong môi trường bệnh
viện (vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng) và là thủ phạm chính gây lên NKBV, có thể loại bỏ
hầu hết các vi khuẩn này bằng biện pháp RTTQ với nước và xà phòng thường hoặc chà
xát tay bằng dung dịch rửa tay có chứa cồn.
2.2. Hiệu quả của rửa tay và mối liên quan với nhiễm khuẩn bệnh viện:
Rửa tay đúng cách sẽ làm loại bỏ hầu hết lớp vi sinh vật gây ra NKBV cho bệnh
nhân.
NKBV lây truyền qua một số con đường, trong đó lây truyền thông qua bàn tay
của NVYT là phổ biến nhất.
NKBV gây ra những hậu quả vô cùng nghiêm trọng không chỉ với bệnh nhân mà
còn với các NVYT. Sự tuân thủ rửa tay của NVYT (RTTQ với nước và xà phòng, rửa tay
với dung dịch sát khuẩn tay có chứa cồn) được coi là biện pháp đơn giản và hiệu quả nhất
để phòng ngừa hiệu quả NKBV.
Nhiều nghiên cứu cũng khẳng định RTTQ bằng dung dịch có chứa cồn là biện
pháp quan trọng nhất để dự phòng sự lây truyền tác nhân gây bệnh trong các cơ sở y tế.
Một nghiên cứu ở Thụy Sỹ từ năm 1994 đến năm 1997 trên 20.000 cơ hội rửa tay của
NVYT tại bệnh viện Geneva đã cho thấy: Khi tỷ lệ tuân thủ rửa tay của NVYT tăng từ
48% (1994) lên 66% (1997) thì tỷ lệ NKBV giảm từ 16,9% (1994) xuống còn 6,9%

NVYT còn rất thấp. Tại Hoa Kỳ một số nghiên cứu về tỷ lệ này được thực hiện trong
khoảng từ năm 1991 đến năm 2000 cho thấy tỷ lệ tuân thủ chỉ đạt 20,9% đến 40% .
Năm 2002, tại Italia, Nonile và cộng sự đã tiến hành đánh giá kiến thức, thái độ và
thực hành rửa tay của NVYT tại các khoa hồi sức tích cực tại 24 bệnh viện vùng
Campania và Calabria. Kết quả cho thấy 53,2% NVYT có kiến thức đúng, tỷ lệ có thái độ
tích cực về rửa tay là 96,8%, thái độ tích cực của nhóm NVYT có trình độ học vấn cao và
nhóm nữ, lớn tuổi cao hơn có ý nghĩa thống kê so với các nhóm khác. Trong nghiên cứu
này tỷ lệ TTRT của NVYT tại thời điểm trước khi chăm sóc người bệnh đạt 60% và sau
chăm sóc đạt 72,5% .
Nghiên cứu của Khaled M và cộng sự thực hiện năm 2008 tại bệnh viện Đại học
Ain Shams (Cairo, Ai Cập) cho thấy điều dưỡng có kiến thức rửa tay tốt hơn bác sĩ nhưng
các bác sĩ lại là những người tuân thủ tốt hơn (37,5%) tuy nhiên tỷ lệ rửa tay đúng của họ
chỉ là 11,6% .
3.2. Nghiên cứu tại Việt Nam:
Khoảng 10 năm trở lại đây việc vệ sinh bàn tay mà ở đây là vấn đề rủa tay của
NVYT được chú trọng hơn tại Việt Nam, do đó đã có nhiều nghiên cứu lên quan tới vấn
đề này.
Theo một điều tra về tình hình thực hiện các biện pháp dự phòng cơ bản tại Bệnh
Viện Bạch Mai và một số Bệnh viện khu vực phía Bắc được công bố ngày 17/ 3/ 2007.
Tại Bệnh Viện Bạch Mai: Chỉ 26% NVYT thực hiện RTTQ trước khi thăm khám bệnh
nhân và 4,2% RTTQ trước khi chuyển từ thao tác bẩn sang thao tác sạch trên cùng một
bệnh nhân .
8


Nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng và cộng sự thực hiện tại một số bệnh viện khu
vực phía Bắc vào năm 2005 cho thấy tỷ lệ NVYT nhận thức về rửa tay chưa tốt ở mọi đối
tượng, mọi lứa tuổi. Trong nghiên cứu này tỷ lệ NVYT có nhận thức tốt về rửa tay chỉ đạt
41,2% .
Nghiên cứu can thiệp của Nguyễn Việt Hùng, Trương Anh Thư và cộng sự thực

- Địa điểm: tại các khoa lâm sàng – Trung tâm y tế huyện Vân Đồn
3. Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu mô tả căt ngang, quan sát mô tả trực tiếp việc thực hành rửa tay, điền
vảo mẫu phiếu điều tra chuẩn.
4. Cỡ mẫu nghiên cứu:
- Toàn bộ điều dưỡng , nữ hộ sinh và kỹ thuật viên tại các khoa lâm sàng
5. Phương tiện, xử lý và phân tích số liệu:
5.1. Phương tiện:
- Phương tiện: Việc tuân thủ VSTTQ được đánh giá bằng phương pháp quan sát
không tham gia và điền vào bảng kiểm theo mẫu của WHO các cơ hội VST của NVYT
( sử dụng bộ bảng kiểm khảo sát các thời điểm cần rửa tay và tuân thủ thực hành quy
trình rửa tay).
- Đo lường kiến thức và thái độ về VSTTQ của NVYT được thực hiện bằng
phương pháp phát vấn với bộ câu hỏi có cấu trúc được thiết kế sẵn.
- Quan sát kín đáo thực tế về việc thực hiện vệ sinh tay của điều dưỡng, nữ hộ
sinh, kỹ thuật viên tại các khoa lâm sàng.
5.2. Xử lý và phân tích số liệu:
Sau mỗi ngày điều tra, nghiên cứu viên chính kiểm tra và làm sạch các
phiếu trả lời của NVYT, ghép cặp phiếu phát vấn và bảng kiểm quan sát. Mọi thông tin
được nhập liệu và phân tích bằng phần mềm SPSS 12.0.
Xác định tỷ lệ tuân thủ rửa tay:
Tỷ lệ tuân thủ rửa tay (%)=

Tỷ lệ sai sót trong quy trình rửa tay (%) =

Số cơ hội có rửa tay x 100
Số cơ hội cần phải rửa
Số người rửa tay sai quy trình x 100
Số người có rửa tay


lây nhiễm tay từ môi trường hoặc lây nhiễm cho môi trường do tay bẩn trong chăm sóc
người bệnh.
- Thực hiện vệ sinh tay với nước và xà phòng khi tay nhìn thấy vấy bẩn bằng mắt
thường hoặc sau khi tiếp xúc với máu và dịch tiết.
- Vệ sinh tay bằng dung dịch có chứa cồn khi tay không thấy bẩn bằng mắt
thường.
- Phải đảm bảo tay luôn khô hoàn toàn trước khi bắt đầu hoạt động chăm sóc
người bệnh.
- Phải vệ sinh tay ngay nếu đụng chạm tay vào bề mặt môi trường xung quanh
phòng ô nhiễm vật dụng và môi trường xung quanh do tay bẩn.
3. Xác định các yếu tố liên quan đến tuân thủ VST của NVYT
11


3.1 Tập huấn kiến thức RTTQ
-Tập huấn rửa tay hàng năm là rất có ích, giúp cập nhật kiến thức cho NVYT, giúp
NVYT hiểu được tầm quan trọng và nâng cao ý thức tuân thủ rửa tay thường quy nhiều
hơn.
3.2 Phương tiện thiết yếu cần trang bị cho mỗi vị trí rửa tay:
* Các buồng khám, buồng thủ thuật, buồng bệnh phải trang bị:
- Bồn rửa tay sạch có vòi nước có cần gạt;
- Nước sạch;
- Xà phòng bánh hoặc dung dịch rửa tay và giá đựng;
- Khăn lau tay sạch
* Các vị trí cần trang bị dung dịch vệ sinh tay có chứa cồn:
- Giường người bệnh nặng, người bệnh cấp cứu.
- Trên các xe tiêm, thay băng
- Bàn khám bệnh, xét nghiệm
- Cửa ra vào mỗi buồng bệnh.
Ngoài ra cần phải tăng cường kiểm tra giám sát, áp dụng hình thức khen thưởng

13


PHẦN IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1.Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu:
Bảng 4.1. Thông tin về tuổi, giới của đối tượng nghiên cứu:
Thông tin

Tuổi

Giới

Số lượng
(n = 48)

Tỷ lệ
(%)

≤ 29

19

40%

30 - 39

21

44%



Biểu đồ số liệu độ tuổi tham gia rửa tay thường quy tại các khoa lâm sàng
Nhận xét: qua biều đổ ta thấy, tại các khoa lâm sàng độ tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất
là trong khoảng 30 – 39 tuổi chiếm 44%, thấp nhất là trong khoảng 40 – 49 tuổi chiếm
4%.
Bảng 4.2. Thông tin về chức danh của đối tượng nghiên cứu
Chức danh
Điều dưỡng
KTV
Nữ hộ sinh
Tổng cộng

Số lượng
37
2
9
48

Tỷ lệ
77%
4.2%
18.8%
100%

Biểu đồ số liệu chức danh của nhóm nghiên cứu
15


Nhận xét: Nhóm điều dưỡng chiếm tỷ lệ cao nhất 77%, thứ hai là nhóm nữ hộ
sinh chiếm 18.8%, thấp nhất là nhóm KTV chiếm 4.2%.

học vấn

Biểu đồ số liệu về trình độ học vấn của ĐD, KTV, NHS tại các khoa lâm sàng
Nhận xét: Qua biều đồ ta thấy, trình độ trung cấp chiếm tỷ lệ cao nhất 56%, sau
đại học chiếm 0%, đại học chiếm 29%, cao đẳng chiếm 15%.
Bảng 4.4. Thông tin về thâm niên công tác của đối tượng nghiên cứu

Dưới 5 năm

Số lượng
(n = 48)
14

Tỷ lệ
(%)
29%

5 – 10 năm

26

54%

11 – 15 năm

0

16 – 20 năm

0

Bảng 4.5. Kiến thức về tác dụng của RTTQ
Tác dụng của RTTQ
1. Rửa tay thường quy trong
chăm sóc bệnh nhân nhằm để
tránh lây nhiễm giữa NVYT với
bệnh nhân
2. NVYT tuân thủ đúng quy
trình rửa tay sẽ làm giảm nguy
cơ nhiễm khuẩn ở người bệnh và
chính bản thân mình
3. Rửa tay đúng quy trình là

Đúng
Trước
Sau
100%

100%

100%

100%

88%

91,6%

Kết quả
Không biết
Trước


8.3%

12%

6.3%

17,6%

Biểu đồ hình cột so sánh kết quả “Đúng” về kiến thức RTTQ
Nhận xét: Qua biểu đồ ta thấy kiến thức về RTTQ của nhân viên y tế sau khi can
thiệp tập huấn và giám sát đã tăng lên đáng kể đặc biệt hiểu biết về tác dụng thứ (5) đã
tăng từ 82,4% lên 100%.
Bảng 3.6. Kiến thức về việc sắp xếp quy trình 6 bước RTTQ
Quy trình rửa tay

Đúng
Không đúng

Số lượng (n=48)
Trước
Sau
27
33
21
15

Tỷ lệ (%)
Trước
Sau


Số lượng
(n = 48)
Trước
Sau
1
13
8
34
40
7
36
5

3
43
2

Tỷ lệ
(%)
Trước
2%
27.%
71%

Sau
17%
83%

14.6%

dùng, bề mặt vùng xung
quanh bệnh nhân
Tổng

Số cơ hội
(240

48
48
48
48
48

240
(100%)

Số cơ hội được tuân
thủ

Số cơ hội không
tuân thủ

Trước

Sau

Trước

Sau


(4.17%)
19
(39.59%)

3
(6.25%)

9
(18.75%)

45
(93.75%)

39
(81.25%)

0

134
152
106
88
(55.83%) (63.33%) (44.17%) (36.67%)

20


Biểu đồ “Số cơ hội được tuân thủ” của NVYT theo 5 thời điểm của WHO

Biểu đồ “Số cơ hội không được tuân thủ” của NVYT theo 5 thời điểm của WHO


Biểu đồ thực hành RTTQ của NVYT
Nhận xét: Qua biểu đồ ta thấy tỷ lệ tuân thủ quy trình vệ sinh tay của nhân viên y tế sau
khi can thiệp yếu tố liên quan tăng khoảng 10% . Tuy nhiên tỷ lệ này còn thấp so với một
Số bệnh viện trong tỉnh.
4.4. Một số yếu tố liên quan đến sự tuân thủ RTTQ của NVYT:
4.4.1. Mối liên quan giữa thực hành rửa tay thường quy của nhân viên y tế với
chức danh và thâm niên công tác:
Bảng 4.10. Mối liên quan giữa thực hành RTTQ với chức danh
Thực hành
Chức danh
Điều dưỡng, y sỹ
KTV
NHS
Tổng

Chưa đạt
Trước
Sau
Trước
Sau
19
23
18
14
(51,35%) (62,16%) (48,65%) (37,84%)
1
1
1
1


9

18.8%

48

100%

22


Biểu đồ thực hành RTTQ “Đạt” theo chức danh
Nhận xét:

Biểu đồ thực hành RTTQ “Không đạt” theo chức danh
Nhận xét: Trong nghiên cứu, tỷ lệ điều dưỡng viên chiếm tỷ lệ cao nhất (77%),
nhưng tỷ lệ điều dưỡng viên thực hành rửa tay theo đúng quy định thấp chiếm 62,16%,
KTV thực hành rửa tay theo đúng quy định chiếm 50%, cao nhất là NHS chiếm 77,78
%.
Bảng 4.11. Mối liên quan giữa thực hành RTTQ với thời gian công tác

Thâm niên công
tác
Dưới 5 năm
5 – 10 năm
11 – 15 năm

Thực hành
Đạt

29%

26

54%

0
23


16 – 20 năm

0

21 – 25 năm

0

Trên 25 năm
Tổng

2
3
6
5
(25%)
(37.5%)
(75%)
(62.5%)
26


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status