Đánh giá kiến thức, thực hành tuân thủ vệ sinh bàn tay của nhân viên y tế tại khoa ngoại tiêu hóa bệnh viện trung ương huế - Pdf 19



§

TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y DƢỢC HUẾ
BỘ MÔN ĐIỀU DƢƠNG

Với tình cảm chân thành, chúng tôi xin trân trọng cám ơn Ban giám
hiệu, phòng Giáo vụ - công tác sinh viên, quý thầy cô trƣờng Đại học Y
Dƣợc Huế đã tận tình giảng dạy chúng tôi trong suốt thời gian học tập ở
trƣờng.
Đƣợc sự quan tâm giúp đỡ của bộ môn Điều dƣỡng Trƣờng Đại học
Y Dƣợc Huế, sự tận tình hƣớng dẫn của giáo viên và sự giúp đỡ nhiệt tình
của khoa Ngoại tiêu hóa Bệnh viện Trung ƣơng Huế, đề tài đƣợc tiến hành
và hoàn thành tốt đẹp. Tôi xin trân trọng cảm ơn:
- Bộ môn Điều dƣỡng trƣờng Đại học Y Dƣợc Huế.
- Thầy giáo hƣớng dẫn: ThS.BS. Trần đình Hậu giảng viên bộ môn
Điều dƣỡng Trƣờng Đại học Y Dƣợc Huế.
Nếu không có sự giúp đỡ quý báu đó, tiểu luận này khó đƣợc hoàn
thành.
Mặc dù bản thân đã hết sức cố gắng, song với năng lực bản thân và
thời gian có hạn, hơn nữa đây là lần đầu làm quen với công tác nghiên cứu
khoa học nên tiểu luận tốt nghiệp của tôi không tránh khỏi những thiếu sót.
Tôi rất mong đƣợc tiếp nhận những ý kiến đánh giá, bổ sung của quý Thầy
Cô giáo và các bạn để tiểu luận đƣợc tốt hơn.

Sinh viên
PHẠM VŨ THÚY HẰNG 3


bện viện. Rửa tay sẽ loại bỏ hầu hết các vi khuẩn có mặt ở bàn tay,do đó, có
tác dụng ngăn ngừa lan truyền mầm bệnh từ ngƣời bệnh này sang ngƣời
bệnh khác , từ ngƣời bệnh sang dụng cụ và nhân viên y tế, từ vị trí này sang
vị trí khác trên cùng một ngƣời bệnh và từ nhân viên y tế sang ngƣời bệnh .
Rửa tay là một biện pháp đơn giản và hiệu quả trong phòng chống Nhiểm
khuẩn bệnh viện. Rửa tay cũng là một biện pháp hữu ích nhằm đảm bảo an
toàn cho nhân viên y tế (NVYT) trong thực hành chăm sóc và điều trị ngƣời
bệnh. Vệ sinh bàn tay ở NVYT là cần thiết trong phòng chống và kiểm soát
Nhiểm khuẩn bệnh viện.
Theo Cục Y tế dự phòng chỉ một động tác rửa tay sạch đã làm giảm
tới 35% khả năng lây truyền vi khuẩn gây bệnh tiêu chảy. Nếu thực hiện tốt
quy trình rửa tay có thể giảm 50% các Nhiểm khuẩn bệnh viện.
Ở Việt Nam theo kết quả điều tra của Bộ y tế về sự tuân thủ các thực
hành chống nhiễm khuẩn tại các bệnh viện trung ƣơng năm 2003 cho thấy
tỷ lệ rửa tay trƣớc khi vào hoặc ra khỏi buồng bệnh là 17,1%, trƣớc khi
khám hoặc đụng chạm vào ngƣời bệnh là 6,1%: Khi chuyển công việc chăm
sóc từ ngƣời bệnh (NB) này sang NB kia là 13,4%.
Bệnh viện trung ƣơng Huế Công tác kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện
cũng là một trong những nội dung đƣợc lãnh đạo bệnh viện hết sức chú
trọng. Đầu tƣ cho các hoạt động kiểm soát nhiễm khuẩn, trực tiếp và vệ sinh
tay thực chất là đầu tƣ cho nâng cao chất lƣợng các dịch vụ y tế, an toàn
chất lƣợng ngày càng cao. Ngoài đầu tƣ nâng cấp cơ sở hạ tầng, trang thiết
bị và kinh phí cho khám chữa bệnh. Việc tăng cƣờng kiểm soát các hành vi
có liên quan đến NKBV ngày càng đƣợc quan tâm, đến nay chƣa có nghiên 5

cứu nào đánh giá thực trạng về kiến thức, thực hành của NVYT về vệ
sinh bàn tay. Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu:

viện
1.1. Lịch sử vệ sinh bàn tay trong phòng chống nhiễm khuẩn bệnh viện
Năm 1846, bằng phƣơng pháp thống kê và giám sát dịch tễ học tại bệnh
viên đa khoa thành phố viên. Ignaz Semmelweis, một bác sỹ sản khoa
ngƣời Hung-ga-ry thấy các sản phụ do sinh viên và bác sỹ đỡ đẻ có tỷ lệ tử
vong cao hơn các sản phụ do các nữ hộ sinh đỡ đẻ. Ông nhận thấy các thầy
thuốc đi thẳng từ phòng mổ tử thi tới nhà hộ sinh có mùi khó chịu bốc ra từ
bàn tay mặc dù đã rửa tay bằng nƣớc và xà phòng và rút ra kết luận là sốt
hậu sản ở rất nhiều sản phụ là do" các tiểu phần chêt" truyền từ phòng mổ
tử thi sang nhà hộ sinh qua bàn tay của sinh viên và bác sỹ. Từ nhận xét
này, năm 1847 ông đã đƣa ra chính sách rửa tay bắt buộc bằng dung dịch
clorin khi nhân viên y tế đỡ đẻ. Nhờ đó tỷ lệ tử vong do sốt hậu sản giảm từ
18,3% vào tháng 4/1847 xuống 2,2% vào tháng 6/1847[6]. Can thiệp của
Semmelweis lần đầu tiên chứng minh khử khuẩn bàn tay bị ô nhiễm bằng
một dung dịch khử khuẩn giữa các lần tiếp súc với bệnh nhân có thể làm
giảm lan truyền các bệnh nhiễm khuẩn liên quan đến chăm sóc và điều trị
hơn là rửa tay bằng nƣớc và xà phòng thƣờng.
Nhờ kết quả nghiên cứu của semmelweis, rửa tay dần trở nên đƣợc
chấp nhận nhƣ một biện pháp quan trọng nhất trong phòng ngừa lây truyền
các tác nhân gây nhiễm khuẩn bệnh viện.
Trong nửa thế kỷ qua, tại các nƣớc phát triển rửa tay và khử khuẩn
bàn tay luôn đƣợc coi là biện pháp vệ sinh quan trọng nhất trong phòng

7

chống nhiễm khuẩn bệnh viện. Nhờ vậy, cùng với sự phát triển của công tác
phòng chống nhiễm khuẩn trong bệnh viện, các quy định về thực hành vệ
sinh bàn tay cũng ngày càng hoàn thiện để phù hợp với yêu cầu thực tế.
Năm 2002, CDC Hoa kỳ yêu cầu các bệnh viện trên toàn nƣớc Mỹ
khuyến khích NVYT khử khuẩn tay bằng cồn trong mọi thao tác chăm sóc,

VSBT bằng hóa chất khử khuẩn nhƣ cồn hoặc chlorhexidine với thời gian
trên 3 phút nhằm loại bỏ các vi khuẩn này.
1.2.2.Vi khuẩn vãng lai
Loại vi khuẩn này xuất hiện ở bàn tay NVYT khi bàn tay bị ô nhiễm
từ bệnh nhân hoặc các đồ vật bẩn trong môi trƣờng bệnh viện (chăn, ga,
giƣờng,dụng cụ phƣơng tiện phục vụ ngƣời bệnh) trong quá trình chăm sóc
và điều trị. Các vi khuẩn vãng lai không có khả năng tự nhân lên nên không
tồn tại lâu trên da và có thể loại bỏ hầu hết các vi khuẩn này bằng biện pháp
vệ sinh bàn tay thƣờng quy (với nƣớc và xà phòng thƣờng hoặc trà sát tay
bằng dung dịch VSBT có cồn) [8].
Phổ vi khuẩn vãng lai gồm mọi vi sinh vật có mặt trong môi trƣờng
bệnh viện (Vi khuẩn,Vi rút,Ký sinh trùng ,Nấm) và là thủ phạm chính gây
Nhiểm khuẩn bệnh viện. Do vậy, vệ sinh bàn tay trƣớc và sau khi tiếp xúc
với mỗi NB là biện pháp đơn giản và quan trọng nhất trong phòng chống
nhiểm khuẩn bệnh viện.
Bàn tay khi tiếp xúc với bất kỳ bề mặt môi trƣờng nào cũng có thể bị
ô nhiễm Vi sinh vật. Các tác nhân gây nhiểm khuẩn bệnh viện không chỉ có
ở các vết thƣơng nhiễm khuẩn, ở các chất thải và các dịch cơ thể mà còn
thƣờng xuyên có mặt trên da lành của NB. Mức độ ô nhiễm bàn tay của
NVYT phụ thuộc vào loại thao tác sạch hay bẩn và thờì gian thực hiện thao
tác trên ngƣời bệnh [2].
1.3 Phƣơng thức lây truyền các tác nhân gây nhiểm khuẩn bệnh viện
qua bàn tay:
Trong quá trình chăm sóc và điều trị bệnh nhân, các vi sinh vật gây bệnh
có ở da , vất thƣơng, các dịch cơ thể, quần áo, vật dụng sinh hoặt của bệnh

9
nhân va của nhân viên y tế, qua yếu tố trung gian là bàn tay, có thể lan
truyền đến mọi nơi bàn tay đụng chạm tới.


các biện pháp hành chính nhƣ phê bình, khiển trách, khen thƣởng
Tóm lại, có rất nhiều yểu tố ảnh hƣởng đến tuân thủ vệ sinh bàn tay
của NVYT, do đó không có một biện pháp đơn lẻ nào có thể cải thiện và
duy trì tốt ý thức tuân thủ vệ sinh bàn tay ở NVYT mà cần thiết phải có sự
phối hợp đồng bộ nhiều biện pháp khác nhau .
11

Chƣơng 2
ĐỐI TƢỢNG, PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu:
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Những ngƣời trực tiếp tham gia khám, điều trị,
chăm sóc bệnh nhân, bao gồm; Bác sỹ, điều dƣỡng, hộ lý
- Tiêu chuẩn loại trừ : Những cán bộ y tế từ chối tham gia nghiên cứu.
Và cán bộ đang đi học
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu:
Địa điểm nghiên cứu: Tại khoa Ngoại tiêu hóa bệnh viện trung ƣơng huế
Thời gian nghiên cứu:Từ ngày 25/04 đến 14/05 năm 2011
Thời gian bắt đầu từ 7h 30 phút đến 10h 30 phút trong các ngày hành
chính
2.3 Phƣơng pháp nghiêng cứu và thu thập số liệu
- Điền vào phiếu trả lời bằng cách phát trực tiếp cho nhân viên

- Rửa tay nhanh bằng cồn (sát khuẩn tay nhanh): sử dụng cồn hoặc các hóa
chất sát khuẩn nhanh để rửa tay.
- Rửa tay bằng nƣớc và xà phòng: Sử dụng dung dịch xà phòng và nƣớc để
rửa tay, dung dịch xà phòng có chất sát khuẩn.
- Rửa tay bằng nƣớc: Không sử dụng hóa chất (Cồn, xà phòng ) để rửa
tay,chỉ rửa tay dƣới vòi nƣớc chảy. 13

- Các cơ hội rửa tay: Theo định nghĩa đƣợc mô tả thành các cơ hội cụ thể
nhƣ sau:
+ Vào một buồng bệnh
+ Rời khỏi buồng bệnh
+ Trƣớc khi tiến hành bất cứ một quy trình, thủ thuật nào trên bệnh nhân.
+ Sau khi thực hiện một quy trình hoặc thủ thuật trên bệnh nhân
+ Khi chuyển đổi quy trình, thủ thuật trên một bệnh nhân
+ Khi bàn tay bị nhiễm bẩn
+ Trƣớc khi đeo găng tay vô khuẩn
+ Sau khi tháo găng
+ Khi chuyển thăm khám, chăm sóc từ bệnh nhân này sang bệnh nhân khác
+ Sau khi xử lý các dụng cụ nhiễm bẩn
+ Sau khi tiếp xúc với bệnh phẩm, các chất tiết của ngƣời bệnh.
2.8. Những khó khăn và hạn chế của đề tài.
Nghiên cứu thực hành vệ sinh bàn tay chỉ tiến hành 189/240 nhân viên y
tế chƣa tiến hành trên toàn bệnh viện,
Nghiên cứu này chỉ thực hiện trong giờ hành chính, quan sát ngẫu nhiên
không thực hiện hết tại các thời điểm do vậy có thể phản ánh chƣa đầy đủ
về thực hành vệ sinh tay của NVYT toàn bệnh viện.

Biểu đồ 3.1 15
Bảng 3.2: Số nhân viên y tế phân bổ nhận thức theo chuyên môn
Biểu đồ3.2

100%
96%
83%
TL %
B SI
Ð D
TÐCM
H L

Bang3.3 sự phân bố nhân viên theo giới tính và tuổi
Bảng3.3: cho thấy số nhân viên y tế tham gia nghiên cứu về kiến
thức cơ bản về VSBT là 34 trong đó chủ yếu là nữ 28 còn nam 6


Tuổi
Giới
Số nhân
viên
<30
22
Nam
Nữ
>30
12
6
28
34

16 Bảng 3.4: Nhận thức của nhân viên y tế về thực hành VSBT tính theo từng
câu hỏi
Nội dung câu hỏi
Trả lời
đúng

Tỉ
lệ%
1. NVYT tuân thủ đúng quy trình, thời điểm VSBT có
thể làm giảm nhiễm khuẩn bệnh viện ở bệnh nhân?
32



91
Bảng 2 cho thấy NVYT nhận thức đúng về vai trò của mang găng không
phải là biện pháp thay thế cho rửa tay chỉ đạt 82%, đến 91% trở lên NVYT
nhận thức đúng về các câu hỏi còn lại 17

2. Nhận thức chung của nhân viên y tế về thực hành vệ sinh tay trƣớc và
sau mỗi lần thăm khám và chăm sóc bệnh nhân:
Bảng 3.5: Tỷ lệ tuân thủ rửa tay của NVYT ở các đối tƣợng khác nhau Bảng 3.5 cho thấy tỷ lệ VSBT của Bác sỹ là( 73%) thấp hơn tỷ lệ tuân thủ
VSBT của điều dƣỡng là 12%, Điều dƣỡng đạt (83%) . hộ lý tỷ lệ tuân thủ
thấp hơn nhiều so với Bác sỹ và Điều dƣỡng chỉ đạt 47%

73%
83%
47%
TL %
B SI
Ð D

quan sát
đƣợc
Số tuân thủ
Số không
tuân thủ
Tỷ lệ % tuân
thủ
BB NẶNG
57
52
5
91%
BB Chăm soc
thƣờng
78
62
16
79%

18

Qua bảng trên cho thấy nhận thức của nhân viên y tế có sự phân biệt, chú ý
nhiều đến buông bệnh nhân nặng hơn trong khâu vệ sinh bàn tay đạt 91%
cơ hội tuân thủ. Trong khi buồng bênh thƣờng chỉ đạt 79%
79%
91%
TL %
BBN
BCST
BB

Tiêm truyền
Thay băng
Hút đàm
giải
Tiêp xúc bệnh
nhân
Cơ hội quan sát
59
41
5
30
Cơ hội tuân thủ
51
35
4
25
% tuân thủ
86
85
80
83

86%
85%
80%
TL %
TT
TB
HÐG
83%

lý 6(18%) điều này cho thấy tỷ lệ NVYT là điều dƣỡng chiếm tỷ lệ rất cao
so với các đối tƣợng khác trong bệnh viện.
2.Kiến thức của nhân viên y tế về vệ sinh bàn tay:
Kết quả nghiên cứu đánh giá kiến thức của nhân viên y tế về vệ sinh bàn tay
thƣờng quy tại 10 bệnh viện khu vực phía bắc năm 2005 của Nguyễn Việt
Hùng và cộng sự báo cáo tại hội nghị khoa học chống nhiễm khuẩn lần 1 tại
thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ NVYT trả lời đúng tất cả các câu hỏi
về VSBT chỉ đạt 43,5%, không có sự khác biệt về kiến thức của NVYT về
VSBT khi tính theo tuổi, giới và trình độ chuyên môn.

21
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy nhận thức của nhân viên y tế về VSBT
tốt ở mọi đối tƣợng, lứa tuổi, giới, trình độ chuyên môn, thâm niên công tác
và giữa các khoa.
Tỷ lệ NVYT có kiến thức đúng về VSBT cao hơn, (82%) đã trả lời đúng tất
cả các câu hỏi, trong đó tỷ lệ điểm đạt của các câu hỏi là 96%, điều đó cho
thấy NVYT có kiến thức đúng về VSBT, họ đã hiểu rõ tầm quan trọng của
VSBT trong phòng chống nhiễm khuẩn bệnh viện, điều đó còn phản ánh
công tác giáo dục đào tạo, tập huấn cho NVYT các kiến thức cơ bản về
VSBT đã đƣợc đầu tƣ thoả đáng và rất có hiệu quả trong thời gian qua.
Từ kết quả trên cho thấy việc đào tạo, tập huấn thƣờng xuyên có tác dụng
nâng cao kiến thức của NVYT về VSBT do đó cần phải duy trì tốt công tác
đào tạo làm cơ sở cho việc tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật trong thực hành
kiểm soát NKBV.
3. Tuân thủ vệ sinh bàn tay ở nhân viên y tế và một số yếu tố liên quan
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tuân thủ vệ sinh bàn tay chung của
NVYT đạt 68%, trong đó điều dƣỡng có tỷ lệ tuân thủ VSBT(83%), Bác sỹ
đạt(73%) cao hơn (12%), kết quả này phù hợp với kết quả nghiên cứu của
Vũ Văn Giang về đánh giá hiệu quả của VSBT thƣờng quy trong phòng
chống nhiễm khuẩn bệnh viện thì điều dƣỡng là đối tƣợng có tỷ lệ tuân thủ

xúc bệnh nhân là 44,5%).
5.Mối liên quan giữa tuân thủ VSBT với các yểu tố.
- Đánh giá mối liên quan giữa tuổi giới với tuân thủ VSBT cho thấy tỷ lệ
tuân thủ VSBT ở tuổi <= 30 có tỷ lệ cao 22 nhân viên đƣợc khảo sát thì tới
82 cơ hội tuân thủ nhóm tuổi >30 là 12 nhân viên đƣợc khảo sát thì chỉ có
32 cơ hội tuân thủ sự khác biệt này chứng tỏ những ngƣời lớn tuổi chƣa
thay đổi đƣợc thói quen VSBT. Điều này cho thấy để thay đổi đƣợc thói

23

quen VSBT ở nhóm tuổi >30 cần phải có sự giám sát hỗ trợ thƣờng xuyên
hơn.
- Tỷ lệ tuân thủ vệ sinh bàn tay ở những buồng bệnh nặng đạt tỷ lệ cao hơn
ở buồng bệnh thƣờng là 12% chứng tỏ cho thấy ý thức của nhân viên về
chăm sóc bệnh nhân khá tốt đối với những nơi có nguy cơ cao về nhiễm
khuẩn bệnh viện

25 KIẾN NGHỊ
-Tăng cƣờng hƣớng dẫn có kỹ năng vệ sinh tay cho NVYT, truyền thông
giáo dục cho NVYT và ngƣời bệnh cùng tham gia vào việc tuân thủ vệ sinh
tay sễ giúp cho chăm sóc y tế an toàn hơn.
- Tăng cƣờng nhiều phƣơng tiện vệ sinh aty để NVYT có cơ hội thực hành
vệ sinh tay.
- tăng cƣờng giám sát tuân thủ vệ sinh tay tạo thói quen trong hoạt động
chăm sóc hàng ngày có ý nghĩa quyết định đến chất lƣợng chăm sóc y tế an
toàn cho ngƣời bệnh và NVYT.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status