Thực trạng về kiến thức và sự tuân thủ cơ hội vệ sinh bàn tay của người điều dưỡng tại BVĐK y học cổ truyền HN - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

NGUYỄN TRUNG ANH

Thực trạng về kiến thức và sự tuân thủ cơ hội vệ sinh bàn tay của người
điều dưỡng tại Bệnh viện đa khoa Y học cổ truyền Hà Nội

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y KHOA
Khóa 2011 – 2015

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
Ths.Bs. Trần Thị Thu Trang
Ths. Bùi Vũ Bình

HÀ NỘI – 2015


LỜI CẢM ƠN
Khóa luận tốt nghiệp là một trong những điều kiện để một sinh viên y
khoa tốt nghiệp và ra trường. Nhưng quan trọng hơn, đó còn là sự đánh dấu
cho bước khởi đầu trong sự nghiệp nghiên cứu khoa học, tìm hiểu những điều
chưa biết của thế giới quanh ta. Hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp cử nhân
y khoa này, tôi xin được gửi lời cảm ơn trân trọng đến:
Ban giám hiệu trường đại học Y Hà Nội
Phòng Đào Tạo Đại học trường Đại Học Y Hà Nội
Khoa Y học cổ truyền trường Đại Học Y Hà Nội
Ban Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Y học cổ truyền Hà Nội

BYT

Bộ Y tế

CDC

Centers for Disease Control Prevention
(Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh)

ĐD

Điều dưỡng

HSCC

Hối sức cấp cứu

HSCĐ

Hồi sức chống độc

NKBV

Nhiễm khuẩn bệnh viện

NVYT

Nhân viên y tế

PHCN

ĐẶT VẤN ĐỀ .................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU........................................................ 3
1.1. Nhiễm khuẩn bệnh viện ......................................................................... 3
1.2. Cơ sở khoa học của vệ sinh bàn tay ....................................................... 5
1.3. Tầm quan trọng của rửa tay ................................................................... 8
1.4. Các nghiên cứu về vệ sinh bàn tay của NVYT .................................... 10
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU......... 14
2.1. Đối tượng nghiên cứu .......................................................................... 14
2.2. Phương pháp nghiên cứu...................................................................... 14
2.3. Thời gian tiến hành nghiên cứu: .......................................................... 17
2.4. Địa điểm nghiên cứu ............................................................................ 17
2.5. Phương pháp nhập và xử lí số liệu ....................................................... 17
2.6. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu ........................................................ 17
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ................................................... 18
3.1. Đặc điểm về đối tượng nghiên cứu ...................................................... 18
3.2. Kiến thức về VSBT của đối tượng nghiên cứu .................................... 19
3.3 Tỷ lệ tuân thủ rửa tay của điều dưỡng viên .......................................... 25
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN ............................................................................ 27
4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu ......................................... 27
4.2. Kiến thức VSBT thường quy của điều dưỡng viên ............................. 27
4.3. Sự tuân thủ VSBT thường quy của điều dưỡng viên ........................... 29
4.4. Mối liên quan giữa cơ hội và phương thức rửa tay của NVYT ........... 36
KẾT LUẬN .................................................................................................... 38
KHUYẾN NGHỊ............................................................................................ 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC BẢNG


NKBV ngày càng được tăng cường, song NKBV vẫn chưa giảm. Các điều
tra liên quốc gia do các nước và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tiến hành cho
thấy NKBV ở các nước Châu Âu và khu vực Thái Bình Dương là từ 7,7%
đến 9% [2]. Năm 2009, ở Việt Nam, theo nghiên cứu được tiến hành tại 62
bệnh viện khu vực phía Bắc cho thấy, tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện là 7,8%,
các vị trí, các cơ quan hay gặp NKBV là: nhiễm khuẩn phổi (41,9%): nhiễm
khuẩn vết mổ (27,5%); nhiễm khuẩn tiết niệu (13,1%); các nhiễm khuẩn
khác (17,5%) [3].
Có nhiều phương thức lây truyền NKBV, tuy nhiên sự lây truyền qua
bàn tay nhân viên y tế (NVYT) là một trong những nguyên nhân hàng đầu
[4]. WHO đã khuyến cáo, rửa tay là biện pháp rẻ tiền và hiệu quả nhất để đề
phòng NKBV [1]. Nhiều nghiên cứu cũng khẳng định vệ sinh tay với dung
dịch sát khuẩn tay chứa cồn là biện pháp quan trọng nhất để dự phòng sự lây
truyền tác nhân gây bệnh trong cơ sở y tế.
Một nghiên cứu của Thụy Sĩ cho thấy: khi tỷ lệ tuân thủ rửa tay của
NVYT tăng từ 48% lên 66% thì tỷ lệ NKBV giảm từ 16,9% xuống còn
9.9% [5]. Tại Việt Nam, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 18/2009/TTBYT ngày 14 tháng 10 năm 2009 hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác
kiểm soát nhiễm khuẩn tại các cơ sở khám, chữa bệnh, trong đó đã quy
định thầy thuốc, NVYT, sinh viên/học sinh và người bệnh, người nhà
người bệnh khi đến bệnh viện phải rửa tay theo quy định và theo hướng
dẫn của cơ sở khám, chữa bệnh [6].


2

Bệnh viện Đa khoa Y học cổ truyền Hà Nội là đơn vị trực thuộc Sở y tế
Hà Nội. Trong những năm trước công tác kiểm soát nhiễm khuẩn của bệnh
viện đã được thực hiện và triển khai theo thông tư 18/2009/TT-BYT trong
công tác chăm sóc người bệnh. Chính vì vậy, đôi tay của người điều dưỡng
là rất quan trọng, là hàng đầu trong việc trực tiếp chăm sóc người bệnh. Tại

Theo thống kê của trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kì
(CDC) năm 2009, ước tính hàng năm Hoa Kì phải chi một số tiền cho việc
điều trị NKBV là từ 28 đến 48 tỷ USD [10] (tương đương từ 378.000 tỷ đến
816.000 tỷ đồng), cao hơn tổng ngân sách nhà nước Việt Nam chi cho Đầu tư
phát triển và phát triển kinh tế xã hội năm 2008 (494.600 tỷ đồng) [11]. Nhiều
nghiên cứu tiến hành tại các bệnh viện ở Hoa Kì cho thấy, NKBV kéo dài
thêm thời gian nằm viện trung bình từ 7,4 đến 9,4 ngày [12].
Người bệnh mắc NKBV đòi hỏi nhu cầu chăm sóc và điều trị cao hơn do đó
làm tăng áp lực công việc cho các NVYT vốn đã làm trong tình trạng quá tải.


4

1.1.2.2. Tăng sự kháng thuốc của vi sinh vật.
NKBV không những gây hậu quả nặng nề về mặt lâm sàng, kinh tế mà
còn là nguyên nhân làm tăng sự kháng thuốc của vi sinh vật, làm xuất hiện
những chủng vi khuẩn đa kháng kháng sinh là nguyên nhân dẫn đến tử vong
trong bệnh viện. Tại Đức, Italia và Bồ Đào Nha, tỷ lệ tử vong do NKBV lên
tới hơn 50% các trường hợp tử vong. Tại châu Á, các chủng loại vi khuẩn đa
kháng kháng sinh được xác định là nguyên nhân gây ra tử vong từ 70 – 805
trường hợp lây nhiễm trong bệnh viện. Theo giáo sư Xiao Yonghong của
viện dược lí lâm sàng của trường Đại học Bắc Kinh, tỷ lệ lây nhiễm MRSA
trong các bệnh viện Trung Quốc đã tăng từ 30 – 70% [13].
Ngoài ra, NKBV còn làm tăng tỷ lên tử vong và tăng các biến chứng
cho người bệnh. Các NKBV là nguyên nhân gây tử vong cho 99.000 người
bệnh tại Hoa Kì năm 2002 [10]. Không chỉ gây biến chứng nặng nề cho
người bệnh, là nguy cơ lây nhiễm cho NVYT, NKBV còn làm giảm chất
lượng điều trị và uy tín của bệnh viện [14].
1.1.3. Đường lây truyền nhiễm khuẩn bệnh viện
1.1.3.1. Truyền bệnh qua giọt bắn: Kính thước > 5micromet.

tiếp xúc với chất bài tiết của người bệnh.
+ Bàn tay NVYT ô nhiễm 100 khuẩn lạc sau các thao tác xoay trở bệnh
nhân, bắt mạch, đo huyết áp, đo nhiệt độ, động chạm vào người bệnh.
Sự ô nhiễm môi trường từ ban tay: bàn tay gây ô nhiễm khi động chạm
vào bất kì bề mặt nào trong buồng bệnh. Một số vi khuẩn và virus có thể
sống từ 20 phút đến hơn 2 giờ trên các bề mặt môi trường trong bệnh viện
1.2. Cơ sở khoa học của vệ sinh bàn tay
Trong suốt thế kỉ thứ XIX, ở Châu Âu và Mĩ, 25% bà mẹ sinh con tại
bệnh viện đã tử vong do sốt hậu sản. Năm 1943, bác sĩ Oliver Wendell
Holmes yêu cầu một bác sĩ của khoa sản (nơi ông làm việc) nghỉ việc một


6

tháng sau 2 trường hợp bà mẹ tử vong mà ông cho rằng liên quan đến vệ
sinh bàn tay của bác sĩ đó. Ý kiến đó của ông đã bị nhiều bác sĩ cùng thời
phản đối [2].
Vào những năm 1840, bác sĩ Ignaz Semmeelweis (1818-1865) công tác
tại bệnh viện đa khoa Vienne (Áo) khám phá ra sự khác biệt về tỷ lệ tử vong
ở các bà mẹ sau sinh con ở hai khoa sản của bệnh viện. Năm 1846,
Semmelveis nghiên cứu và thấy rằng tại hai khoa sản của bệnh viện, cùng
thực hành một kĩ thuật rửa tay. Khoa thứ nhất là khoa thực hành của nhân
viên y khoa, nơi mà chỉ có các bác sĩ và sinh viên y khoa làm việc có tỷ lệ tử
vong do sốt hậu sản là 13,10%, tỷ lệ này cao gấp gần 5 lần so với khoa thứ 2
là khoa hướng dẫn thực hành cho nữ hộ sinh (bao gồm các nữ hộ sinh và học
sinh hộ sinh) có tỷ lệ tử vong ở các bà mẹ sau sinh là 2,03%. Ông quan sát
và thấy rằng các bác sĩ và các sinh viên y khoa thường không rửa tay sau
mỗi lần thăm khám bệnh nhân, thậm chí sau khi mổ tử thi bệnh nhân. Ông
cho rằng nguyên nhân sốt hậu sản là do bàn tay không rửa của các bác sĩ và
các sinh viên y khoa chứa tác nhân gây bệnh. Ông đã đề xuất sử dụng dung

tế mắc bệnh viêm gan A do không rửa tay sau khi tiếp xúc với 1 trong 2
bệnh nhân viêm gan A [2].
Trong những năm 1975 và 1985, CDC đã xuất bản hướng dẫn chính
thức về thực hành rửa tay trong các bệnh viện. NVYT được khuyên cáo rửa
tay bằng xà phòng trung tính giữa các lần tiếp xúc với người bệnh và rửa tay
bằng xà phòng khử khuẩn trước và sau khi thước hiện các thủ thuật xâm lấn
hoặc khi chăm sóc người bệnh ở các khu vực có nguy cơ cao mắc NKBV.
Khử khuẩn bằng cồn được áp dụng ở những nơi không có bồn rửa tay [12].
Năm 2002, CDC yêu cầu các bệnh viện trên toàn nước Mỹ khuyến
khích NVYT khử khuẩn tay bằng dung dịch có chứa cồn trong mọi thao tác
chăm sóc, điều trị người bệnh [12]. Năm 2009, tuân thủ rửa tay được đưa
vào nội dung Thông tư 18/2009/BYT-TT hướng dẫn tổ chức thực hiện công
tác kiểm soát nhiễm khuẩn tại các cơ sở khám, chữa bệnh [6].


8

1.3. Tầm quan trọng của rửa tay
1.3.1. Bàn tay là vật trung gian truyền bệnh
Nhân viên y tế hằng ngày dùng bàn tay là công cụ để khám chữa bệnh
và chăm sóc người bệnh, do đó bàn tay của cán bộ y tế thường xuyên tiếp
xúc với da, máu, dịch sinh học và dịch tiết của người bệnh. Các vi khuẩn gây
bệnh từ bệnh nhân truyền qua tay của NVYT, làm cho bàn tay của NVYT là
nguồn chứa các vi khuẩn gây bệnh tiềm năng [1].
5 bước bàn tay phát tán mầm bệnh:
- Mầm bệnh định cư trên da người bệnh và bề mặt các đồ vật;
- Mầm bệnh bám vào da tay của NVYT;
- Mầm bệnh sống trên da tay của NVYT;
- Rửa tay ít dẫn đến da tay nhiễm khuẩn;
- Da tay nhiễm khuẩn phát tán mầm bệnh sang người bệnh hoặc đồ vật [1].

ngừa và giảm bớt tỷ lệ NKBV, từ năm 1996 Bộ Y tế đã ban hành Quy trình
rửa tay thường quy có minh họa bằng hình ảnh. Năm 2007, dựa trên hướng
dẫn mới nhất của Tổ chức Y tế Thế giới về phương pháp rửa tay thường quy
và sát khuẩn tay bằng dung dịch có chứa cồn, Bộ Y tế đã mời các chuyên gia
y tế và chuyên gia kiểm soát nhiễm khuẩn sửa đối quy trình cho phù hợp với
điều kiện của Việt Nam và ban hành công văn số 7517/BYT-Đtr ngày 12
tháng 10 năm 2007 đề nghị các Sở Y tế, các đơn vị tổ chức cho cán bộ, nhân
viên bệnh viện học tập và thực hiện theo hướng dẫn mới và theo quy trình
rửa tay bằng hình ảnh ở những vị trí thuận lợi để NVYT thực hiện theo quy
định [20]. Năm 2009, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư 18/2009/TT-BYT:
Hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác KSNK tại các cơ sở khám, chữa bệnh.
Điều 1 của Thông tư quy định “Thầy thuốc, NVYT, học sinh, sinh viên thực
tập tại các cơ sở khám chữa bệnh phải tuân thủ rửa tay theo đúng chỉ định
và đúng quy trình kỹ thuật theo hướng dẫn của Bộ Y tế. Người bệnh và


10

người nhà người bệnh, khách đến thăm phải rửa tay theo quy định và hướng
dẫn của cơ sở khám, chữa bệnh” [6].
Các thời điểm NVYT bắt buộc phải rửa tay bao gồm:
(1) Trước khi tiếp xúc với bệnh nhân
(2) Trước khi làm thủ thuật vô khuẩn
(3) Sau khi tiếp xúc với bệnh nhân
(4) Sau khi tiếp xúc với máu và dịch thể cơ thể của bệnh nhân
(5) Sau khi tiếp xúc với môi trường xung quanh bệnh nhân.
Quy trình VSBT của NVYT với nước và xà phòng hoặc dung dịch sát
khuẩn tay có chứa cồn gồm 6 bước như hình vẽ sau:

1.4. Các nghiên cứu về vệ sinh bàn tay của NVYT

cực của nhóm NVYT có trình độ học vấn cao và nhóm nữ, lớn tuổi cao hơn
một cách có ý nghĩa so với các nhóm khác. Trong nghiên cứu này tỉ lệ tuân
thủ rửa tay của NVYT tại thời điểm trước khi chăm sóc người bệnh đạt 60%


12

và sau khi chăm sóc người bệnh đạt 72,5%. Tỉ lệ này ở nhóm nữ NVYT cao
hơn một cách có ý nghĩa so với các nhóm khác [24].
1.4.2. Nghiên cứu tại Việt Nam
Theo điều tra về tình hình thực hiện các biện pháp dự phòng cơ bản tại
bệnh viện Bạch Mai và một số bệnh viện khu vực phía Bắc được công bố
ngày 17/3/2007. Tại bệnh viện Bạch Mai: chỉ có 2,6% nhân viên y tế rửa tay
thường quy trước khi thăm khám bệnh nhân và 4,2% rửa tay thường quy
trước khi chuyển từ thao tác bẩn sang thao tác sạch trên cùng một bệnh nhân.
Tỷ lệ rửa tay thường quy trong ngày của các NVYT còn quá thấp, chỉ 3 – 5
lần/ngày [25]. Thạc sĩ Trần Đức Mục – Phó Vụ trưởng Vụ điều trị (bộ Y tế)
cho biết chỉ có 17% NVYT ở Việt Nam rửa tay thường quy thường xuyên và
đúng cách [26].
Kết quả khảo sát trong năm 2009 tại 29 khoa lâm sàng thuộc khối ngoại,
sản, cấp cứu của 9 bệnh viện tuyến Trung ương và các tỉnh khu vực phía Bắc
cho thấy: hơn 58% NVYT không trả lời đúng các câu hỏi về VSBT [25].
Còn trong lễ phát động “Bàn tay sạch” được tổ chức tại bệnh viện Nhi
Trung ương, 300 NVYT có mặt đều không nắm được quy trình rửa tay
thường quy do bộ Y tế quy định. Những NVYT làm sai quy trình đều không
cảm thấy gò bó khi được yêu cầu thực hiện lại [27].
Nghiên cứu về việc tuân thủ rửa tay thường quy tại bệnh viện Saint Paul và
Thanh Nhàn năm 2007 cho thấy, tỷ lệ bác sĩ và điều dưỡng không rửa tay lần
nào chiếm tỷ lệ 58,3%. Tỷ lệ NVYT rửa tay khi có cơ hội chỉ là 12,2%. [28].
Khoảng 10 năm trở lại đây, vệ sinh bàn tay của NVYT được chú trọng


CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Tất cả điều dưỡng viên đang làm công tác trực tiếp chăm sóc người
bệnh tại 9 khoa lâm sàng của Bệnh viện đa khoa Y học cổ truyền Hà Nội
2.1.1. Cơ mẫu
n = 61.
2.1.2. Tiêu chuẩn chọn đối tượng
Là điều dưỡng viên đang làm công tác chăm sóc trực tiếp người bệnh
tại các khoa lâm sàng.
2.1.3. Tiêu chuẩn loại trừ
- Điều dưỡng trưởng
- Điều dưỡng viên đang trong thời gian nghỉ phép.
- Học viên
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang
2.2.2 Công cụ nghiên cứu
- Bộ phiếu nghiên cứu đã được thiết kế sẵn (phần phụ lục)
- Biểu mẫu 1: Bộ phiếu câu hỏi điều tra về kiến thức về VSBT.
- Biểu mẫu 2: Giám sát sự tuân thủ VSBT khi thực hiện chăm sóc
người bệnh.
- Phương tiện thực hiện VSBT thường quy: nước và hóa chất tại các
khoa lâm sàng


15

2.2.3. Chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp đánh giá

cùng một người bệnh.


16

- Mối liên quan giữa tỷ lệ tuân thủ rửa tay với một số yếu tố:
+ Nhóm khoa: 3 nhóm
 Nhóm 1: Sản, Ngoại, HSCĐ
 Nhóm 2: Nội, Nhi, Lão, Ngũ quan
 Nhóm 3: PHCN, Châm cứu
+ Thời gian trong ngày: sáng/chiều
- Đánh giá bằng quan sát trực tiếp điều dưỡng thực hiện các thao tác CSBN
trong buồng bệnh, trong giờ làm việc hành chính theo hai ca sáng, chiều.
- Đối với mỗi thao tác cần VSBT, điều dưỡng chỉ được ghi nhận có
VSBT thường quy khi rửa tay bằng nước xà phòng/dung dịch khử khuẩn
hoặc khử khuẩn tay bằng cồn/dung dịch sát khuẩn tay nhanh.
- Khi thực hiện nhiều thao tác kế tiếp nhau trong buồng bệnh. Một lần thực
hiện VSBT sẽ được tính thành hai: sau thao tác này và trước thao tác kế tiếp.
- Số cơ hội VSBT được tính bằng tổng số cơ hội khi tiếp xúc với bệnh
nhân và chuẩn bị dụng cụ.
- Cơ hội VSBT khi tiếp xúc với bệnh nhân gồm: trước và sau mỗi thao
tác chăm sóc người bệnh với các thủ thuật không xâm lấn: tiêm, truyền, thay
băng, xét nghiệm, phát thuốc, đo dấu hiệu sinh tồn…
- Số lần tuân thủ VSBT cũng được tính tương tự.
- Thực hiện khảo sát sau khi thông báo với với phòng điều dưỡng về
quy trình thực hiện nghiên cứu, không thông báo với đối tượng nghiên cứu
để tránh sai số khi khảo sát.
- Tổng số lượng cơ hôi VSBT được tính bằng số lượng cơ hội quan sát
trực tiếp điều dưỡng viên CSBN trong buồng bệnh, trong giờ làm việc hành
chính theo hai ca sáng, chiều, trong thời gian tiến hành nghiên cứu.


%

≤ 35 tuổi

48

78,6

> 35 tuổi

13

21,3

̅
X ± SD

32,6 ± 8,9

Nhận xét: Tuổi trung bình các điều dưỡng viên tham gia nghiên cứu là
32,6±8,9 tuổi, trong đó độ tuổi ≤ 35 tuổi chiếm tỷ lệ cao hơn 78,6% (48/61)
3.1.2. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới
Bảng 3.2: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới
Giới

n

%


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status