THỰC TRẠNG về KIẾN THỨC và sự TUÂN THỦ cơ hội vệ SINH bàn TAY của NGƯỜI điều DƯỠNG tại BỆNH VIỆN đa KHOA y học cổ TRUYỀN hà nội - Pdf 56

B GIO DC V O TO

B Y T

TRNG I HC Y H NI

NGUYN TRUNG ANH

THựC TRạNG Về KIếN THứC Và Sự TUÂN
THủ CƠ HộI
Vệ SINH BàN TAY CủA NGƯờI ĐIềU DƯỡNG
TạI BệNH VIệN ĐA KHOA Y HọC Cổ TRUYềN
Hà NộI

KHểA LUN TT NGHIP C NHN Y KHOA
Khúa 2011 2015

NGI HNG DN KHOA HC
Ths.Bs. Trn Th Thu Trang
Ths. Bựi V Bỡnh


HÀ NỘI – 2015

LỜI CẢM ƠN
Khóa luận tốt nghiệp là một trong những điều kiện để một sinh viên y
khoa tốt nghiệp và ra trường. Nhưng quan trọng hơn, đó còn là sự đánh dấu
cho bước khởi đầu trong sự nghiệp nghiên cứu khoa học, tìm hiểu những điều
chưa biết của thế giới quanh ta. Hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp cử nhân
y khoa này, tôi xin được gửi lời cảm ơn trân trọng đến:
Ban giám hiệu trường đại học Y Hà Nội



DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BYT
CDC
ĐD
HSCC
HSCĐ
NKBV
NVYT
PHCN
RTTQ
TTRT
VSBT
VSV
WHO
CSNB

Bộ Y tế
Centers for Disease Control Prevention
(Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh)
Điều dưỡng
Hối sức cấp cứu
Hồi sức chống độc
Nhiễm khuẩn bệnh viện
Nhân viên y tế
Phục hồi chức năng
Rửa tay thường quy
Tuân thủ rửa tay
Vệ sinh bàn tay

khác (17,5%) [3].
Có nhiều phương thức lây truyền NKBV, tuy nhiên sự lây truyền qua
bàn tay nhân viên y tế (NVYT) là một trong những nguyên nhân hàng đầu
[4]. WHO đã khuyến cáo, rửa tay là biện pháp rẻ tiền và hiệu quả nhất để đề
phòng NKBV [1]. Nhiều nghiên cứu cũng khẳng định vệ sinh tay với dung
dịch sát khuẩn tay chứa cồn là biện pháp quan trọng nhất để dự phòng sự lây
truyền tác nhân gây bệnh trong cơ sở y tế.
Một nghiên cứu của Thụy Sĩ cho thấy: khi tỷ lệ tuân thủ rửa tay của
NVYT tăng từ 48% lên 66% thì tỷ lệ NKBV giảm từ 16,9% xuống còn
9.9% [5]. Tại Việt Nam, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 18/2009/TTBYT ngày 14 tháng 10 năm 2009 hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác
kiểm soát nhiễm khuẩn tại các cơ sở khám, chữa bệnh, trong đó đã quy
định thầy thuốc, NVYT, sinh viên/học sinh và người bệnh, người nhà
người bệnh khi đến bệnh viện phải rửa tay theo quy định và theo hướng
dẫn của cơ sở khám, chữa bệnh [6].


9

Bệnh viện Đa khoa Y học cổ truyền Hà Nội là đơn vị trực thuộc Sở y tế
Hà Nội. Trong những năm trước công tác kiểm soát nhiễm khuẩn của bệnh
viện đã được thực hiện và triển khai theo thông tư 18/2009/TT-BYT trong
công tác chăm sóc người bệnh. Chính vì vậy, đôi tay của người điều dưỡng
là rất quan trọng, là hàng đầu trong việc trực tiếp chăm sóc người bệnh. Tại
bệnh viện chưa có nghiên cứu về thực trạng kiến thức về và tỷ lệ tuân thủ vệ
sinh đôi bày tay của điều dưỡng viên. Do đó chúng tôi tiến hành thực hiện đề
tài “ Thực trạng về kiến thức và sự tuân thủ cơ hội vệ sinh bàn tay của
người điều dưỡng tại Bệnh viện đa khoa Y học cổ truyền Hà Nội.” với
hai mục tiêu:
1. Mô tả kiến thức về vệ sinh bàn tay của người điều dưỡng tại Bệnh
viện đa khoa Y học cổ truyền Hà Nội năm 2014-2015.

Người bệnh mắc NKBV đòi hỏi nhu cầu chăm sóc và điều trị cao hơn do đó
làm tăng áp lực công việc cho các NVYT vốn đã làm trong tình trạng quá tải.


11

1.1.2.2. Tăng sự kháng thuốc của vi sinh vật.
NKBV không những gây hậu quả nặng nề về mặt lâm sàng, kinh tế mà
còn là nguyên nhân làm tăng sự kháng thuốc của vi sinh vật, làm xuất hiện
những chủng vi khuẩn đa kháng kháng sinh là nguyên nhân dẫn đến tử vong
trong bệnh viện. Tại Đức, Italia và Bồ Đào Nha, tỷ lệ tử vong do NKBV lên
tới hơn 50% các trường hợp tử vong. Tại châu Á, các chủng loại vi khuẩn đa
kháng kháng sinh được xác định là nguyên nhân gây ra tử vong từ 70 – 805
trường hợp lây nhiễm trong bệnh viện. Theo giáo sư Xiao Yonghong của
viện dược lí lâm sàng của trường Đại học Bắc Kinh, tỷ lệ lây nhiễm MRSA
trong các bệnh viện Trung Quốc đã tăng từ 30 – 70% [13].
Ngoài ra, NKBV còn làm tăng tỷ lên tử vong và tăng các biến chứng
cho người bệnh. Các NKBV là nguyên nhân gây tử vong cho 99.000 người
bệnh tại Hoa Kì năm 2002 [10]. Không chỉ gây biến chứng nặng nề cho
người bệnh, là nguy cơ lây nhiễm cho NVYT, NKBV còn làm giảm chất
lượng điều trị và uy tín của bệnh viện [14].
1.1.3. Đường lây truyền nhiễm khuẩn bệnh viện
1.1.3.1. Truyền bệnh qua giọt bắn: Kính thước > 5micromet.
Khi hắt hơi, ho, nói. Phát tán gần (< 1m). Chiếm xấp xỉ 9% các loại NKBV.
1.1.3.2. Truyền bệnh qua không khí: Kích thước < 5micromet
Vi khuẩn có thể phát tán xa và lan truyền trong không khí. Chiếm xấp
xỉ 1% các loại NKBV.
1.1.3.3. Truyền bệnh qua tiếp xúc trực tiếp, gián tiếp với da, với dịch cơ thể
Chủ yếu phát tán qua bàn tay hoặc dụng cụ y tế. chiếm trên 90% các loại NKBV:
- Bệnh nhân nhiễm khuẩn hoặc mang vi khuẩn định cư


13

1.2. Cơ sở khoa học của vệ sinh bàn tay
Trong suốt thế kỉ thứ XIX, ở Châu Âu và Mĩ, 25% bà mẹ sinh con tại
bệnh viện đã tử vong do sốt hậu sản. Năm 1943, bác sĩ Oliver Wendell
Holmes yêu cầu một bác sĩ của khoa sản (nơi ông làm việc) nghỉ việc một
tháng sau 2 trường hợp bà mẹ tử vong mà ông cho rằng liên quan đến vệ
sinh bàn tay của bác sĩ đó. Ý kiến đó của ông đã bị nhiều bác sĩ cùng thời
phản đối [2].
Vào những năm 1840, bác sĩ Ignaz Semmeelweis (1818-1865) công tác
tại bệnh viện đa khoa Vienne (Áo) khám phá ra sự khác biệt về tỷ lệ tử vong
ở các bà mẹ sau sinh con ở hai khoa sản của bệnh viện. Năm 1846,
Semmelveis nghiên cứu và thấy rằng tại hai khoa sản của bệnh viện, cùng
thực hành một kĩ thuật rửa tay. Khoa thứ nhất là khoa thực hành của nhân
viên y khoa, nơi mà chỉ có các bác sĩ và sinh viên y khoa làm việc có tỷ lệ tử
vong do sốt hậu sản là 13,10%, tỷ lệ này cao gấp gần 5 lần so với khoa thứ 2
là khoa hướng dẫn thực hành cho nữ hộ sinh (bao gồm các nữ hộ sinh và học
sinh hộ sinh) có tỷ lệ tử vong ở các bà mẹ sau sinh là 2,03%. Ông quan sát
và thấy rằng các bác sĩ và các sinh viên y khoa thường không rửa tay sau
mỗi lần thăm khám bệnh nhân, thậm chí sau khi mổ tử thi bệnh nhân. Ông
cho rằng nguyên nhân sốt hậu sản là do bàn tay không rửa của các bác sĩ và
các sinh viên y khoa chứa tác nhân gây bệnh. Ông đã đề xuất sử dụng dung
dịch nước vôi trong (chứa chlorine) để rửa tay vào thời điểm chuyển tiếp sau
mổ tử thi sang thăm khám bệnh nhân. Tỷ lệ tử vong vủa các bà mẹ đã giảm
từ 12,24% xuống còn 2,38%. Tuy nhiên, tại thời điểm đó, nhiều người cho
rằng khuyến cáo rửa tay giữa những lần tiếp xúc với người bệnh của
Semmelveis là quá nhiều và không bác sĩ nào chấp nhận đôi bàn tay của họ
chính là nguyên nhân gây tử vong hậu sản. Một số khác thì cho rằng kết quả
nghiên cứu của ông là thiếu bằng chứng khoa học [2].

Khử khuẩn bằng cồn được áp dụng ở những nơi không có bồn rửa tay [12].


15

Năm 2002, CDC yêu cầu các bệnh viện trên toàn nước Mỹ khuyến
khích NVYT khử khuẩn tay bằng dung dịch có chứa cồn trong mọi thao tác
chăm sóc, điều trị người bệnh [12]. Năm 2009, tuân thủ rửa tay được đưa
vào nội dung Thông tư 18/2009/BYT-TT hướng dẫn tổ chức thực hiện công
tác kiểm soát nhiễm khuẩn tại các cơ sở khám, chữa bệnh [6].
1.3. Tầm quan trọng của rửa tay
1.3.1. Bàn tay là vật trung gian truyền bệnh
Nhân viên y tế hằng ngày dùng bàn tay là công cụ để khám chữa bệnh
và chăm sóc người bệnh, do đó bàn tay của cán bộ y tế thường xuyên tiếp
xúc với da, máu, dịch sinh học và dịch tiết của người bệnh. Các vi khuẩn gây
bệnh từ bệnh nhân truyền qua tay của NVYT, làm cho bàn tay của NVYT là
nguồn chứa các vi khuẩn gây bệnh tiềm năng [1].
5 bước bàn tay phát tán mầm bệnh:
- Mầm bệnh định cư trên da người bệnh và bề mặt các đồ vật;
- Mầm bệnh bám vào da tay của NVYT;
- Mầm bệnh sống trên da tay của NVYT;
- Rửa tay ít dẫn đến da tay nhiễm khuẩn;
- Da tay nhiễm khuẩn phát tán mầm bệnh sang người bệnh hoặc đồ vật
[1].
Trong một nghiên cứu được thực hiện ngẫu nhiên trên 77 bàn tay của
NVYT tại bện viện Chợ Rẫy- TP HCM cho kết quả, trung bình có 276,378
vi khuẩn/cm², trong đó: bàn tay của bác sĩ chứa 275,110 vi khuẩn/cm², bàn
tay điều dưỡng có chứa 126,875 vi khuẩn/cm² [1].
1.3.2. Hiệu quả của rửa tay và mối liên quan với nhiễm khuẩn
bệnh viện

điều kiện của Việt Nam và ban hành công văn số 7517/BYT-Đtr ngày 12
tháng 10 năm 2007 đề nghị các Sở Y tế, các đơn vị tổ chức cho cán bộ, nhân
viên bệnh viện học tập và thực hiện theo hướng dẫn mới và theo quy trình


17

rửa tay bằng hình ảnh ở những vị trí thuận lợi để NVYT thực hiện theo quy
định [20]. Năm 2009, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư 18/2009/TT-BYT:
Hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác KSNK tại các cơ sở khám, chữa bệnh.
Điều 1 của Thông tư quy định “Thầy thuốc, NVYT, học sinh, sinh viên thực
tập tại các cơ sở khám chữa bệnh phải tuân thủ rửa tay theo đúng chỉ định
và đúng quy trình kỹ thuật theo hướng dẫn của Bộ Y tế. Người bệnh và
người nhà người bệnh, khách đến thăm phải rửa tay theo quy định và hướng
dẫn của cơ sở khám, chữa bệnh” [6].
Các thời điểm NVYT bắt buộc phải rửa tay bao gồm:
(1) Trước khi tiếp xúc với bệnh nhân
(2) Trước khi làm thủ thuật vô khuẩn
(3) Sau khi tiếp xúc với bệnh nhân
(4) Sau khi tiếp xúc với máu và dịch thể cơ thể của bệnh nhân
(5) Sau khi tiếp xúc với môi trường xung quanh bệnh nhân.
Quy trình VSBT của NVYT với nước và xà phòng hoặc dung dịch sát
khuẩn tay có chứa cồn gồm 6 bước như hình vẽ sau:


18

1.4. Các nghiên cứu về vệ sinh bàn tay của NVYT
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu được thực
hiện tại các bệnh viện nhằm đánh giá tỷ lệ tuân thủ rửa tay của NVYT.

thủ rửa tay của NVYT tại thời điểm trước khi chăm sóc người bệnh đạt 60%
và sau khi chăm sóc người bệnh đạt 72,5%. Tỉ lệ này ở nhóm nữ NVYT cao
hơn một cách có ý nghĩa so với các nhóm khác [24].
1.4.2. Nghiên cứu tại Việt Nam
Theo điều tra về tình hình thực hiện các biện pháp dự phòng cơ bản tại
bệnh viện Bạch Mai và một số bệnh viện khu vực phía Bắc được công bố
ngày 17/3/2007. Tại bệnh viện Bạch Mai: chỉ có 2,6% nhân viên y tế rửa tay
thường quy trước khi thăm khám bệnh nhân và 4,2% rửa tay thường quy
trước khi chuyển từ thao tác bẩn sang thao tác sạch trên cùng một bệnh nhân.
Tỷ lệ rửa tay thường quy trong ngày của các NVYT còn quá thấp, chỉ 3 – 5
lần/ngày [25]. Thạc sĩ Trần Đức Mục – Phó Vụ trưởng Vụ điều trị (bộ Y tế)
cho biết chỉ có 17% NVYT ở Việt Nam rửa tay thường quy thường xuyên và
đúng cách [26].


20

Kết quả khảo sát trong năm 2009 tại 29 khoa lâm sàng thuộc khối ngoại,
sản, cấp cứu của 9 bệnh viện tuyến Trung ương và các tỉnh khu vực phía Bắc
cho thấy: hơn 58% NVYT không trả lời đúng các câu hỏi về VSBT [25].
Còn trong lễ phát động “Bàn tay sạch” được tổ chức tại bệnh viện Nhi
Trung ương, 300 NVYT có mặt đều không nắm được quy trình rửa tay
thường quy do bộ Y tế quy định. Những NVYT làm sai quy trình đều không
cảm thấy gò bó khi được yêu cầu thực hiện lại [27].
Nghiên cứu về việc tuân thủ rửa tay thường quy tại bệnh viện Saint Paul và
Thanh Nhàn năm 2007 cho thấy, tỷ lệ bác sĩ và điều dưỡng không rửa tay lần
nào chiếm tỷ lệ 58,3%. Tỷ lệ NVYT rửa tay khi có cơ hội chỉ là 12,2%. [28].
Khoảng 10 năm trở lại đây, vệ sinh bàn tay của NVYT được chú trọng
hơn tại Việt Nam, do đó đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến vấn đề này.
Năm 2005, nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng và cộng sự đã thực hiện

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Tất cả điều dưỡng viên đang làm công tác trực tiếp chăm sóc người
bệnh tại 9 khoa lâm sàng của Bệnh viện đa khoa Y học cổ truyền Hà Nội
2.1.1. Cơ mẫu
n = 61.
2.1.2. Tiêu chuẩn chọn đối tượng
Là điều dưỡng viên đang làm công tác chăm sóc trực tiếp người bệnh
tại các khoa lâm sàng.
2.1.3. Tiêu chuẩn loại trừ
- Điều dưỡng trưởng
- Điều dưỡng viên đang trong thời gian nghỉ phép.
- Học viên
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang
2.2.2 Công cụ nghiên cứu
- Bộ phiếu nghiên cứu đã được thiết kế sẵn (phần phụ lục)
- Biểu mẫu 1: Bộ phiếu câu hỏi điều tra về kiến thức về VSBT.
- Biểu mẫu 2: Giám sát sự tuân thủ VSBT khi thực hiện chăm sóc người
bệnh.
- Phương tiện thực hiện VSBT thường quy: nước và hóa chất tại các khoa lâm
sàng


23

2.2.3. Chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp đánh giá
2.2.3.1. Điểm kiến thức về VSBT
Đánh giá qua phỏng vấn điều dưỡng bằng bộ câu hỏi đã được lập sẵn, thực


24

- Mối liên quan giữa tỷ lệ tuân thủ rửa tay với một số yếu tố:
+ Nhóm khoa: 3 nhóm
• Nhóm 1: Sản, Ngoại, HSCĐ
• Nhóm 2: Nội, Nhi, Lão, Ngũ quan
• Nhóm 3: PHCN, Châm cứu
+ Thời gian trong ngày: sáng/chiều
- Đánh giá bằng quan sát trực tiếp điều dưỡng thực hiện các thao tác CSBN trong
buồng bệnh, trong giờ làm việc hành chính theo hai ca sáng, chiều.
- Đối với mỗi thao tác cần VSBT, điều dưỡng chỉ được ghi nhận có VSBT
thường quy khi rửa tay bằng nước xà phòng/dung dịch khử khuẩn hoặc khử
khuẩn tay bằng cồn/dung dịch sát khuẩn tay nhanh.
- Khi thực hiện nhiều thao tác kế tiếp nhau trong buồng bệnh. Một lần thực hiện
VSBT sẽ được tính thành hai: sau thao tác này và trước thao tác kế tiếp.
- Số cơ hội VSBT được tính bằng tổng số cơ hội khi tiếp xúc với bệnh nhân và
chuẩn bị dụng cụ.
- Cơ hội VSBT khi tiếp xúc với bệnh nhân gồm: trước và sau mỗi thao tác
chăm sóc người bệnh với các thủ thuật không xâm lấn: tiêm, truyền, thay
băng, xét nghiệm, phát thuốc, đo dấu hiệu sinh tồn…
- Số lần tuân thủ VSBT cũng được tính tương tự.
- Thực hiện khảo sát sau khi thông báo với với phòng điều dưỡng về quy trình
thực hiện nghiên cứu, không thông báo với đối tượng nghiên cứu để tránh
sai số khi khảo sát.
- Tổng số lượng cơ hôi VSBT được tính bằng số lượng cơ hội quan sát trực
tiếp điều dưỡng viên CSBN trong buồng bệnh, trong giờ làm việc hành
chính theo hai ca sáng, chiều, trong thời gian tiến hành nghiên cứu.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status